Tác giả: Béla Bartók.
Tác phẩm: Concerto cho dàn nhạc, Sz. 116, BB 123
Thời gian sáng tác: Từ 15/8 đến 8/10/1843. Tháng 2/1945, Bartók có sửa lại một số chỗ, chủ yếu trong chương cuối.
Công diễn lần đầu: Ngày 1/12/1944 tại Symphony Hall, Boston dưới sự chỉ huy của Serge Koussevitzky và Boston Symphony Orchestra.
Độ dài: Khoảng 35-40 phút.
Tác phẩm có 5 chương:
Chương I – Introduzione. Andante non troppo – Allegro vivace
Chương II – Presentando le coppie. Allegro scherzando
Chương III – Elegia. Andante non troppo
Chương IV – Intermezzo interrotto. Allegretto
Chương V – Finale. Presto
Thành phần dàn nhạc: 3 flute (flute 3 kiêm piccolo), 3 oboe (oboe 3 kiêm English horn), 3 clarinet (clarinet 3 kiêm bass clarinet), 3 bassoon (bassoon 3 kiêm contrabassoon), 4 horn, 3 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, side drum, bass drum, cymbal, triangle, tam-tam, 2 harp và dàn dây.

Vào đầu năm 1943, khi đang giảng những bài học về âm nhạc dân gian tại đại học Harvard, sức khoẻ vốn đã yếu ớt của Bartók càng suy giảm nghiêm trọng, ông trở về nhà tại New York và tiếp tục điều trị tại bệnh viện thành phố này. Tại đây, theo đề nghị của hai người con Hungary xa xứ như Bartók là nhạc trưởng Fritz Reiner (từng là học trò của Bartók) và nghệ sĩ violin Joseph Szigeti, nhạc trưởng Serge Koussevitzky – giám đốc âm nhạc của Boston Symphony Orchestra và là đại diện của Quỹ âm nhạc Koussevitzky, do ông lập ra nhằm tưởng nhớ người vợ của mình, đã tới thăm và đặt hàng Bartók sáng tác một tác phẩm âm nhạc.
Bartók đã nhận lời và tại khu nghỉ dưỡng bên hồ Surinac, ngoại ô New York, ông đã hoàn thành bản Concerto cho dàn nhạc trong vòng 2 tháng. Đây đã trở thành một trong những tác phẩm xuất sắc và nổi tiếng nhất của ông. Ông viết thư cho con trai mình, Peter vào ngày 26/9: “Bố đang sáng tác một tác phẩm được đặt hàng. Bố không biết liệu có gì kết nối giữa chuyện này và việc sức khoẻ của bố được cải thiện không nhưng dù sao thì bố cũng rất bận. Thực tế thì bố dành toàn bộ thời gian cho nó. Đây là một tác phẩm dài: 5 chương nhạc. Bốn chương đầu đã hoàn thành. Bây giờ bố đang đau đầu với chương cuối, vì những lí do nhất định là thứ khó nhất. Trong một việc như thế này luôn có những chi tiết nhỏ nhặt, mặc dù ít hơn nhiều so với một công trình khoa học. Bố muốn hoàn thành nó tại đây.”
Trên thực tế, Bartók không phải nhà soạn nhạc đầu tiên sử dụng tên gọi “Concerto cho dàn nhạc”. Nhạc sĩ đầu tiên là Paul Hindemith vào năm 1925 sau đó là một số người khác như Malipiero (1931), Petrassi (1934) hay Casella (1937) và cả người bạn thân Zoltán Kodály (1940). Có thể Bartók đã cố tình tránh đặt tên gọi là bản giao hưởng vì coi đó là một hình thức lỗi thời. Mặc dù thể loại concerto đã tồn tại trước đó hàng trăm năm, nhưng ý tưởng về một concerto cho dàn nhạc (trái ngược với một nhạc cụ hoặc một nhóm nhạc cụ độc tấu với dàn nhạc) vẫn là khá mới mẻ. Bartók đã viết trong tờ chương trình cho buổi ra mắt tác phẩm: “Tiêu đề của một tác phẩm cho dàn nhạc giống như giao hưởng này được giải thích bằng xu hướng đối xử với những nhạc cụ đơn lẻ hoặc một nhóm nhạc cụ là “hoà tấu” hoặc độc tấu. Cách xử lý “điêu luyện” xuất hiện, ví dụ, trong đoạn fugato của phần phát triển của chương I (kèn đồng) hoặc trong “perpetuum mobile” – như câu nhạc trong chủ đề chính của chương cuối (bè dây) và đặc biệt trong chương II, nơi mà bộ đôi nhạc cụ xuất hiện liên tiếp với những đoạn chói sáng… Phần chính của chương II bao gồm một chuỗi các đoạn ngắn độc lập, được giới thiệu liên tiếp bằng bộ đôi các kèn gỗ (bassoon, oboe, clarinet, flute và trumpet chơi tắt tiếng). Về mặt chủ đề, 5 phần đoạn không có điểm chung và có thể được ký hiệu hoá bằng những chữ cái a, b, c, d, e… Tâm trạng chung của tác phẩm biểu hiện – ngoại trừ chương II bông đùa – là một sự chuyển đổi dần từ sự nghiêm nghị của chương I và bài hát chết chóc bi thảm của chương III đến sự khẳng định sự sống của chương cuối cùng”.
Như vậy, có thể thấy, Concerto cho dàn nhạc của Bartók là một hành trình từ bóng tối đến ánh sáng, khá phổ biến trong âm nhạc cổ điển (ta có nhớ ngay tới bản giao hưởng số 5 của Beethoven). Tác phẩm thực sự là kết tinh những đặc điểm nổi bật trong tư tưởng âm nhạc của ông. Nhà soạn nhạc Halsey Stevens đã nhận xét: “Không một nhà soạn nhạc nào khác được quan sát có được sự trung thành nghiêm ngặt với những nguyên tắc cơ bản trong toàn bộ sự nghiệp. Trong Concerto cho dàn nhạc, một trong những tác phẩm cuối cùng và choáng ngợp nhất của ông, không có xu hướng nào được nhận ra… chỉ có sự xác nhận và tiếp tục hướng sáng tạo được bộ lộ qua tổng phổ của những tác phẩm trước chúng”. Màu sắc sống động và nhịp điệu mãnh liệt của thứ âm nhạc này là kết quả tuyệt vời của một tâm hồn và khí chất vốn đã nghỉ ngơi và khiêm tốn. Sức mạnh và khí chất của tác phẩm ngược lại với thể trạng yếu ớt của một cơ thể 87 pound (khoảng 39kg) bị ung thư ăn mòn (ung thư máu) khi ông sáng tác một tác phẩm đã trở thành kiệt tác của đời mình.
Concerto cho dàn nhạc được trình diễn lần đầu vào ngày 1/12/1944 tại Symphony Hall, Boston dưới sự chỉ huy của Serge Koussevitzky và Boston Symphony Orchestra. Ngay lập tức, tác phẩm đã được cả giới phê bình và công chúng đón nhận. Bartók đã tự hào: “Koussevitzky đã rất nhiệt tình với tác phẩm và nói rằng “đây là tác phẩm xuất sắc nhất cho dàn nhạc trong vòng 25 năm qua” (bao gồm cả tác phẩm của Shostakovich, thần tượng của Koussevitzky)”.

