“Khi Pavarotti hát, mặt trời toả sáng trên thế giới.” – Carlos Kleiber

Luciano Pavarotti từng nhận xét về giọng hát của mình: “Tôi nghĩ một phẩm chất quan trọng mà tôi có là khi bật radio và nghe ai đó hát, bạn biết đó là tôi. Bạn không nhầm giọng tôi với giọng ai khác”. Đó là một nhận xét đơn giản nhưng vô cùng chính xác. Thiên nhiên đã ban tặng cho ông một trong những giọng hát đặc trưng, không thể nhầm lẫn và đẹp nhất từ trước đến nay. Nhìn theo dòng chảy của lịch sử, có lẽ chỉ có Enrico Caruso huyền thoại mới có thể sánh bằng Pavarotti về sự nổi tiếng và yêu thích. Pavarotti sở hữu lượng người hâm mộ vượt xa bất cứ đồng nghiệp nào, bao gồm một lượng lớn khán giả phổ thông, những người hầu như chưa từng nghe bất kỳ một vở opera nào. Ông trở thành một biểu tượng văn hóa đại chúng. Nhưng điều đáng quý ở Pavarotti ở chỗ dù thực hiện rất nhiều chương trình hoà nhạc, trong đó không ít lần có sự tham gia của những ngôi sao pop, rock, điều khiến danh tiếng của ông vang xa, nhưng chưa bao giờ ông từ bỏ sự nghiệp opera nghiêm túc, vẫn miệt mài cống hiến một cách trọn vẹn nhất cho tình yêu đích thực của mình. Những nốt cao lộng lẫy, chói sáng của “Ông vua của những nốt Đô cao”, danh hiệu mà không một tenor nào có thể cạnh tranh với Pavarotti, vẫn sẽ luôn chinh phục ngay cả những khán giả trung thành và khó tính nhất của opera đồng thời khiến họ say mê vì nguồn năng lực tích cực và vẻ đẹp trong giọng hát hiếm có của mình.

Khi cậu con trai Luciano Pavarotti chào đời, người thợ làm bánh Fernando được nghỉ phép năm ngày. Đó là ngày 12/10/1935 và người bố trẻ thậm chí không có đủ thời gian để thay đổi trang phục, ông chạy vội đến Bệnh viện Modena ôm chầm lấy đứa con trai và người vợ yêu quý Adele. Ngay lập tức “Lucianino” cho thấy năng khiếu ca hát của mình: đứa bé gào thét to đến nỗi bác sĩ đã nói: “giọng của đứa trẻ thật khác thường, khi lớn lên đây sẽ là một tenor”. Và cậu bé lớn lên cùng với sự trông mong đó. Khi mới 4 tuổi, Luciano trèo lên bàn bếp, tắt đèn và hát “La donna e mobile” (Rigoletto, Giuseppe Verdi) trong sự thích thú của tất cả mọi người. Những khán giả đầu tiên của cậu chính là những thành viên trong gia đình. Năm 1940 có thêm cô em gái Gabriella, người bạn không thể tách rời trong thời niên thiếu của cậu bé. Tuổi thơ vui vẻ của Luciano đặc biệt gắn bó với ông Fernando, người có một giọng hát đẹp và từng là thành viên trong Dàn hợp xướng Rossini của Modena. Cậu bé luôn nhắc đi nhắc lại: “Cha tôi là tenor còn tôi là tenorino” và thường ngồi hàng giờ liền để nghe những giọng ca nổi tiếng trong bộ sưu tập đĩa nhạc đồ sộ của cha mình. Năm 12 tuổi, Luciano bị uốn ván. Cậu hôn mê suốt hai tuần lễ, tưởng như không qua khỏi. Gia đình đã hai lần lo làm hậu sự cho cậu. Pavarotti nhớ lại: “Khi bạn vượt qua được một chuyện như thế, thì chắc chắn bạn là người sống sót. Đó là lý do vì sao tôi nghĩ bạn luôn thấy tôi lạc quan”.

