CHƯƠNG XI – KHỞI ĐẦU TẠI NHÀ HÁT OPÉRA

 

Cái chết, thứ ập dến tấn công vào tình cảm thân thương nhất của tôi khi cướp đi mẹ tôi, cũng đã cướp đi mẹ của người vợ thân yêu của tôi. Vậy nên suốt mùa hè năm tiếp theo chúng tôi sống trong ngôi nhà buồn rầu tang tóc ở Fontainebleau.

Ký ức về hai người đã khuất vẫn lởn vởn trong đầu óc chúng tôi khi tôi hay tin về cái chết đột ngột vào ngày 5 tháng 6 của Bizet – người từng là một người bạn đầy tình cảm chân thành và sâu sắc mà tôi kính ngưỡng dù tôi chỉ kém anh vài tuổi.

Cuộc sống đã rất nghiệt ngã với anh. Cảm nhận được mình là ai, anh có thể tin vào tương lai vinh quang sẽ sống mãi sau khi anh qua đời; nhưng Carmen nổi tiếng hơn bốn mươi năm qua này với những người chịu trách nhiệm phát xét nó dường như là một tác phẩm chứa đựng những cái hay dẫu có phần chưa hoàn thiện, và cả – cái mà người ta đã không nói khi đó – một đề tài phóng đãng nguy hiểm!…

Thật là một bài học cho những phán xét quá vội vàng!… Khi trở về Fontainebleau sau lễ tang rầu rĩ, tôi cố gắng tiếp tục cuộc sống bằng cách soạn nhạc cho Vua Lahore, công việc đã khiến tôi bận rộn trong nhiều tháng.

Mùa hè năm đó đặc biệt nóng nực và mệt mỏi. Tôi suy nhược đến mức một ngày nọ, khi một cơn giông khủng khiếp nổi lên, tôi cảm thấy cơ thể rã rời và để mình chìm vào giấc ngủ.

Tuy nhiên, nếu cơ thể thiếp ngủ như vậy thì trái lại tâm trí tôi không hề ngưng hoạt động: nó dường như chưa bao giờ ngừng làm việc. Quả thực các ý tưởng của tôi dường như đã tận dụng sự tạm lắng vô tình do tự nhiên áp đặt này để tự sắp xếp. Tôi đã nghe thấy, như trong một giấc mơ, màn thứ ba, Thiên đường của thần Indra, được biểu diễn trên sân khấu Nhà hát Opéra!… Màn trình diễn nhuần nhuyễn choán đầy đầu óc tôi. Ngoài ra theo như tôi thấy về sau, hiện tượng này còn lặp lại với tôi trong một vài dịp khác.

Tôi chưa bao giờ dám hi vọng như vậy. Hôm ấy và những ngày tiếp theo, tôi bắt đầu viết phác thảo phối khí cảnh thiên đường đó.

Trong giai đoạn này tôi vẫn tiếp tục dạy học khá nhiều ở Paris, công việc mà tôi thấy rất áp lực và căng thẳng.

Từ lâu tôi đã có thói quen dậy sớm. Tôi soạn nhạc từ bốn giờ sáng đến tận trưa và việc dạy học chiếm mất sáu tiếng buổi chiều. Hầu hết các buổi tối được dành cho phụ huynh học sinh của tôi. Tại nhà họ, chúng tôi nghe nhạc, được chiều chuộng và khoản đãi! Suốt đời mình tôi đã quen soạn nhạc vào buổi sáng và hiện giờ tôi vẫn duy trì việc đó…

Sau mùa đông và mùa xuân ở Paris, chúng tôi trở lại Fontainebleau trong ngôi nhà yên tĩnh và thanh bình của gia đình. Ở đó, vào đầu mùa hè năm 1876, tôi hoàn thành tổng phổ hoàn chỉnh của Vua Lahore đã được khởi thảo từ mấy năm trước.

Hoàn thành một tác phẩm chính là từ biệt niềm hạnh phúc khôn tả mà lao động sáng tác mang lại cho tác giả!…

Tôi đã có trên bàn mình 1.100 trang tổng phổ dàn nhạc cùng bản chuyển soạn cho piano mà tôi vừa hoàn thành.

Tác phẩm này sẽ ra sao? Tôi băn khoăn lo lắng. Nó sẽ có lúc được dàn dựng chăng? Quả là nó được viết cho một nhà hát lớn. Đây chính là trở ngại, là điểm mù trong tương lai…

Vào mùa đông trước tôi làm quen với Charles Grandmougin, một thi sĩ có tâm hồn dễ rung động. Người ngợi ca tuyệt hay Những cuộc dạo chơi cuối cùng [Dernieres Promenades] và người hát rong say sưa của quê hương Pháp đã viết cho tôi kịch bản oratorio bốn màn: Đức mẹ Đồng trinh [La Vierge].

