“Rất ít ca sĩ không đồng ý với tôi khi tôi nói rằng bi kịch lớn nhất đối với sự nghiệp opera kể từ khi Thế chiến thứ hai kết thúc là cái chết sớm của Fritz Wunderlich. Cả về giọng hát lẫn âm nhạc, anh ấy đều là tài năng rực rỡ nhất trong thế hệ của tôi và khi tài năng đó đang đạt độ chín thì đột nhiên bị dập tắt.” – Nigel Douglas

Fritz Wunderlich được coi như James Dean của thế giới opera – một nghệ sĩ trẻ tuổi, lôi cuốn, có tương lai tươi sáng và qua đời khi còn rất trẻ nhưng đã ở đỉnh cao của sự nghiệp, giành được sự kính trọng to lớn của giới phê bình, đồng nghiệp và khán giả. Được coi là tenor tuyệt vời trong các vở opera của Wolfgang Amadeus Mozart, nhưng danh mục biểu diễn của Wunderlich trải dài từ Johann Sebastian Bach cho đến Alban Berg, điều thật hiếm có đối với một tenor mới chỉ ngoài 30 tuổi. Mặc dù được coi là sở hữu chất giọng trữ tình nhưng ông đã từng thử sức trong một số tác phẩm của Richard Wagner, vốn đòi hỏi rất nhiều sự kịch tính. Wunderlich đã được xem là tenor vĩ đại ở vào độ tuổi mà nhiều đồng nghiệp khác của ông còn đang chật vật tìm chỗ đứng cho mình. Một tai nạn thương tâm đã tước đi cuộc sống của Wunderlich khi ông chưa đầy 36 tuổi. Nhưng chỉ với một cuộc đời và sự nghiệp ngắn ngủi như vậy, ông đã bước vào ngôi đền của những huyền thoại.

Friedrich Karl Otto “Fritz” Wunderlich sinh ngày 26/9/1930 tại Kusel, Đức trong một gia đình âm nhạc. Cha cậu, ông Paul từng là một nghệ sĩ cello và lúc đó phụ trách một dàn hợp xướng còn mẹ cậu, bà Anna là một nghệ sĩ violin. Gia đình Fritz sở hữu một nhà trọ có tên Ngôi nhà nấu bia của Emrich. Paul vốn là một thương binh nặng từ Thế chiến thứ nhất và dưới áp lực của Đức Quốc xã, ông uất ức, chán đời và tự tử khi Fritz chỉ mới lên 5 tuổi. Bất chấp hoàn cảnh khó khăn của gia đình, Anna vẫn cố gắng nuôi dạy tử tế những đứa con của mình. Fritz đã được học âm nhạc ngay từ nhỏ và cậu đã thể hiện năng khiếu xuất sắc của mình khi có thể tự kiếm tiền trang trải cuộc sống bằng cách chơi accordeon và horn cho các ban nhạc địa phương. Fritz còn làm việc tại một cửa hàng bánh. Chính tại đây, các khách hàng đã nhận thấy tiềm năng ca hát của cậu và khuyến khích Fritz trở thành ca sĩ chuyên nghiệp. Kusel lúc bấy giờ là nơi hội tụ của rất nhiều nghệ sĩ trẻ, họ hoạt động âm nhạc rất sôi nổi và điều này đã có tác động không nhỏ lên Fritz. Năm 1947, cậu tham gia trong nhóm kịch Kulturring, họ diễn kịch, thực hiện các chương trình hoà nhạc và thậm chí còn dàn dựng cả vở opera Hänsel und Gretel (Engelbert Humperdinck) với Fritz trong vai Peter. Barbara, con gái Wunderlich nói về cha mình: “Năm 19 tuổi, ông ấy đã biết 2.000 bài hát”