Luciano có một tuổi thơ thật vô tư, cậu thường ở ngoài trời cả ngày chơi đùa đồng thời tận hưởng sự âu yếm và chiều chuộng của những người trong gia đình. Đặc biệt, không thể không kể đến tình bạn thân thiết giữa Luciano và Mirella Freni, cô bạn hàng xóm. Họ lớn lên bên nhau, được cùng một bà vú chăm sóc. Sau này lớn lên, họ cùng nhau học hát, trở thành những ca sĩ lừng danh và toả sáng trên khắp thế giới. Luciano luôn tỏ ra gần gũi và gắn bó mật thiết với bố mẹ, một mối quan hệ giữa những cá nhân tự do và độc lập nhưng rất đoàn kết trong những thời khắc quan trọng. Khi Luciano hoàn thành chương trình cao đẳng sư phạm, bố mẹ cậu đã bỏ phiếu để quyết định xem cậu nên trở thành một giáo viên thể dục hay học hát, mặc dù để trở thành một tenor chuyên nghiệp là một công việc rất vất vả và không chắc chắn. Và trên thực tế số phận của cậu đã được quyết định. Vậy là chàng trai trẻ Pavarotti, người đã một vài lần hát cùng cha mình trong dàn hợp xướng tại Modena bắt đầu những bài học với Arrigo Pola, người mà các nguyên tắc và quy định đã hướng dẫn cậu trong suốt sự nghiệp lâu dài của mình. Sau ba năm trau dồi với Pola, Pavarotti, cùng với Freni tiếp tục học tập với nhà sư phạm Ettore Campogalliani và dưới sự hướng dẫn của ông, cậu hoàn thiện thêm các kỹ năng ca hát. Đây đã và sẽ luôn là những người thầy duy nhất của Luciano.

Năm 1955, Pavarotti đến Wales cùng Dàn hợp xướng Modena và giành chiến thắng trong một cuộc thi uy tín giữa các dàn hợp xướng trên toàn thế giới. Đối với chàng trai trẻ thì đây là một thời điểm vô cùng quan trọng: Pavarotti có được sự công nhận của công chúng và trên hết là cuộc phiêu lưu ca hát đầy hứng thú mà cậu có thể chia sẻ cùng người cha Fernando của mình. Tuy nhiên, Pavarotti chỉ có được sự ra mắt thực sự trong sự nghiệp ca hát bằng cách giành iải Achille Peri năm 1961. Năm 1961 thực sự là năm rất quan trọng cho sự nghiệp của giọng tenor, một bước ngoặt chuyển từ thời thanh niên sang trưởng thành. Cũng trong năm này, Pavarotti có bằng lái xe, cưới Adua Veroni sau tám năm hứa hôn và trên tất cả đây là năm anh giành được chiến thắng chuyên nghiệp đầu tiên: vào ngày 29/4, Pavarotti lần đầu tiên hát tại Teatro Municipale, Reggio Emilia với Rodolfo trong La Bohème (Giacomo Puccini) dưới sự chỉ huy của Francesco Molinari Pradelli và được hoan nghênh nhiệt liệt. La Bohème không chỉ là vở opera đầu tiên của Pavarotti mà còn là ngôi sao dẫn đường để ông đến với những thành công trong nghệ thuật.

Từ năm 1961-1962, giọng tenor trẻ tiếp tục xuất hiện trong La Bohème tại nhiều thành phố trên nước Ý và tham gia vào một vài buổi biểu diễn ở nước ngoài. Cũng trong thời gian này, Pavarotti thử sức mình trong vai công tước xứ Mantua trong Rigoletto (Verdi), vai này tỏ ra đặc biệt phù hợp với chất giọng của ông. Ông xuất hiện trên sân khấu ở Carpi và Brescia dưới sự chỉ huy của Tullio Serafin. Tại Teatro Massimo, Palermo, Pavarotti giành được thành công vang dội và tiến một bước dài trong sự nghiệp. Từ đây, ông nhận được nhiều lời mời biểu diễn từ các nhà hát danh giá hơn. Tại Ý ông đã có một sự nghiệp đầy triển vọng nhưng ở nước ngoài tuy đã tham gia vào một số chương trình nhưng ông vẫn chưa gây dựng được danh tiếng cho mình. Vào ngày 21/9/1963, với một sự trùng hợp khá may mắn, Pavarotti đã đạt được thành công trong sự nghiệp quốc tế của mình. Lại là trong La Bohème, tại Covent Garden. Vận mệnh của Pavarotti gắn liền với Giuseppe di Stefano, thần tượng của ông hồi trẻ. Di Stefano bị ốm và Pavarotti chính là người thay thế bậc đàn anh cả trong buổi biểu diễn trên sân khấu cũng như trong chương trình truyền hình “Đêm chủ nhật tại Palladium” trước một lượng khán giả Anh lên đến 15 triệu người. Buổi biểu diễn thành công vang dội và tên tuổi Pavarotti trở nên nổi bật trên toàn thế giới. Hãng Decca đề nghị được ghi âm lần đầu với tenor trẻ và từ đó khởi đầu cho những đĩa nhạc tuyệt vời nhất của ông. Nhạc trưởng Richard Bonynge mời Pavarotti hát với vợ mình là Joan Sutherland.