Chương I mở đầu với một đoạn nhạc chậm rãi chơi trên bè cello và double bass kết hợp với âm khu cao của violin và bộ hơi. Âm nhạc dần dần trở nên có động lực, bước vào phần Allegro vivace có nhịp độ nhanh. Chương nhạc được viết theo hình thức sonata, có chủ đề đầu tiên đầy năng lượng bao gồm 2 nhịp hỗn hợp 3/8 và 2/8. Chủ đề hai xuất phát từ tiếng oboe độc tấu, hát một giai điệu cách bè dây một quãng 5. Phần phát triển rực rỡ trong sự kết hợp cách tân của Bartók giữa những ý tưởng du dương và những kỹ thuật đối âm như bắt chước và đảo ngược.

Chương II Presentando le coppie (sự trình bày của những cặp đôi) được Bartók giải thích: “Bao gồm một chuỗi các đoạn ngắn độc lập, được giới thiệu liên tiếp bằng bộ đôi các kèn gỗ (bassoon, oboe, clarinet, flute và trumpet chơi tắt tiếng (sử dụng sordino)). Đoạn trio là một chorale cho kèn đồng vào side drum, sau đó 5 phần được tóm tắt lại với sự hoà âm phức tạp hơn”. Mỗi phần được phân định rõ ràng bằng tiếng snare drum. Bassoon chơi các ý tưởng của mình ở quãng 6, oboe ở quãng 3, clarinet ở quãng 6, flute ở quãng 7 còn trumpet ở quãng 2 trưởng.

Chương III Elegia, vẫn theo Bartók giải thích: “Cấu trúc của chương III là một dạng chuỗi. Ba chủ đề xuất hiện liên tiếp. Những thứ này tạo thành cốt lõi của chương nhạc được đóng khung bằng một kết cấu mờ ảo của những motif thô sơ. Hầu hết chất liệu chủ đề của chương này đến từ phần giới thiệu của chương I”. Chương nhạc điển hình cho phong cách “Nhạc đêm” thường gặp trong âm nhạc của Bartók, được khắc hoạ như “sự nghịch tai kỳ lạ được cung cấp để làm nền cho âm thanh của tự nhiên và những giai điệu cô đơn”.

Chương IV được Bartók giải thích có cấu trúc ABA-Đoạn ngắt-BA với A là chủ đề chính còn B là một giai điệu trữ tình, hoài cổ khác thường trên viola xuất phát từ bài hát “Hungary lịch thiệp và tươi đẹp”. Đoạn ngắt ở đây được nhiều người dẫn chiếu đến trích đoạn “Da geh ‘ich zu Maxim” trong vở operetta của Lehár trong khi nhiều người khác lại cho rằng lấy từ trong bản giao hưởng số 7 “Leningrad” của Shostakovich.

Chương V mở đầu bằng tiếng kèn đồng rực rỡ giải phóng dàn dây trong một chuyển động perpetuum mobile. Giai điệu và tiết tấu của những vũ điệu dân gian bùng lên trong những nốt nhạc dồn dập. Một fugue công phu xuất hiện ở phần giữa, được trumpet thông báo, làm tăng thêm sự phức tạp và phong phú của kết cấu. Phần tái hiện gợi lại nhịp điệu của những điệu nhảy và trong phần coda, chủ đề fugue được trở lại.

Mặc dù tác phẩm rất được hoan nghênh nhưng khoảng tháng 2/1945, Bartók vẫn chỉnh sửa lại đôi chỗ trong tác phẩm, đặc biệt trong chương cuối. Cả 2 phiên bản ngày nay vẫn đang được trình diễn. Bản Concerto cho dàn nhạc của Bartók, kết tinh những đặc điểm nổi bật trong tư tưởng âm nhạc của ông, là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của thế kỷ XX. Rất tiếc mặc dù đã có thêm sinh lực để sáng tác thêm tác phẩm này cũng như bản sonata cho violin độc tấu (đề tặng Yehudi Menuhin) ông vẫn bị căn bệnh máu trắng quật ngã vào ngày 26/9/1945, để lại bản concerto piano số 3 và concerto viola còn dang dở.

Cobeo