Krzysztof Penderecki là nhà soạn nhạc, nhạc trưởng người Ba Lan. Là một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất, được nghe nhiều nhất và phổ biến nhất vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, Krzysztof Penderecki đã trải qua một sự tiến triển rõ rệt trong phong cách sáng tác. Sau khi đạt được danh tiếng với các tác phẩm nghiêm khắc và thường mang tính khổ não như Threnody to the Victims of Hiroshima (Điếu ca cho những nạn nhân Hiroshima, 1965) và Passion According to St. Luke (Khổ hình của Chúa Kitô theo thánh Luke, 1965), cả hai đều mở rộng ngôn ngữ hòa âm truyền thống và các kỹ thuật dàn nhạc, bắt đầu từ giữa những năm 1970 , Penderecki đã tuân theo thôi thúc cá nhân khi chuyển sang thứ âm nhạc có âm điệu mang tính quy ước hơn. Bản Giao hưởng số 2 của ông ôm chứa các khái niệm tiền 12 âm (pre-serialist) về giai điệu và hòa âm. Việc ông khám phá ra một ngôn ngữ truyền thống hơn, được miêu tả như là trường phái Tân-Lãng mạn (Neo-Romanticism) tiếp tục là đặc trưng trong các tác phẩm ông viết sau đó. Trong sự nghiệp của mình Penderecki đã giành được vô số giải thưởng uy tín. Vào năm 2012, Sean Michaels của tờ The Guardian gọi ông là “nhà soạn nhạc vĩ đại nhất còn tại thế của Ba Lan”.

Sinh ngày 23 tháng 11 năm 1933 tại Dębica, Ba Lan, Krzysztof Penderecki bắt đầu học sáng tác dưới sự chỉ dạy của Franciszek Skolyszewski. Sau đó ông theo học tại Nhạc viện Krakow dưới sự hướng dẫn của Artur Malawski và Stanislaw Wiechowicz. Ông tốt nghiệp năm 1958 rồi được bổ nhiệm làm giáo sư tại Nhạc viện. Từ năm 1966 đến năm 1968, Penderecki là giảng viên tại Đại học Âm nhạc Dân gian (Volkwang Hochschule für Musik) ở Essen, Đức. Năm 1968, ông nhận được học bổng từ Tổ chức trao đổi học thuật Đức – DAAD. Ông được bổ nhiệm làm giám đốc Nhạc viện Krakow năm 1972.

Krzysztof Penderecki ra mắt công chúng quốc tế lần đầu vào năm 1959 tại Liên hoan Mùa thu Warsaw. Tại đó, ông biểu diễn Strophen, một trong ba tác phẩm mà nhờ đó ông nhận được giải nhất tại Cuộc thi Nhà soạn trẻ quốc gia lần thứ hai. Hai tác phẩm còn lại là Psalms of DavidEmanations.

Năm 1959, ông sáng tác Threnody (Điếu ca) dành cho các nạn nhân của Hiroshima. Với tác phẩm này, một trong những tác phẩm được biết đến nhiều nhất và được trình diễn thường xuyên nhất của ông, ông đã nhận được giải thưởng của UNESCO. Sau tác phẩm này là một loạt thành công: năm 1960 tại Liên hoan âm nhạc Donaueschinger với Anaklasis; năm tiếp theo với Polymorphia, PhonogramsPsalm; và năm 1966 với St. Luke Passion, tác phẩm lớn đầu tiên trong sự nghiệp của ông. Tác phẩm này được Đài phát thanh Tây Đức ở Cologne đặt hàng để kỷ niệm 700 năm Nhà thờ Munster, trong đó tác phẩm được công diễn lần đầu vào ngày 30 tháng 3 năm 1966. Có thể nói đây là ngày “đổi đời” của Penderecki – buổi biểu diễn đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp của Penderecki khi khiến ông trở thành nghệ sĩ được hoan nghênh nhất kể từ Igor Stravinsky.

Năm tiếp theo chứng kiến việc sáng tác và biểu diễn một tác phẩm hợp xướng lớn khác, Dies Irae, còn được gọi là Oratorio Auschwitz.

Vào những năm 1968-69, Penderecki viết vở opera đầu tiên, The Devils of Loudun (Ác quỷ của Loudun), theo đặt hàng của Nhà hát Opera bang Hamburg, nơi vở có buổi công diễn quốc tế lần đầu vào năm 1969. Kể từ đó, tác phẩm này đã được dàn dựng nhiều lần, được phát thanh, truyền hình và phát hành bản thu âm. Utrenya là tác phẩm lớn tiếp theo của Penderecki. Phần đầu tiên của tác phẩm này, The Entombment of Christ (Chôn cất Chúa Kitô), được công diễn lần đầu tại Nhà thờ Altenberger vào năm 1970; phần thứ hai, The Resurrection of Christ (Chúa Kitô phục sinh), được công diễn lần đầu một năm sau tại Nhà thờ Munster. Cũng trong năm 1790 ông viết một tác phẩm thanh nhạc khác cho Liên Hợp Quốc, bản cantata Cosmogonia. Buổi công diễn lần đầu tác phẩm này có sự hiện diện của các tổng thống, các hoàng gia và các thủ tướng, tác phẩm được hết lời ca ngợi là một tác phẩm xuất sắc và vô cùng độc đáo. Năm 1971, ông sáng tác De natura sonoris số 2 cho Zubin Mehta. Tác phẩm dựa trên một tác phẩm cùng tên, được sáng tác năm 1966.

Vào năm 1972 Penderecki bắt đầu sự nghiệp chỉ huy dàn nhạc. Kể từ năm đó, ông đã hiện diện trên bục chỉ huy của các dàn nhạc quan trọng nhất trên thế giới. Trong những năm từ 1972 đến 1978, Krzysztof Penderecki là giáo sư tại Trường Âm nhạc Đại học Yale.

Penderecki hoàn thành bản Giao hưởng số 1 vào năm 1973 và đích thân chỉ huy buổi công diễn lần đầu trên thế giới tại Peterborough, nước Anh. Ngoài ra, ông cũng sáng tác Canticum Canticorum Salomonis. Và ông đã viết Magnificat, một trong những tác phẩm quan trọng nhất của mình cho giọng bass, tốp ca, hai dàn hợp xướng hỗn hợp, dàn hợp xướng nam thiếu nhi cùng dàn nhạc. Tác phẩm được viết dành cho lễ kỉ niệm tròn 12 thế kỉ của Nhà thờ lớn Salzburg, và đích thân Penderecki đã chỉ huy buổi công diễn lần đầu trên thế giới tại Liên hoan Salzburg năm 1974.

Tác phẩm sân khấu thứ hai của Penderecki, Paradise Lost (Thiên đường đã mất) – vở Sacra Rappresentazione (một thể loại opera còn gọi là azione sacra) dựa trên libretto của Christopher Fry theo thiên anh hùng ca cùng tên của Milton. Tác phẩm có buổi công diễn lần đầu tại Nhà hát Opera Lyric ở Chicago vào ngày 29 tháng 11 năm 1978. Vào tháng 1 năm 1979, Penderecki chỉ huy một dàn dựng sân khấu vở Paradise Lost tại Teatro alla Scala ở Milan và theo lời mời từ Đức Giáo hoàng John Paul II, ông đã tổ chức một buổi hòa nhạc tại Vatican. Buổi công diễn lần đầu trên thế giới bản Concerto cho violin và dàn nhạc số 1 của Pendereck diễn ra tại Basle vào tháng 4 năm 2017 với Isaac Stern là nghệ sĩ độc tấu. Zubin Mehta đã chỉ huy buổi biểu diễn lần đầu bản Giao hưởng số 2 tại New York vào ngày 1 tháng 5 năm 1980, và tại các liên hoan Salzburg và Lucerne trong chuyến lưu diễn châu Âu.