Năm 1965, Pavarotti lần đầu tiên xuất hiện tại Mỹ, ở Miami cùng với Sutherland. Ông khiến cho giới phê bình hoan hô nhiệt liệt với Lucia di Lammermoor (Gaetano Donizetti) do Bonynge chỉ huy. Ngày 9/12/1965, Pavarotti lần đầu tiên xuất hiện tại La Scala với vai công tước xứ Mantua. Sau đó là một loạt chương trình đánh dấu sự hợp tác của ông với Herbert von Karajan. Trong đó đáng chú ý có buổi biểu diễn vào ngày 18/1/1967 khi ông đảm nhiệm phần tenor trong Requiem (Verdi) dưới sự chỉ huy của Karajan trong đêm nhạc tưởng nhớ Arturo Toscanini, các ca sĩ khác là Leontyne Price, Shirley Verrett và Nicolai Ghiaurov. Thập niên 60 cũng là một cột mốc trong cuộc đời riêng tư của ông. Các cô con gái yêu đều được sinh ra trong khoảng thời gian này: Lorenza năm 62, Cristina năm 64 và Giuliana năm 67. Pavarotti có sự gắn bó thân thiết với những người con, ông coi đó là những món quà quý giá nhất trong cuộc sống của mình.

Sự kiện nổi bật nhất, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ sự nghiệp của Pavarotti diễn ra vào ngày 21/6/1966 tại Covent Garden khi Pavarotti xuất hiện cùng Sutherland trong vở opera nổi tiếng với “9 nốt Đô”: La Fille du régiment (Donizetti). Lần đầu tiên khán giả London chứng kiến một tenor thả mình vào những nốt nhạc cao vút trong “Pour mon âme, quel destin!”. Tất cả mọi người như bị mê sảng, cả khán phòng rung chuyển như bị nổ tung, trong số này có cả gia đình hoàng gia Anh. Nếu như La Bohème là “cuốn hộ chiếu” đưa ông đến các nhà hát opera nổi tiếng trên thế giới và là “mảnh đất màu mỡ” để xây dựng mối quan hệ với các ca sĩ nổi tiếng cũng như các nhạc trưởng uy tín thì La Fille du régiment mang đến sự khác biệt giữa Pavarotti và các tenor khác. Thành công nổi bật của La Fille du régiment còn được lặp lại ở La Scala vào năm 1968 và còn tạo ra nhiều cảm xúc mạnh mẽ hơn tại Metropolitan Opera vào ngày 17/2/1972. Ông có buổi biểu diễn đầu tiên tại đây vào ngày 23/11/1968 trong vở tác phẩm ưa thích La Bohème và hàng năm ông đều quay trở lại sân khấu danh tiếng này trong sự chào đón của cả công chúng và giới phê bình. Tuy nhiên chính sự phi thường và kỳ tích 9 nốt Đô đã đưa danh tiếng của ông với tư cách là một tenor bay xa trên khắp thế giới. Hãng Decca trên một bản thu âm của ông đã tung hô: Ông vua của những nốt Đô cao, biệt danh sẽ mãi mãi gắn liên với Pavarotti, như sự khẳng định vị thế độc tôn, bất khả xâm phạm của tenor vĩ đại.

Hoạt động nghệ thuật của Pavarotti ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Trong thập niên 1970, ông tập trung mở rộng kịch mục của mình, tập trung vào Donizetti, Vincenzo Bellini, Verdi và trường phái verismo (chân thực). Năm 1975, ông thu âm Luisa Miller (Verdi) cùng Montserrat Caballé, Sherrill Milnes. Ông Fernando lần đầu tiên có bản thu âm khi tham gia trong một vai nhỏ. Sau này Pavarotti còn nhiều buổi trình diễn khác với cha mình. Fernando tỏ ra rất thoả mãn và trong ông tuôn trào một niềm tự hào về người con trai nổi tiếng. Thập niên 70 và 80 của thế kỉ 20 liên tiếp chứng kiến những thành công huy hoàng của Pavarotti. Những nhà hát opera hàng đầu trên thế giới đều đã in dấu chân ông, tại bất cứ nơi đâu ông đều để lại dấu ấn khó phai mờ. Ngay cả Đại lễ đường Nhân dân oai nghiêm tại Bắc Kinh cũng được mở ra để đón tiếp ông, điều mà trước đó luôn chỉ được dành cho các nguyên thủ quốc gia.

Sự nghiệp âm nhạc phong phú của Pavarotti không chỉ giới hạn trong nhà hát. Ông còn vươn sang địa hạt của các chương trình độc tấu và hoà nhạc, hát tại quảng trường, sân vận động, công viên trước một lượng khán giả khổng lồ. Khi đã nhận được rất nhiều sự yêu mến, ông càng mở rộng phạm vi hoạt động của mình bên ngoài sân khấu opera, thường xuyên biểu diễn các chương trình hoà nhạc với tần suất xuất hiện ngày một nhiều hơn. Ngày 29/4/1986, khi ở đỉnh cao của sự nghiệp đầy vinh quang, Pavarotti tổ chức lễ kỷ niệm bạc rất đặc biệt để nhớ lại buổi biểu diễn La Bohème tại Teatro Comunale. Trong vòng 25 năm kể từ buổi ra mắt đầu tiên năm 1961, ông đã có khoảng 1.000 buổi biểu diễn chỉ tính riêng opera. Một bậc thầy! Trong buổi tối này, ông đã hát La Bohème cùng với những người trẻ tuổi đã đoạt giải trong cuộc thi Pavarotti International Voice mà từ năm 1981, cứ ba hay bốn năm một lần lại được ông tổ chức tại Philadelphia. Cũng trong năm 1986, ông hát trong Aida (Verdi) tại Metropolitan Opera và mở màn cho một mùa diễn mới của La Scala. Ông thể hiện tuyệt vời đến mức tờ báo Corriere della Sera đã dành cả một trang với tiêu đề: “Celestial Luciano” (Luciano thiên thần). Năm 1990, ông tham gia chương trình The Three Tenors (Ba giọng tenor) bên cạnh hai người bạn thân José Carreras và Plácido Domingo với mục đích gây quỹ cho Quỹ Bệnh bạch cầu Quốc tế của Carreras. Buổi hoà nhạc diễn ra tại Rome đã thành công vang dội. Sau này họ còn cùng nhau thực hiện nhiều chương trình tương tự, lần cuối diễn ra vào năm 1998 tại Paris. Năm 1991, Pavarotti có một buổi hoà nhạc không thể nào quên tại Hyde Park, London trước 250.000 khán giả. Mặc dù mưa rất to làm ướt cả thái tử Charles và công nương Diana, những người hâm mộ cuồng nhiệt của Pavarotti nhưng chương trình đã trở thành một sự kiện lớn và được truyền hình trực tiếp trên khắp châu Âu và Mỹ. Pavarotti cũng lặp lại thành công tương tự trong buổi biểu diễn tại Central Park, New York vào năm 1993 trước 500.000 khán giả. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là một cột mốc quan trọng trong sự nghiệp nghệ thuật của ông, thể hiện sức cuốn hút không thua kém bất kỳ ngôi sao âm nhạc pop hay rock nào.