Tôi chẳng phút nào có thể để tâm trí mình nhàn rỗi và ngay lập tức phổ nhạc cho những câu thơ tuyệt đẹp của Grandmougin. Tại sao lại để sự chán nản đắng cay nảy mầm ở đó? Các con thân yêu ơi, cha sẽ kể cho các con sau. Vấn đề là tôi không thể chịu đựng thêm nữa. Tôi nhất thiết muốn gặp lại Paris; tôi thấy dường như mình sẽ thoát khỏi cơn khủng hoảng yếu đuối mình đang chịu đựng mà không nhận thức rõ lắm.

Vậy là vào ngày 26 tháng 7, tôi đi Paris với ý định quấy rầy Hartmann bằng cách thú nhận với anh tình trạng rối loạn của mình.

Tôi không tìm thấy anh ở nhà. Để giết thời gian, tôi lững thững tới Nhạc viện. Một cuộc thi violon đang diễn ra tại đó. Lúc tôi đến nơi, người ta đang nghỉ giải lao mười phút. Tôi nhân cơ hội này đến chào thầy Ambroise Thomas của mình trong phòng khách lớn ngay trước lô dành cho giám khảo.

Vì cái chốn từng náo nhiệt một cách rất thú vị này hiện nay lại là một nơi vắng vẻ bị bỏ mặc cho một mục đích khác, nên các con thân yêu ơi, cha sẽ miêu tả lại nơi lưu trú mà khi xưa cha đã lớn lên và sống trong nhiều năm.

Người ta tới phòng khách, mà tôi vừa nhắc đến, bằng một cầu thang lớn dẫn vào tiền sảnh có những cây cột. Đến chiếu nghỉ, người ta trông thấy hai bức tranh khổ lớn của các họa sĩ Đế chế thứ nhất.

Cửa trước mở vào một căn phòng được trang trí bằng một lò sưởi lớn và được chiếu sáng qua trần nhà bằng kính theo phong cách những ngôi đền cổ.

Đồ nội thất theo phong cách Napoléon I.

Một cánh cửa mở vào lô của giám đốc Nhạc viện, đủ rộng để chứa khoảng chục con người, một số ngồi bên chiếc bàn trải thảm xanh; những người khác ngồi hoặc đứng bên các bàn riêng.

Khán phòng lớn của Nhạc viện, nơi tổ chức các cuộc thi, được trang trí theo phong cách Pompeii, hài hòa với phòng khách mà tôi nhắc đến ở trên.

Ambroise Thomas đang tì tay vào lò sưởi. Khi trông thấy tôi, thầy mỉm cười vui vẻ, dang rộng cánh tay để tôi lao vào và nói với tôi với một vẻ nhẫn nhịn ngọt ngào: “Hãy nhận lấy, đó là nấc thang đầu tiên!”

– Con phải nhận cái gì cơ?, tôi hỏi thầy.
– Vậy anh chưa biết ư? Họ trao huân chương cho anh từ hôm qua.

Khi ấy vị tổng thư ký danh giá của Nhạc viện, Émile Réty, liền tháo dải ruy băng khỏi khuyết áo của mình rồi luồn nó vào khuyết áo của tôi với không ít khó khăn. Ông phải nới rộng khuyết áo của tôi bằng một con dao cạo giấy sẵn có trên bàn giám khảo, gần cái tráp đựng bút mực của ngài chủ tịch!

Cụm từ “nấc thang đầu tiên” chẳng phải là rất tinh tế và mang tính khích lệ sâu sắc hay sao?

Giờ thì tôi chỉ nóng lòng muốn gặp nhà xuất bản của mình.

Tôi phải thú nhận một cảm giác tự thân đã đi vào nhãn thức của tôi đến mức cũng xứng hợp với tính cách của tôi. Nhìn bề ngoài tôi vẫn còn khá trẻ và tôi cảm thấy rất ngượng nghịu với dải ruy băng có vẻ rực sáng và thu hút mọi ánh nhìn! Các con thân yêu ơi, chẳng phải là các con tha thứ cho cha về lời thú nhận ngây thơ dù không nực cười lắm này bởi cha đã thành thực ư?

Với gương mặt còn đẫm lệ sau những ôm hôn chúc mừng, tôi đang nghĩ đến việc trở về ngôi nhà ở vùng nông thôn thì bị giám đốc Nhà hát Opéra, khi ấy là ông Halanzier, chặn lại ở góc phố Paix. Tôi càng ngạc nhiên hơn vì tôi đã nghĩ mình bị đánh giá thấp trong nhà lớn do vở ballet Kẻ bắt chuột của mình bị từ chối.

Ông Halanzier có tâm hồn cởi mở và thẳng thắn.

– Thế dạo này cậu đang làm gì?, ông hỏi tôi. Tôi chẳng nghe nói gì về cậu nữa!

Tôi xin nói thêm là ông chưa từng trò chuyện với tôi trước đây.

– Làm sao tôi dám nói về công việc của mình với giám đốc Nhà hát Opéra?, tôi đáp với vẻ hết sức bối rối.
– Nếu chính tôi muốn thế thì sao?
– Vậy hãy biết rằng tôi có một tác phẩm chỉ gồm năm màn, Vua Lahore, cộng tác cùng Louis Gallet.
– Ngày mai, lúc chín giờ, hãy đến nhà tôi ở số 18 Quảng trường Vendôme, và mang bản thảo của cậu cho tôi xem nhé.