Năm 1948, sau khi hoàn thành việc học phổ thông, Wunderlich theo học tại Đại học sư phạm Kusel đồng thời vẫn tiếp tục hoạt động âm nhạc. Anh thành lập ban nhạc của riêng mình Die Hutmacher, hát và chơi trumpet. Mùa thu năm 1949, lần đầu tiên Wunderlich học thanh nhạc một cách bài bản với thầy Käthe Bittel-Valckenberg ở Kaiserslautern. Anh tham gia một dàn hợp xướng và nhạc trưởng tại đó, Emmerich Smola đã nhận ra tài năng của Wunderlich và thuyết phục anh đăng ký thi tuyển vào Hochschule für Musik Freiburg, với cả hai chuyên ngành horn và thanh nhạc. Năm 1950, anh đã thi đỗ và bắt đầu với chuyên ngành horn. Chắc chắn việc học horn đã giúp cho Wunderlich có được làn hơi thở dài huyền thoại của mình. Chỉ sau đó Wunderlich mới chuyển sang học thanh nhạc với Margarethe von Winterfeldt. Chính bà, một phụ nữ khiếm thị đã khám phá ra tiềm năng của anh và thuyết phục Wunderlich theo đuổi con đường trở thành ca sĩ chuyên nghiệp. Winterfeldt là một giảng viên uyên bác, bà nắm vững rất nhiều vở opera và đã dạy anh trong bốn năm. Barbara cho biết: “Bà đã dạy cha tôi như điên”. Mặc dù bà Anna muốn con trai có một công việc ổn định hơn nhưng anh vẫn muốn trở thành ca sĩ. Anh yêu ca hát! Wunderlich nhớ lại: “Để kiếm sống tôi đã chơi nhạc jazz bên ngoài. Ban đêm tôi thổi trumpet, chơi accordion, hát những bài hát phổ thông; vào buổi sáng sau khi chợp mắt được vài giờ, tôi học Monteverdi và Lully ở trường đại học. Việc chú ý vào âm nhạc thời kỳ đầu là rất quan trọng đối với sự phát triển nghệ thuật của tôi, bởi vì tôi đã học được một điều rất quan trọng đối với các ca sĩ và nhạc sĩ nói chung, đó là cảm giác về phong cách. Nếu bạn có nó, và có thể phân biệt giữa các phong cách khác nhau, bạn đã sẵn sàng – bạn có thể biểu diễn tất cả các loại âm nhạc”. Trong thời gian này, có xu hướng chú trọng các khóa học về kỹ thuật và phong cách biểu diễn trước thời kỳ của Bach ở Đức, điều này đã có ích rất lớn với những ca sĩ trẻ như Wunderlich.

Năm 1954, các sinh viên trong nhạc viện lên kế hoạch dàn dựng Der Zauberflöte (Mozart). Wunderlich cảm thấy đây là cơ hội của mình. Anh nói với Winterfeldt: “Ôi, nếu em thực hiện tốt Tamino, nếu em có thể thành công, em nghĩ mình sẽ trở thành một ca sĩ thực thụ”. Sau chương trình, anh viết thư cho mẹ mình: “Con biết màn trình diễn này rất quan trọng đối với tương lai của con. Sau nốt nhạc cuối cùng, con nghĩ: “Chúa ơi, hãy để họ vỗ tay!” và khi con nghe thấy tiếng vỗ tay như sấm, con gần như gục xuống. Với thành công này, con chắc chắn đã mở ra cánh cửa thành công với nghề nghiệp yêu thích của mình”. Wunderlich đã hoàn toàn chính xác, Tamino sau này đã trở thành một trong những vai diễn xuất sắc nhất trong sự nghiệp của anh và con đường nghệ thuật đã trải dài trước mắt giọng tenor trẻ tuổi đầy tài năng và hoài bão. Năm 1955, sau khi tốt nghiệp, anh được nhạc trưởng Ferdinand Leitner mời ký hợp đồng với Staatstheater Stuttgart, vào thời điểm này là một trong những nhà hát opera nổi tiếng nhất nước Đức. Tenor hàng đầu của nhà hát, Josef Traxel nhận định Wunderlich là một tài năng đặc biệt. Ông thông báo rằng mình bị ốm, không thể tham gia trong Der Zauberflöte. Ban giám đốc quay sang với Wolfgang Windgassen, ca sĩ thay thế. Tuy nhiên, Windgassen, cũng giống như Traxel, muốn hỗ trợ Wunderlich nên đã trả lời: “Chúng ta có một người mới ở đây và cậu ấy sẽ hát vào tối nay”. Và đó là cách mà một ngôi sao đã được sinh ra, người sẽ gắn bó với Tamino trong 121 lần biểu diễn, không tính các bản thu âm.

Trong quá trình làm việc tại Staatstheater Stuttgart, anh đã làm quen với Eva Jungnitsch, nghệ sĩ đàn harp của nhà hát. Họ kết hôn vào năm 1956 và có với nhau ba người con Constanze, Wolfgang và Barbara. Staatstheater Stuttgart đã trở thành gia đình thứ hai của Wunderlich, ngay cả khi anh trở thành một ca sĩ mang tầm vóc quốc tế, anh vẫn tham gia biểu diễn tại đây. Barbara cho biết: “Các ca sĩ không đi lưu diễn như ngày nay và Staatstheater Stuttgart trở thành một nơi đặc biệt sau chiến tranh. Những đồng nghiệp như Gottlob Frick và Hetty Plümacher rất thân thiết và làm bạn với nhau cho đến cuối đời”. Năm 1959 tiếp tục đánh dấu một bước ngoặt quan trọng đối với sự nghiệp của Wunderlich. Anh ra mắt tại Vienna State Opera vào ngày 26/9/1959 và vẫn là trong Tamino, bên cạnh Hilde Guden dưới sự chỉ huy của Karl Böhm. Trước đó, vào tháng 7/1959, Wunderlich cũng lần đầu tham gia liên hoan Salzburg, vẫn là với Böhm. Anh hát trong Henry Morosus (Die schweigsame frau, Richard Strauss) cùng với Hermann Prey, người vô cùng ngưỡng mộ tài năng của Wuderlich và họ đã trở thành những người bạn thân thiết của nhau. Sau buổi biểu diễn, Karajan đã vào trong phòng thay đồ và đề nghị ký với anh một hợp đồng lâu dài cùng Vienna State Opera. Tuy nhiên, trước đó, anh đã chấp nhận một lời mời tương tự của Bayerische Staatsoper, Munich, nên đã từ chối. Cả gia đình Wunderlich đã chuyển tới Munich, nơi sẽ gắn bó với anh cho tới cuối đời.

Tại Munich, Wunderlich bắt đầu mở rộng danh mục biểu diễn của mình. Là một truyền thống tại các nhà hát Đức khi đó, Wunderlich hát chủ yếu bằng tiếng Đức thay vì ngôn ngữ gốc ví dụ như các vai Germont (La Traviata, Giuseppe Verdi) hay Lensky (Eugene Onegin, Pyotr Ilyich Tchaikovsky). Mặc dù từng nói “tôi sẽ đặt những vai Ý nhẹ, Rodolfo trong La Bohème và Công tước trong Rigoletto là giới hạn của mình trong mười hoặc mười hai năm tới” nhưng ông đã hát những vai nặng hơn, theo phong cách Wagner như Palestrina của Hans Pfiztner. Ông thậm chí cũng từng hát một số vai trong opera của Wagner như Steuermann (Der fliegende Holländer), Ulrich Eisslinger (Die Meistersinger von Nürnberg) hay Heinrich der Schreiber và Walther von der Vogelweide (Tannhäuser). Nhưng có lẽ Wunderlich đã nhớ đến câu nói của Wagner: “Hãy học cách hát Mozart. Sau đó, bạn sẽ có thể hát những vở opera của tôi mà không bị tổn hại đến giọng hát của mình”.

Với thành công trong cả opera, oratorio và phòng thu âm, từ năm 1960, Wunderlich nhận được lời đề nghị biểu diễn các ca khúc thính phòng. Nhưng sau những nỗ lực đầu tiên của ông ở Vienna và Munich, Wunderlich đã bị chê trách rằng ông là một ca sĩ opera tuyệt vời nhưng không hiểu gì về lied. Wunderlich đã sốc nhưng đã ngay lập tức nhận được lời khuyên kịp thời từ Prey, người đã đề nghị ông liên hệ với nghệ sĩ piano kỳ cựu chuyên đệm lied vô cùng kinh nghiệm Hubert Giesen. Giesen đã tiếp nhận Wunderlich sau khi thẳng thừng nói với Wunderlich rằng giọng hát lied của ông “khá tệ”. Nhưng “trong số tất cả những ca sĩ tôi đã chơi cùng trong suốt 50 năm, chỉ có một người mà tôi thực sự yêu quý như con trai: Fritz Wunderlich. Tình bạn của chúng tôi đến muộn, và nó kết thúc chỉ ba năm rưỡi sau đó” nhưng “cậu ấy đã trưởng thành và trở thành một trong những ca sĩ lied xúc động nhất trong thời đại của mình”. Bản thân Wunderlich tin rằng những ca sĩ lied giỏi nhất sẽ khiến người nghe hoàn toàn quên mất ca sĩ và chỉ chìm đắm trong tâm trạng của bài hát: “Tôi đã hát lied rất muộn… không phải vì tôi không có duyên với nó, mà vì tôi biết rằng tôi chỉ có thể hát nó khi đã kiểm soát hoàn toàn được giọng hát của mình. Bạn không thể gặp khó khăn về kỹ thuật dù là nhỏ nhất trong bất kỳ trường hợp nào. Lied là thước đo để đánh giá liệu tôi có thực sự hát được hay không”. Dưới sự dìu dắt của Giesen, Wunderlich đã trở thành một ca sĩ hát lied rất thành công trong các tác phẩm của Ludwig van Beethoven, Franz Schubert hay Robert Schumann. Jonas Kaufmann đã nhận xét về bậc tiền bối vĩ đại: “Tôi biết rất rõ về gia đình Wunderlich và từ những câu chuyện, tôi biết ông ấy đã rất cố gắng đạt được và thiết lập ra những gì mà một số người khác trong thế hệ của ông ấy đã thành công – như Dietrich Fischer-Dieskau. Họ là bậc thầy của lied, cùng với người bạn rất thân của ông là Hermann Prey. Vì vậy, ông ấy chỉ muốn làm một điều gì đó trong khả năng của mình và tôi nghĩ cuối cùng, ông đã thực sự làm được vì một số bản thu âm trực tiếp của những lieder rất ngoạn mục và trung thực”.