Te Deum, được viết vào năm 1979/1980 cho giọng hát, dàn hợp xướng và dàn nhạc, được Penderecki chỉ huy tại buổi công diễn lần đầu trên thế giới tại Assisi vào mùa hè năm 1980. Năm 1981, tác phẩm được biểu diễn ở New York, Berlin, Warsaw và Paris. Vào ngày 11 tháng 1 năm 1983, Penderecki chỉ huy buổi công diễn lần đâu bản Concerto cho cello và dàn nhạc số 2 do Mstislav Rostropovich độc tấu cùng dàn nhạc Berlin Philharmonic. Tiếp theo là bản Concerto cho viola và dàn nhạc, được công diễn lần đầu trên thế giới vào ngày 24 tháng 7 năm 1983 tại Caracas và Polish Requiem (Requiem Ba Lan). Bản Requiem được công diễn lần đầu vào ngày 28 tháng 9 năm 1984 và được Đài phát thanh Würtemberg và Nhà hát Quốc gia đặt hàng để kỉ niệm tròn 40 năm ngày kết thúc Thế chiến II. Kể từ đó tác phẩm hợp xướng lớn này đã vang lên trong nhiều phòng hòa nhạc quốc tế.

Buổi công diễn lần đầu trên thế giới vở opera thứ ba của Penderecki, The Black Mask (Mặt nạ đen), dựa trên vở kịch của Gerhart Hauptmann, là tâm điểm chú ý tại Liên hoan Salzburg năm 1986. Ngay sau đó là các buổi biểu diễn ở Vienna và buổi công diễn lần đầu ở Hoa Kỳ đã diễn ra tại nhà hát Opera Santa Fe vào mùa hè năm 1988.

Vào tháng 3 năm 1987, Song of Cherubim (Bài ca Cherubim) viết cho hợp xướng cappella của Penderecki được công diễn lần đầu tại một gala hòa nhạc được tổ chức tại Washington D.C. nhân dịp sinh nhật lần thứ 60 của Mstislav Rostropovich. Veni Creator, cũng viết cho hợp xướng cappella, được đích thân Penderecki chỉ huy khi ông nhận bằng tiến sĩ danh dự của Đại học Madrid vào tháng 4 năm 1987. Cùng năm đó, ông nhận được Giải thưởng Karl-Wolf từ Quỹ tài trợ Wolf của Israel.

Năm 1988, Penderecki được nhận Giải Grammy nhờ bản Concerto cho cello số 2 do hãng ERATO thu âm với M. Rostropovich là nghệ sĩ độc tấu. Vào tháng 11 năm 1989, Lorin Maazel đã chỉ huy bản Giao hưởng số 4: Adagio của Penderecki do chính phủ Pháp đặt hàng cho lễ kỉ niệm tròn 200 năm Cách mạng Pháp.

Buổi công diễn lần đầu vở opera thứ tư của Penderecki, King Ubu (Vua Ubu, dựa trên vở kịch cùng tên của Alfred Jarry), diễn ra vào ngày 6 tháng 7 năm 1991 tại Nhà hát Opera Quốc gia Munich. Buổi công diễn lần đầu bản Sinfonietta của Penderecki đã diễn ra tại Warsaw vào ngày 16 tháng 2 năm 1992 với Dàn nhạc Sinfonia Varsovia dưới sự chỉ huy của chính tác giả. Trong cùng một ngày tháng 5/1992, tác phẩm này vừa được các nghệ sĩ của Dàn nhạc Giao hưởng Philadelphia trình diễn vừa được trình diễn tại Seville trong Triển lãm thế giới năm 1992 (World Expo ’92). Trước đó không lâu, một tác phẩm khác có tên Benedicamus Domino dành cho giọng nam và hợp xướng cappella đã được công diễn lần đầu vào tháng 4 năm 1992 tại Liên hoan Âm nhạc Phục sinh ở Lucerne.

Bản Giao hưởng số 5 của Penderecki có buổi công diễn lần đầu trên thế giới vào ngày 15 tháng 8 năm 1992 tại Seoul. Năm 1992, Penderecki đã hoàn thành bản Concerto cho flute và đề tặng Jean-Pierre Rampal – buổi công diễn lần đầu diễn ra vào ngày 11 tháng 1 năm 1993 tại Lausanne với Jean-Pierre Rampal độc tấu flute cùng Dàn nhạc thính phòng Lausanne dưới sự chỉ huy của nhà soạn nhạc. Vào tháng 8 năm 1992, Penderecki đã hoàn thành bản Benedictus viết cho hợp xướng cappella dành cho Maestro Lorin Maazel. Buổi công diễn lần đầu phần “Sanctus”, phần cuối cùng trong Polish Requiem của Penderecki diễn ra vào tháng 11 năm 1993 với Dàn nhạc giao hưởng hoàng gia Stockholm.

Năm 1995, Penderecki hoàn thành bản Concerto violin số 2 viết cho Anne Sophie Mutter. Tác phẩm được công diễn lần đầu vào tháng 6 năm 1995 tại Leipzig cùng Dàn nhạc MDR do Mariss Jansons chỉ huy. Tháng 12 năm 1995 chứng kiến buổi công diễn lần đầu bản Giao hưởng số 3 đã hoàn thành của Penderecki, được biểu diễn tại Munich cùng Dàn nhạc giao hưởng Munich dưới sự chỉ huy của nhà soạn nhạc.

Vào tháng 12 năm 1996 Krzysztof Penderecki hoàn thành tác phẩm mới Seven Gates of Jerusalem (Bảy cánh cổng Jerusalem) được dùng để khép lại lễ kỷ niệm 3000 năm của Jerusalem. Buổi công diễn lần đầu trên thế giới của tác phẩm này được tổ chức vào ngày 9 tháng 1 năm 1997 tại Jerusalem. Vào tháng 2 năm 1997, tác giả được trao Giải thưởng Pha lê tại Davos, Thụy Sĩ. Buổi công diễn lần đầu trên thế giới bản Hymn to St. Daniil của Penderecki diễn ra vào ngày 4 tháng 10 năm 1997 tại Moscow. Tác phẩm được Kênh 6 – Đài truyền hình Moscow đặt hàng để kỉ niệm 850 thành phố Moscow. Penderecki viết Hymn to St. Adalbert để kỉ niệm tròn thiên niên kỷ của Gdańsk và tác phẩm được công diễn lần đầu vào ngày 18 tháng 10 năm 1997. Buổi công diễn lần đầu trên thế giới bản Credo diễn ra vào tháng 7 năm 1998 tại Liên hoan Bach ở Eugene, Oregon. Buổi công diễn lần đầu ở châu Âu tác phẩm này được tổ chức như một phần của Liên hoan Penderecki Krzysztof vào ngày 5 tháng 10 năm 1998 tại Krakow, Ba Lan.

Năm 1999, Krzysztof Penderecki nhận được hai giải Grammy ở hạng mục Sáng tác nhạc cổ điển đương đại hay nhất (bản Concerto violin số 2 – “Metamorphosen” do Anne-Sophie Mutter biểu diễn) và ở hạng mục Trình diễn nhạc cụ độc tấu hay nhất (Concerto violin số 2 của Penderecki dưới sự chỉ huy của tác giả). Vào ngày 23 tháng 1 năm 2000, Krzysztof Penderecki nhận được giải “Nhà soạn nhạc hay nhất còn tại thế” tại Midem Classic ở Cannes và vào tháng 10 năm 2000, ông nhận bằng tiến sĩ danh dự của Đại học Luzern.