Pavarotti sở hữu một giọng hát thật đặc biệt. Chất giọng cao vút, sang trọng, khoẻ khoắn với một làn hơi dài tưởng chừng bất tận đã làm say mê biết bao thế hệ người yêu nhạc. Điểm mạnh nhất của Pavarotti là ông có khả năng thể hiện các nốt c2 thật tuyệt diệu, hùng vĩ và mạnh mẽ. Chính điều này đã tạo nên sự kì diệu nơi ông. Ông thực sự xứng đáng với danh hiệu “Ông vua của những nốt Đô cao” mà Decca phong tặng. Mỗi khi Pavarotti cất lên nốt c2 cả không gian như sáng bừng lên, tràn đầy sức sống. Theo tiêu chuẩn thông thường của các tenor Ý, giọng hát của Pavarotti không đặc biệt lớn, nhưng âm sắc lại được tập trung lý tưởng và cất lên một cách dễ dàng, đến mức hầu như không bao giờ tạo cảm giác gắng sức hay rung quá mức như thường thấy ở nhiều đồng nghiệp. Dù vậy, giọng hát của ông không phải là hoàn hảo. Những nhà phê bình chuyên nghiệp thường phàn nàn rằng ông hát quá theo bản năng mà thiếu đi sự phân tích tác phẩm một cách kỹ lưỡng và tinh tế; đôi khi lạm dụng các nốt cao mà quên đi rằng ca sĩ chỉ là một bộ phận cấu thành tổng thể opera. Vóc dáng cũng góp phần khiến Pavarotti gặp khó khăn trong diễn xuất, ông chủ yếu chỉ đứng trên sân khấu mà ít thể hiện tính kịch cần có. Pavarotti giải thích việc ông thường xuyên xuất hiện trong các chương trình hoà nhạc với bàn tay nắm chặt một chiếc khăn trắng là vì ông không biết làm gì với đôi tay của mình khi hát. Và dù đã từng vào vai chính trong Otello (Verdi), một trong những vai kịch tính nhất dành cho giọng tenor, sánh ngang với Siegfried hay Tristan của Richard Wagner, thì về bản chất, giọng hát của ông là trữ tình vì vậy ông gặp nhiều hạn chế khi hát những vai nặng hơn. Hơn nữa, chương trình Pavarotti và Những người bạn, một chuỗi các buổi hoà nhạc được ông tổ chức từ năm 1992-2003 với mục đích quyên góp tiền cho các tổ chức từ thiện với sự góp mặt của những danh ca nhạc pop và rock không đem lại hứng thú cho những khán giả trung thành của nghệ thuật opera.

Cuối những năm 1980, khán giả chứng kiến một Pavarotti sa sút phong độ. Ông tăng cân một cách nhanh chóng, lên đến gần 150kg. Giọng hát tuyệt đẹp bắt đầu cũng có dấu hiệu sa sút. Không ít lần trong các buổi biểu diễn, Pavarotti phải hát giả thanh hoặc hạ âm vực. Pavarotti từng bị khán giả La Scala la ó trong một chương trình. Ngày 7/12/1992, khi hát trong Don Carlo (Don Carlo, Verdi) dưới sự chỉ huy của Riccardo Muti, ông đã bị vỡ giọng khi lên nốt Si cao trong màn II. Pavarotti đã phải hứng chịu sự chê bai từ phía loggionisti (những khán giả khó tính ngồi ở tầng cao nhất của La Scala). Ông thú nhận: “Họ sống để đến xem opera mỗi đêm và họ dành toàn bộ tình yêu của mình cho opera. Họ nghĩ rằng mình là người phán xét cuối cùng về những gì sẽ xảy ra và họ nghĩ rằng họ có quyền hoan nghênh hoặc la ó. Và nếu bạn muốn biết ý kiến của tôi thì họ đúng đấy”. Và khi được hỏi là làm thế nào để vượt qua được áp lực này, Pavarotti cho biết: “Tôi nghĩ đó là một thú vui, chứ không phải một công việc. Đó không phải là một nghề. Tôi nói thật đấy, nếu không, giờ ở tuổi này tôi đã chẳng còn làm nghề này nữa rồi”. Ông cũng thường xuyên huỷ bỏ các buổi biểu diễn, thậm chí là vào phút cuối, điều khiến Ardis Krainik, tổng giám đốc của Lyric Opera Chicago giận dữ, gọi Pavarotti là Persona non grata (Người không được chào đón).