Dù chỉ mới ngoài 30 tuổi, Wunderlich đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng trên toàn châu Âu, được mời tới hát tại Anh, Pháp, Ý và nhiều quốc gia khác. Ông trở thành khách mời quen thuộc tại liên hoan Salzburg và Vienna State Opera. Sở hữu một giọng tenor trữ tình khoẻ khoắn, tươi sáng và mạnh mẽ, có thể dễ dàng lấp đầy bất cứ khán phòng nào. Nốt C2 của ông chắc, khoẻ, rạng rỡ, điều không hề dễ gặp ở các ca sĩ Đức. Những năm tháng luyện tập horn và trumpet đã khiến Wunderlich sở hữu một làn hơi dài, khiến ông luôn giữ được sự tinh khiết của âm thanh và tạo ra những đường nét phù hợp với tính cách của nhân vật. Wunderlich hát rất tự nhiên, âm thanh đẹp trải dài trên toàn bộ âm vực hai quãng tám và mở hơn các ca sĩ Ý cùng thời. Cùng với đó là một phong cách xử lý tác phẩm thông minh. Dù rằng không phải là một diễn viên xuất sắc nhưng Wunderlich đã chinh phục khán giả chỉ bằng giọng hát của mình. Ông giành được kính trọng của rất nhiều đồng nghiệp. Brigitte Fassbaender từng nhiều lần quan sát Wunderlich từ cánh gà: “Anh ấy có lẽ là đồng nghiệp quan trọng nhất mà tôi từng có và tôi đã hát với anh ấy rất nhiều… Anh ấy là một người có cá tính mạnh mẽ, hài hước và là một người đàn ông đẹp trai. Anh ấy luôn chuẩn bị tinh thần để lắng nghe và trả lời các câu hỏi. Đó luôn là sự hoàn hảo về kỹ thuật, nhưng trên tất cả, đó là một giọng hát thực sự lay động trái tim. Đó là một cái gì đó đặc biệt”. Còn Thomas Hampson thì ngưỡng mộ: “Cuộc đời của Fritz Wunderlich là sự kết hợp độc đáo giữa tài năng, tình yêu cuộc sống, nghị lực và tham vọng… Ông ấy là bằng chứng về mức độ hoàn hảo mà một ca sĩ có thể đạt được”.

Wunderlich đã để lại rất nhiều bản thu âm có giá trị. Ta có thể kể đến Der Zauberflöte dưới sự chỉ huy của Böhm cùng với các ca sĩ Evelyn Lear, Roberta Peters và Fischer-Dieskau; Das Lied von der Erde (Gustav Mahler) cùng Christa Ludwig và Otto Klemperer; Dichterliebe (Schumann) hay Missa Solemnis (Beethoven) với Gundula Janowitz, Walter Berry, Ludwig và Karajan. Ông cũng đã thực hiện thu âm nhiều vở opera khác, chủ yếu là hát bằng tiếng Đức. Với sự ra đời của truyền hình, từ rất sớm Wunderlich đã hát trong Il Maestro di Musica (Giovanni Battista Pergolesi) trên đài truyền hình Áo vào năm 1963 và ngay lập tức thu hút được sự quan tâm rộng khắp của công chúng. Ngày 23/2/1965, Wunderlich hát buổi duy nhất tại Royal Opera House trong Don Ottavio (Don Giovanni, Mozart) bên cạnh Eberhard Waechter, Pilar Lorengar, Geraint Evans và Lear dưới sự chỉ huy của Rudolf Kempe. Ông có một lịch trình dày đặc, gồm các buổi luyện tập, biểu diễn, phát thanh, truyền hình và thu âm. Nhiều người thân của Wunderlich đã lo lắng về điều này, bao gồm cả Giesen, được coi như “người cha thứ hai” của ông: “Trong những năm hợp tác thân thiết với Fritz Wunderlich, đôi khi tôi cảm thấy sợ hãi: bất chấp sự vô tư, vui vẻ, tự tin và điềm tĩnh của cậu ấy; cậu ấy đốt ngọn nến ở cả hai đầu. Cậu ấy đã thu hút các nguồn tài nguyên không giới hạn; cậu ấy đã làm mọi thứ với một năng lượng và cường độ to lớn, như thể biết rằng mình chỉ còn một khoảng thời gian giới hạn nữa”.