Bản Sonata cho violin và piano của Penderecki đã được Anne-Sophie Mutter và Lambert Orkis trình diễn tại Barbican, London vào ngày 29 tháng 4 năm 2000. Bản Sextet (Lục tấu) do Musikverein đặt hàng, được công diễn lần đầu vào ngày 7 tháng 6 năm 2000 tại Musikverein ở Vienna qua các tay đàn Mstislav Rostropovich, Yuri Bashmet, Julian Rachlin, Dmitry Alexeev, Radovan Vlatkovic và Paul Meyer.

Vào tháng 1 năm 2001, ông hoàn thành bản Concerto Grosso số 1 viết cho ba cello, được các nghệ sĩ Boris Pergamenschikow, Han-Na Chang và Truls Mørk công diễn lần đầu vào tháng 6 năm 2001 tại Tokyo dưới sự chỉ huy của Charles Dutoit. Vào ngày 26 tháng 10 năm 2001, ban giám khảo của Quỹ Asturias đã trao cho ông Giải Hoàng thân xứ Asturias về Nghệ thuật năm 2001. Vào ngày 7 tháng 12, Krzysztof Penderecki trở thành thành viên danh dự của Học viện nghệ thuật biểu diễn Hồng Kông tại Hồng Kông. Bản Concerto piano của ông, do Carnegie Hall đặt hàng, được Emanuel Axe và Dàn nhạc Philadelphia dưới sự chỉ huy của Wolfgang Sawallisch công diễn lần đầu vào ngày 9 tháng 5 năm 2002.

Penderecki là nhạc trưởng khách mời chính của Dàn nhạc Đài phát thanh Bắc Đức ở Hamburg và Dàn nhạc giao hưởng đài phát thanh Trung Đức ở Leipzig. Năm 1987-1990, ông là giám đốc nghệ thuật của Dàn nhạc giao hưởng Krakow và năm 1992-2002 là giám đốc nghệ thuật của Liên hoan Casals ở San Juan, Puerto Rico. Vào tháng 9 năm 1997, Krzysztof Penderecki trở thành giám đốc âm nhạc của Dàn nhạc giao hưởng Varsovia. Từ năm 1998, ông là cố vấn nghệ thuật cho Liên hoan âm nhạc Bắc Kinh và từ tháng 10 năm 2000 là nhạc trưởng khách mời của Dàn nhạc giao hưởng Trung Quốc mới thành lập. Krzysztof Penderecki bắt đầu năm kỉ niệm 2003 bằng việc chỉ huy một buổi hòa nhạc tại National Philharmonic ở Warsaw cùng dàn nhạc Sinfonia Varsovia. Chương trình bao gồm bản Concerto grosso, Sinfonietta per archi và Giao hưởng số 9 của Dvořák.

Vào ngày 19-20 tháng 6 năm 2005 tại Vienna, có buổi công diễn lần đầu bản Largo cho cello và dàn nhạc của Penderecki, một tác phẩm được Musikverein đặt hàng và được đề tặng Mstislav Rostropovich. Tác phẩm được Mstislav Rostropovich trình tấu cùng Dàn nhạc giao hưởng Vienna dưới sự chỉ huy của Seiji Ozawa. Ngày 26 tháng 6 năm 2005 tại Luxembourg chứng kiến buổi công diễn lần đầu Giao hưởng số 8 (Bài ca vô thường) viết cho các giọng soprano, mezzo-soprano và baritone cùng Dàn hợp xướng EuropaChorAkademie và Dàn nhạc giao hưởng Luxembourg do Bramwell Tovey chỉ huy. Tác phẩm do chính phủ Luxembourg đặt hàng để đánh dấu lễ khánh thành Phòng hòa nhạc giao hưởng Josephine Charlotte mới xây dựng.

Năm 2005 Krzysztof Penderecki đã được trao tặng Huân chương Đại bàng trắng – huân chương cao quý nhất của Ba Lan và năm 2006, ông nhận được Huân chương Ba sao ở Latvia.

Vào mùa thu năm 2007, nhà soạn nhạc trở thành Giáo sư danh dự của Nhạc viện quốc gia Rimski- Korsakov St. Petersburg và năm 2008 trở thành Giáo sư danh dự của Nhạc viện quốc gia Yerevan Komitas.

Vào ngày 5 tháng 5 năm 2008 tại Bremen, dưới sự chỉ huy của chính tác giả, Dàn nhạc giao hưởng Bremen cùng nghệ sĩ độc tấu Radovan Vlatković đã công diễn lần đầu bản Concerto cho kèn horn và dàn nhạc của Krzysztof Penderecki.

Buổi công diễn lần đầu bản Ciaccona cho violin và viola diễn ra vào ngày 9 tháng 9 năm 2009 tại Liên hoan Julian Rachlin và bè bạn ở Dubrovnik.

Vào ngày 14 tháng 4 năm 2008, Krzysztof Penderecki nhận giải “Orly 2008” nhờ âm nhạc ông viết cho bộ phim Katyń của Andrzej Wajda.

Năm 2009, Krzysztof Penderecki nhận được Huân chương công trạng Đại công tước Luxemburg và Huân chương danh dự từ Tổng thống Cộng hòa Armenia. Năm 2009, Krzysztof Penderecki sáng tác Kaddish để kỷ niệm 65 năm ngày giải thể khu Ghetto Łódź.

Krzysztof Penderecki đã được mời tham gia Ủy ban danh dự của Lễ kỷ niệm tròn 200 năm ngày sinh Chopin vào năm 2010 tại Đại sứ quán Cộng hòa Ba Lan ở Lisbon, Tokyo và Rome.

Vào năm 2010, để đánh dấu tròn 200 năm ngày sinh Fryderyk Chopin, Penderecki đã viết A sea of dreams did breathe on me (Một biển mộng mơ đã thổi vào tôi)… các ca khúc về mộng mơ và hoài nhớ dành cho giọng soprano, mezzo-soprano và baritone. Vào năm 2010, Hội những người bạn âm nhạc Vienna (Hiệp hội âm nhạc) đã đặt ông viết một tác phẩm để kỷ niệm 200 năm thành lập Hiệp hội âm nhạc tại Vienna – bản Concerto dành cho violin và viola. Vào ngày 22 tháng 10 năm 2012, Dàn nhạc đài phát thanh Bavaria, Janine Jansen (violin) và Julian Rachlin (viola) dưới sự chỉ huy của Mariss Jansons đã công diễn tác phẩm này tại Vienna. Cũng các nghệ sĩ đó đã trình diễn tác phẩm lần đầu tại Đức vào ngày 15 và 16 tháng 11 tại Munich. Tác phẩm được thu âm cho đài phát thanh BR-Klassik. Buổi trình diễn lần đầu tại Ba Lan được tổ chức vào ngày sinh nhật thứ 79 của nhà soạn nhạc ở Poznań. Krzysztof Penderecki đã chỉ huy Dàn nhạc giao hưởng Poznań với các nghệ sĩ độc tấu Fumiaki Miura (violin) và Julian Rachlin (viola). Phiên bản mới vở opera The Devils of Loudun của Krzysztof Penderecki được công diễn lần đầu tại Copenhagen vào ngày 12 tháng 2 năm 2013.

Vào ngày 29 tháng 3 năm 2020, Krzysztof Penderecki qua đời tại nhà riêng ở Kraków, Ba Lan sau một thời gian dài lâm bệnh. Nghệ sĩ violin Anne-Sophie Mutter đau xót bày tỏ: “Việc Krzysztof Penderecki mất đi đã để lại một khoảng trống lớn trong trái tim tôi cũng như một khoảng trống lớn cho tất cả các nghệ sĩ và người yêu âm nhạc trên toàn cầu.”

Ngọc Anh (nhaccodien.info)