Tôi chạy đến báo cho Gallet biết. Rồi tôi trở về nhà ở Fontainebleau báo cho vợ tôi hai tin này: một tin hiện rõ trên khuyết áo của tôi, tin còn lại là niềm hy vọng lớn nhất mà tôi có cho đến lúc đó.

Ngày hôm sau, lúc chín giờ sáng, tôi có mặt ở Quảng trường Vendôme. Gallet đã đợi tôi ở đó. Halanzier sống trong một căn hộ rất đẹp trên tầng ba tòa nhà kiểu cung điện nguy nga tạo thành một trong các góc của Quảng trường Vendôme.

Lúc đến nhà Halanzier, tôi bắt đầu đọc ngay lập tức. Giám đốc Nhà hát Opéra không hề ngăn lại cho đến khi tôi đọc hết năm màn. Tôi lạc cả giọng… và đôi tay tôi mỏi rã rời…

Khi tôi cất bản thảo vào chiếc cặp da cũ và cùng Gallet chuẩn bị lui ra, ông bảo:

– Chà! Vậy cậu không để lại cho tôi bản nào ư?

Tôi nhìn Gallet với vẻ sửng sốt.

– Nhưng, thế ông định cho dàn dựng tác phẩm ư?…
– Tương lai sẽ trả lời.

Khi tôi trở lại Paris vào tháng 10 và vừa mới ổn định chỗ ở trong căn hộ của chúng tôi trên phố Général-Foy thì người đưa thư buổi sáng mang đến cho tôi một thông báo từ Nhà hát Opéra với những dòng chữ này:

Vua.
2 giờ. – Phòng hóa trang.

Các vai đã được giao cho cô Joséphine de Reszké – người có hai anh trai Jean và Édouard về sau sẽ làm vẻ vang nghệ thuật sân khấu – Salomon và Lassalle, người lần đầu được sắm vai.

Chẳng buổi tổng duyệt nào có mặt khán giả. Ngoài ra hồi ấy vẫn chưa có phong tục lấp đầy khán phòng như người ta vẫn làm ngày nay tại buổi diễn tập được gọi là “chung duyệt”, rồi tại buổi diễn tập được gọi là “phó duyệt”, và cuối cùng tại buổi diễn tập được gọi là “tổng duyệt”.

Bất chấp những biểu lộ đồng cảm của dàn nhạc và của dàn ca sĩ mà tác phẩm đã khơi dậy tại các buổi diễn tập, Halanzier thông báo rằng khi dàn dựng tác phẩm đầu tiên tại Nhà hát Opéra của một tác giả mới ra mắt nhà hát này, ông muốn một mình xem xét mọi thứ cho đến buổi công diễn lần đầu.

Đến đây tôi xin một lần nữa bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tôi đối với vị giám đốc đặc biệt giỏi giang này, người đã yêu mến và khuyến khích lớp trẻ!

Lối dàn dựng, bối cảnh và phục trang đều xa hoa đến lạ lùng; kỹ thuật diễn xuất thuộc hàng đầu…

Buổi công diễn lần đầu Vua Lahore. ngày 27 tháng 4 năm 1877, là một sự kiện rất vẻ vang trong đời tôi.

Nhân đây tôi nhớ ra là vào sáng ngày 27 tháng 4, Gustave Flaubert đã để lại cho chị giúp việc nhà tôi, mà không hề yêu cầu gặp tôi, tấm danh thiếp của ông với những lời này:

Sáng nay tôi ái ngại cho anh. Tối nay tôi sẽ ghen tị với anh!

Chẳng phải là những dòng chữ này thể hiện rất rõ sự thấu cảm tuyệt vời của con người đã viết ra Salammbô và kiệt tác bất hủ Bà Bovary hay sao?

Và sáng hôm sau, tôi nhận được từ kiến trúc sư nổi tiếng và nghệ sĩ vĩ đại Charles Garnier những dòng sau đây:

“Tôi chẳng biết liệu khán phòng có phải là thứ khiến âm nhạc hay hay không; nhưng, quỷ ạ, điều tôi biết rõ là tôi chẳng bỏ sót nốt nhạc nào từ tác phẩm của cậu và tôi thấy vở diễn thật tuyệt diệu. Đó là sự thật.
“Bạn của cậu
“Carlo.”

Nhà hát Opéra tráng lệ đã được khánh thành mười sáu tháng trước, vào ngày 5 tháng 1 năm 1875, và các nhà phê bình cảm thấy cần phải công kích chất lượng âm học của nhà hát kỳ diệu được xây dựng bởi người đàn ông tài năng đặc biệt nhất thời hiện đại này. Đúng là sự công kích này khó có thể kéo dài, bởi khi nói về tác phẩm tráng lệ đến vậy của Charles Garnier, người ta bày tỏ bằng chính những lời lẽ hùng hồn mang vẻ giản dị: Nhà hát mới đẹp làm sao! Khán phòng dĩ nhiên là không thay đổi còn công chúng thì có, điều mang lại cho Garnier một sự tôn vinh công bằng và chính đáng!

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch