“Tôi luôn cảm thấy có mối liên hệ giữa cuộc sống thường ngày và nghệ thuật…thực tế chính là chìa khoá của tôi.” – Mirella Freni
“Sì, mi chiamano Mimi – Vâng, tên em là Mimi”, chỉ cần nhắc như vậy thôi là có lẽ hầu hết những người say mê opera trên thế giới đều liên tưởng đến ngay Mirella Freni. Không chói sáng như Maria Callas, không dữ dội như Birgit Nilsson, không lộng lẫy như Montserrat Caballé, không giằng xé như Leontyne Price, không sang trọng như Renata Tebaldi, không hoa mĩ bóng bẩy như Joan Sutherland hay Beverly Sills, vậy điều gì khiến Mirella Freni trở thành soprano được Herbert von Karajan – một trong những nhạc trưởng vĩ đại nhất thế kỉ 20 yêu mến nhất? Có lẽ đó chính là sự giản dị. Hình tượng cô gái Mimi yếu đuối trong La Bohème của Giacomo Puccini với tiếng hát mộc mạc, chân thành của Freni sẽ luôn ở sâu thẳm trong tiềm thức của những người mộ điệu như là những gì đẹp đẽ và xúc động nhất.
Mirella Fregni sinh ngày 27/2/1935 tại Modena, Ý, tám tháng trước khi Luciano Pavarotti chào đời ngay gần đó. Sau này, khi hoạt động nghệ thuật, bà đổi họ mình thành Freni vì nó dễ phát âm hơn đối với ngôn ngữ của bất kỳ quốc gia nào. Cha Mirella, ông Ennio là thợ cắt tóc và mẹ cô, Gianna, làm việc cùng mẹ của Pavarotti tại một nhà máy thuốc lá, với bối cảnh giống hệt như trong Carmen (Georges Bizet), mà Freni sẽ hoá thân vào Micaëla, cống hiến vai diễn opera đầu tiên trong sự nghiệp của mình 20 năm sau đó. Cả Mirella và cậu bé Luciano đều lớn lên dưới sự chăm sóc của cùng một bà vú. Freni sau này thường trêu chọc: “Bạn có thể nhận thấy rằng ai là người được uống tất cả sữa”! Qua những bức ảnh được Freni lưu giữ, chúng ta có thể thấy thuở nhỏ, họ thường mặc những bộ quần áo giống hệt nhau. Bà kể lại: “Có một vị trí đặc biệt trong nhà máy sản xuất thuốc lá, nơi mẹ tôi và mẹ của Luciano cùng làm việc. Khi chúng tôi còn nhỏ, chúng tôi ở lại đó rất lâu. Buổi tối, khi các bà mẹ xong việc, họ đưa chúng tôi về nhà”. Khi Mirella lên năm tuổi, người cậu Dante Arcelli đang bật đĩa nhạc danh ca Toti Dal Monte hát một trích đoạn trong Lucia di Lammermoor (Gaetano Donizetti). Freni nhớ lại: “Tôi đã hát tất cả các nốt nhạc. Gia đình tôi rất ngạc nhiên. Nhưng cha tôi, là một thợ cắt tóc như Figaro, nghĩ rằng điều đó thật không tự nhiên. Ông tát yêu tôi và nói: ‘Con đang làm gì vậy, cô bé ngốc? Tôi tức giận đến mức đã từ chối hát thêm một nốt nào nữa trong vài năm”. Chính Arcelli là người đã dạy cháu mình những bài học âm nhạc đầu tiên. Lần hát đầu tiên của Mirella trước công chúng là khi cô bé lên 10 tuổi với Sempre libera (La Traviata, Verdi). Khi 12 tuổi Mirella đã giành giải nhất trong một cuộc thi ca hát dành cho trẻ em với Un bel dì vedremo (Madama Butterfly, Puccini). Tuy nhiên, tenor huyền thoại Beniamino Gigli, một thành viên trong ban giám khảo, người đánh giá rất cao khả năng thanh nhạc của cô bé, đã khuyến cáo rằng Mirella nên từ bỏ ca hát một thời gian nếu như không muốn giọng bị tàn phá quá sớm. Mirella đã làm theo lời khuyên này, cô chỉ bắt đầu học hát vào năm 1952 khi 17 tuổi. Giáo viên của cô là Ettore Campogalliani người đã từng dạy Renata Tebaldi và người bạn học của cô lúc này chính là Pavarotti.