Lần cuối cùng Pavarotti xuất hiện trên sân khấu opera diễn ra tại Metropolitan Opera vào ngày 13/4/2004 với vai Cavaradossi (Tosca, Puccini). Khi ông kết thúc aria “E lucevan le stelle” trong màn III, khán giả đã vỗ tay liên tục trong năm phút. Và sau đó, nhạc trưởng James Levine thay vì tiếp tục lại quay trở lại phần âm nhạc ngay trước aria, điều khiến chính Pavarotti rất ngạc nhiên vì trong lịch sử Metropolitan Opera, chưa bao giờ xuất hiện trường hợp ca sĩ hát lại khi vở opera đang diễn ra. Joseph Volpe, tổng giám đốc của nhà hát cho biết: “Ông ấy há hốc mồm và cẩn thận bước xuống sân khấu. Sau đó, ông hát rất hay và khán giả đã phát cuồng. Đó là một trong những khoảnh khắc kỳ diệu. Ai mà biết khi nào điều đó sẽ xảy ra lần nữa”. Khi vở opera kết thúc, khán giả thổn thức, vỗ tay liên tục, yêu cầu ông ra chào 10 lần. Họ biết được rằng sẽ không còn bao giờ được chứng kiến Pavarotti hoá thân vào một vai diễn opera nào nữa. Pavarotti vẫn tiếp tục tham gia trong các buổi hoà nhạc cho dù sức khoẻ của ông ngày càng xấu đi. Tháng 3/2005, ông phải chịu đựng một ca phẫu thuật cột sống. Đầu năm 2006, Pavarotti phải phẫu thuật lưng và bị nhiễm trùng. Tuy vậy, vượt qua những đau đớn về thể xác, ngày 10/2/2006 ông lại thêm một lần bay bổng trong “Nessun dorma” (Turandot, Puccini) tại Lễ khai mạc Thế vận hội mùa đông năm 2006, Turin, Ý. Và đó cũng là lần cuối cùng Pavarotti xuất hiện trước khán giả. Tháng 7/2006, các bác sĩ xác nhận Pavarotti mắc căn bệnh ung thư tuyến tuỵ, trong ông có một khối u. Ngay sau cuộc giải phẫu, các bác sĩ cho biết tình trạng hồi phục của ông là rất tốt. Dẫu vậy, Pavarotti vẫn phải huỷ bỏ toàn bộ lịch diễn của mình trong năm 2006 và không hề thấy ông xuất hiện trước công chúng nữa. Tháng 8/2007, ông được đưa vào bệnh viện tại thành phố quê nhà Modena trong tình trạng nguy kịch, căn bệnh ung thư tuyến tuỵ quái ác không chịu buông tha ông. Pavarotti đã qua đời tại nhà riêng vào rạng sáng ngày 6/9/2007 trong sự tiếc thương của không chỉ những người say mê opera trên toàn thế giới. Nhận được tin người bạn thân qua đời, Carreras nghẹn ngào: “Chúng tôi đã mơ về một điều kì diệu… nhưng thật đáng buồn, điều đó là không thể. Giờ đây chúng ta phải đau xót mà nhận thức rằng chúng ta đã mất đi một ca sĩ tuyệt vời và một con người vĩ đại”.

Trong sự nghiệp, Pavarotti đã biểu diễn cùng nhiều prima donna hàng đầu thế giới nhưng với ông ba soprano Freni, Sutherland và Maria Callas mới là những người có ảnh hưởng sâu đậm và để lại trong ông nhiều cảm xúc nhất. Freni đối với ông không chỉ đơn thuần là bạn diễn mà còn là người bạn thân thiết từ thuở ấu thơ. Giữa họ có một mối quan hệ thật đặc biệt. Trong âm nhạc, họ cùng đóng chung trong nhiều vở opera như La Bohème, Tosca, Madama Butterfly. Ngoài đời, họ là tri kỷ. Cùng với Sutherland, Pavarotti đã tạo nên một trong những cặp bài trùng tenor-soprano tuyệt vời nhất trong thế kỷ 20. Các vở opera bel canto, đặc biệt là bộ ba nổi tiếng Norma, I Puritani, La Sonnambula của Bellini chính là dấu ấn tuyệt vời nhất mà bộ đôi này đem đến cho những người hâm mộ. Một sự kết hợp vô cùng hoàn hảo. Còn đối với Callas thì đây lại là niềm tiếc nuối lớn nhất trong cuộc đời nghệ thuật của Pavarotti. Ông từng tâm sự: “Sự nghiệp ca hát của tôi không trọn vẹn vì tôi chưa một lần đứng trên sân khấu cùng Callas”. Nhưng với những người hâm mộ ông, Pavarotti đã sống một cuộc đời xứng đáng. Và hẳn là Pavarotti ra đi một cách thanh thản và lạc quan vì ông đã thực hiện trọn vẹn tâm nguyện của mình: “Tôi nghĩ một cuộc sống cống hiến cho âm nhạc là một cuộc sống đẹp và đó là những gì mà tôi đã hiến dâng cả đời mình”.

Cobeo