Ngoài ca hát, Wunderlich có một niềm đam mê khác là săn bắn. Trong mùa hè, thời gian nghỉ giữa các mùa diễn, Wunderlich thường cùng với những người bạn của mình tổ chức các cuộc đi săn. Trong một dịp tụ tập như vậy tại nhà của Heinz Blanc, ở Oberderdingen, Kraichgau gần rừng Đen, ông đã bị ngã cầu thang do buộc dây giầy bất cẩn. Wunderlich bị nứt hộp sọ và qua đời vào ngày 17/9/1966, chỉ ít ngày trước sinh nhật lần thứ 36. Ông được chôn cất tại nghĩa trang Waldfriedhof, Munich. Buổi biểu diễn cuối cùng của ông với Vienna State Opera diễn ra trước đó vào ngày 29/6/1966 trong vai ca sĩ Ý (Der Rosenkavalier, Richard Strauss) dưới sự chỉ huy của Josef Krips cùng Sena Jurinac và Lucia Popp. Ông cũng đã ký một hợp đồng với Metropolitan Opera, dự kiến ra mắt vào ngày 8/10/1966 trong Don Ottavio. Wunderlich cũng để lại bản thu âm vở oratorio Die schöpfung (Joseph Haydn) dở dang mà ông thực hiện cùng Ludwig, Janowitz, Berry và Fischer-Dieskau dưới sự chỉ huy của Karajan với Berlin Philharmonic. Ông đã thực hiện xong các aria, phần recitative sau đó được Werner Krenn hát thay thế. Một tương lai đầy xán lạn cuối cùng đã kết thúc đầy đột ngột trong nước mắt và tiếc thương. Nếu được sống lâu hơn, chắc chắn Wunderlich sẽ còn cống hiến thêm rất nhiều điều phi thường.

Nhớ về người bạn thân thiết, Prey đã ngậm ngùi: “Dường như anh ấy biết được cuộc đời mình đã được đánh dấu. Anh ấy đã sống hết mình, tận dụng tối đa từng phút từng giây. Ngay cả bây giờ, bất cứ khi nào tôi gặp bạn bè và đồng nghiệp, ai trong số chúng tôi cũng luôn nói về Fritz hết nửa giờ đầu tiên”. Còn Giesen thì hồi tưởng: “Cậu ấy là một người đàn ông của tất cả mọi thứ, một người đàn ông luôn cố gắng làm tốt nhất những gì thiên nhiên đã ban tặng cho mình. Không chỉ giọng hát trong trẻo khó tả đã tạo nên sự khác biệt cho cậu ấy, không chỉ trí thông minh và sự nghiêm túc trong công việc của cậu, mà là thứ được mô tả tốt nhất bằng thuật ngữ “tính hiếu chiến” – mọi nốt nhạc đều phát ra từ toàn bộ cơ thể cậu ấy; cậu ấy gắn bó với từng nốt nhạc; trái tim của cậu ấy đã ở với từng nốt nhạc”. Thật đáng kinh ngạc với những gì mà Wunderlich đã thực hiện trong cuộc đời ngắn ngủi của mình. “Ngọn nến cháy cả hai đầu” đã cống hiến hết mình cho âm nhạc, để lại một di sản đồ sộ với rất nhiều đỉnh cao cho thế hệ sau. Và cũng giống như Dean, người chỉ đóng trong ba bộ phim nhưng đã được Viện phim Mỹ bầu chọn là nam diễn viên đứng thứ 18 trong danh sách những ngôi sao vĩ đại nhất của Lịch sử phim Mỹ thì Wunderlich, trong một cuộc bình chọn được BBC Music Magazine thực hiện vào năm 2008, Wunderlich đã xếp hạng tư trong danh sách những tenor vĩ đại nhất mọi thời đại – một sự tưởng thưởng cho một tài năng đã qua đời khi đang ở độ rực rỡ nhất, chín muồi nhất.

Cobeo