Từ nhà Freni đến chỗ học xa hơn 60 km. Cô và Pavarotti luôn đi chung trên một chiếc xe cũ hay hỏng hóc. Freni nhớ lại: “Tôi không biết lái xe, nên Luciano thường bắt tôi xuống xe và đẩy”. Hiếm có hai ca sĩ opera nào có mối quan hệ gần gũi với nhau như họ. Pavarotti cười: “Chúng tôi làm mọi thứ cùng nhau, trừ việc làm tình”. Ngay từ thời điểm này, Freni đã có ý thức rõ ràng về con đường sự nghiệp của mình. Cô xác định nền tảng của mình là truyền thống bel canto của Ý, tập trung vào kỹ thuật thanh nhạc trữ tình tự nhiên, truyền tải trực tiếp đến khán giả: “Tôi hát bằng giọng to, đầy đặn, nhưng không hề cố gắng hay hét lên để đạt được điều đó”. Freni rất coi trọng cảm xúc: “Tôi không muốn cảm xúc thực sự bị mất đi. Nếu không có điều đó, mọi thứ chỉ là toán học”. Ngày 3/2/1955, Freni đã có được vai diễn đầu tiên của mình với Micaëla tại Teatro Comunale, Modena. Tuy nhiên, sau màn ra mắt xuất sắc này, Freni đã rời xa sân khấu một thời gian để kết hôn với nghệ sĩ piano, nhạc trưởng, người bạn thân từ nhỏ Leone Magiera. Magiera sau này trở thành người hướng dẫn thanh nhạc và đệm đàn cho vợ mình trong 20 năm. Ngay sau đó, họ có với nhau một cô con gái, được đặt tên là Micaela, để kỷ niệm vai diễn đầu tiên của Freni.
Freni trở lại với opera vào năm 1958 khi giành chiến thắng trong Cuộc thi Âm nhạc Quốc tế mang tên Viotti tại Vercelli và hát Mimì, vai diễn đưa tên tuổi Freni trở thành huyền thoại tại Teatro Regio, Turin. Sự nghiệp quốc tế của bà bắt đầu vào năm 1960 khi Freni tham gia liên hoan Glyndebourne trong vai Zerlina (Don Giovanni, Wolfgang Amadeus Mozart), với Joan Sutherland trong Donna Anna. Ngày 10/5/1961, Freni lần đầu hát tại Covent Garden với vai Nanetta (Falstaff, Verdi) dưới sự chỉ huy của Carlo Maria Giulini. Freni lần đầu tiên được mời hát tại Piccola Scala, một khán phòng nhỏ nằm cạnh sân khấu chính nay đã không còn tồn tại, vào năm 1962, trong Romilda (Serse, George Frideric Handel) cùng Luigi Alva và Fiorenza Cossotto. Tuy nhiên, trong khi đang tập luyện, cô được yêu cầu thay thế Renata Scotto trong Nanetta và vì vậy, vào ngày 9/1/1962, cô đã có buổi ra mắt tại sân khấu chính của La Scala. Và đến cuối năm, một sự kiện xảy ra đã trở thành bước ngoặt quan trọng nhất trong cuộc đời nghệ thuật của Freni. Karajan đang tìm kiếm một soprano mới cho vai diễn Mimi cho phiên bản của đạo diễn Franco Zeffirelli. Freni nhớ lại: “Tôi gặp ông ấy trên sân khấu này (La Scala). Ông ấy muốn nghe tôi hát và tôi theo vào một căn phòng có piano. Khi ông ấy chỉ muốn nghe cảnh cuối, tôi đã rất vui mừng: ông ấy đang tìm một nghệ sĩ”. Và ngày 31/3/1963, Freni đã hát Mimi trên sân khấu La Scala, bên cạnh Gianni Raimondi dưới sự chỉ huy của Karajan và tên tuổi của bà đã được toàn bộ thế giới opera biết đến. Karajan đã trầm trồ thán phục: “Tôi chỉ khóc hai lần trong đời. Khi mẹ tôi mất và hôm nay khi cô chết trên sân khấu”. Khán giả đã được chứng kiến trong Mimi tất cả những gì tuyệt vời nhất mà một soprano trữ tình có thể thể hiện: vẻ đẹp lôi cuốn, màu sắc phong phú, sự mong manh đầy cảm xúc, chân thành và ấm áp. Freni đã nhanh chóng trở thành soprano yêu thích nhất của Karajan và Mimi là chiếc chìa khoá mở toang tất cả những cánh cửa nhà hát opera danh giá nhất trên thế giới. Tuy nhiên, ngay cả khi đã trở thành một ngôi sao, Freni cũng phải hứng chịu thất bại đầu tiên trong sự nghiệp của mình. Ngày 17/12/1964, Freni hát Violetta (La Traviata, Verdi), dưới sự chỉ huy của Karajan. Một bộ phận khán giả vẫn chưa nguôi ngoai nỗi nhớ Callas, người đã có màn hoá thân hoàn hảo vào vai diễn này đã lên kế hoạch hò hét, huýt sáo mỗi khi Freni xuất hiện. Freni thản nhiên đối mặt: “Tôi biết sẽ có những tiếng la ó, họ đã nói với tôi từ trước rồi. Điều đó đã được quyết định trước khi tôi hát bất kỳ nốt nhạc nào. Nhưng tôi vẫn hát, và nhìn xem, tôi vẫn ở đây! Nó chẳng giết được tôi”. Và đó cũng là lần cuối cùng Freni bị chê bai trên sân khấu.
Bộ tứ Freni, Raimondi, Karajan và Zeffirelli đã đưa La Bohème tới Vienna State Opera và Metropolitan Opera. Tại bất cứ nơi đâu, Freni cũng được đón chào và tán dương nồng nhiệt. Sau buổi ra mắt tại Metropolitan Opera vào ngày 29/9/1965, Alan Rich đã viết trên New York Herald Tribune: “Freni thật tuyệt vời, giọng hát của cô tỏa ra sức quyến rũ không thể cưỡng lại được. Chắc chắn rằng cô ấy sẽ trở thành một ngôi sao. Khi nghe cô hát, ta thấy toát ra đơn giản là sự mộc mạc nhưng bên cạnh đó là một sự thông minh đến bất ngờ. Bằng giọng hát và diễn xuất của mình, Freni đã tạo ra một Mimi tràn đầy nữ tính và duyên dáng”. Từ năm 1965 đến năm 1968, Mirella Freni đã trở thành lyric soprano chủ lực của Metropolitan Opera, chiếm lĩnh những vai diễn quan trọng trong opera Ý và Pháp như Mimi, Adina (L’elisir d’amore (Rượu tình), Donizetti), Liù (Turandot, Puccini) Micaëla hay hai vở opera quan trọng của Charles Gounod: Marguerite (Faust) và Juliette (Roméo et Juliette). Freni đã thực sự bước vào hàng ngũ những tinh hoa của nền opera thế giới. Ngày 26/2/1968, lần đầu tiên Freni và Pavarotti xuất hiện chung trong một vở opera khi hát trong La figlia del reggimento (phiên bản tiếng Ý của La fille du régiment (Con gái của trung đoàn, Donizetti).
Những năm 1970 đánh dấu một thay đổi lớn trong danh mục biểu diễn các tác phẩm của Freni. Thay vì những vai trữ tình Freni đã chuyển sang hát những vai nặng hơn như các vai nữ chính trong các vở opera của Verdi như: Elisabeth (Don Carlo), Desdemona (Otello), Elvira (Ernani) Leonora (La forza del destino) hay Amelia (Simon Boccanegra). Những vai diễn này không hề làm giọng hát của bà xấu đi bởi vì Freni sở hữu một khả năng kĩ thuật rất tốt, rất linh hoạt cộng với một nghệ thuật xử lý vai diễn cực kì thông minh và tinh tế. Chính Karajan là người đã khuyến khích bà hướng tới những gì kịch tính hơn. Ông rất yêu thích màn hoá thân của Freni trong Desdemona, từng nói rằng mình đã phải chờ đợi hơn 40 năm để có thể chứng kiến vai diễn này được hát tuyệt vời đến như vậy. Dù đã mở rộng kịch mục nhưng Freni vẫn luôn cẩn thận: “Tôi hào phóng theo nhiều cách, nhưng không phải khi tôi nghĩ điều đó sẽ hủy hoại giọng hát của mình. Một số ca sĩ nghĩ họ là những vị thần có thể làm mọi thứ. Nhưng tôi thì luôn thành thật với bản thân và khả năng của mình”. Không phải không có những áp lực dành cho Freni, nhưng bà vẫn đứng vững: “Tuy nhiên, thật không dễ để từ chối lời mời từ các nhà hát như La Scala hay Metropolitan, những thánh đường opera, hay từ những nhạc trưởng lừng danh. Tôi đã bao lần bị Herbert von Karajan thúc giục biểu diễn Il Trovatore, Tosca hay Madama Butterfly trên sân khấu! Tôi đã từ chối những lời mời đó bởi vì tôi luôn muốn dành sự tôn trọng tối đa cho giọng hát của mình, và cho thời gian nó cần để phát triển, hơn là tìm kiếm sự thỏa mãn cá nhân hay lợi ích kinh tế”. Freni đã tự giới hạn mình, chỉ hát một số trích đoạn trong những vở opera này và để lại vài bản thu âm Tosca và Madama Butterfly. Năm 1978, Freni kết hôn lần hai với giọng bass lừng danh Nicolai Ghiaurov sau khi chia tay Magiera trước đó. Chính đám cưới này đã đem lại cho Freni thêm một tình yêu nữa với những vở opera của Pyotr Ilyich Tchaikovsky. Freni đã hát lại Tatiana trong Eugene Onegin mà bà đã từng lãng quên từ gần 20 năm về trước. Bên cạnh đó là những lần ra mắt trong Lisa (The Queen of Spades, Con đầm pích) và Joan of Arc (The Maid of Orléans, Nữ anh hùng xứ Orléans) cũng như đưa các bài hát Nga vào danh mục các tác phẩm biểu diễn của mình trong các chương trình hoà nhạc.
Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Freni chưa bao giờ đánh mất vẻ đẹp chân thành và ấm áp trong giọng hát trữ tình nguyên bản của mình. Riccardo Muti cho biết: “Bà biết cách diễn đạt những giai điệu Ý một cách du dương và tự nhiên, không phóng đại, không hời hợt. Bà đi thẳng vào bản chất của câu hát”. Không nhiều soprano có được một sự nghiệp kéo dài khoảng 60 năm như Freni, thành tựu được bà đánh giá là có được nhờ sự lựa chọn vai diễn một cách sáng suốt: “Khi được gợi ý một vai diễn, tôi luôn dành thời gian dài để luyện tập riêng tại nhà. Trong sự nghiệp của tôi, câu trả lời ‘không’ nhiều hơn là ‘có’”. Khán giả Ý trìu mến gọi bà với cái tên La Prudentissima (con người thận trọng nhất, khôn ngoan nhất).
Năm đầu tiên của thập niên 80 đánh dấu sự chia tay của Freni với Karajan. Trước đó, năm 1979, với sự gợi ý của Karajan, Freni đã đồng ý hát Aida (Aida, Verdi) trong bản thu âm cùng José Carreras, Agnes Baltsa, Piero Cappuccilli. Đây là một vai dành cho soprano kịch tính, điều khiến các nhà phê bình đã phàn nàn rằng Freni đã bị Karajan “bóc lột sức lao động”. Và đến khi vị nhạc trưởng người Áo đề nghị bà hát Turandot (một trong những vai diễn nặng nhất dành cho soprano, sánh ngang với các vai nữ chính trong opera của Wagner) thì Freni đã thẳng thừng từ chối và với tính cách độc đoán như thường lệ của mình, Karajan không bao giờ mời Freni cộng tác với ông nữa. Freni giải thích với Chicago Tribune vào năm 1994: “Ca sĩ chúng tôi cũng giống như võ sĩ quyền Anh ở chỗ chúng tôi có hạng cân riêng. Nếu bạn vượt ra ngoài những hạng cân đó, bạn sẽ gặp rắc rối. Nếu tôi là một võ sĩ hạng bán trung, tôi hài lòng với việc có một sự nghiệp dài lâu với tư cách nhà vô địch thế giới hạng bán trung. Nhưng nếu tôi cố nhảy lên hạng nặng, thì chắc chắn tôi sẽ ăn một cú hạ đo ván. Và thế là kết thúc”.
Năm 1990, với sự cộng tác của Giuseppe Gherpelli, bà cho phát hành cuốn hồi ký Mio Caro Teatro (Nhà hát yêu dấu của tôi). Vào giai đoạn này, giọng hát của Freni vẫn còn vô cùng sung sức. Sau khi thưởng thức màn hoá thân của Freni trong Manon (Manon Lescaut, Puccini) vào tháng 2/1990, Donal Henahan đã ca ngợi trên Times: “Điều kỳ diệu của Mirella Freni ở giai đoạn này trong sự nghiệp bà là bà vẫn tiếp tục hát Puccini với sự nhiệt tình dường như liều lĩnh trong khi vẫn giữ được âm thanh tươi mới và đẹp đến ngạc nhiên”. Theo thời gian, giọng hát của Freni đã trầm hơn và bà tiếp tục tìm kiếm những thử thách mới. Ngoài những vở opera Nga, bà tìm đến những tác phẩm verismo (chân thực) như Adriana Lecouvreur (Francesco Cilea) hay Fedora (Umberto Giordano). Với Fedora, Freni có buổi biểu diễn cuối cùng tại La Scala vào ngày 14/6/1996, bên cạnh Plácido Domingo: “Tôi rất vui khi được trở lại đây, La Scala như nhà của tôi vậy”. Tháng 4/1998, Freni hát vai diễn mới cuối cùng trong sự nghiệp của mình: Caterina Madame Sans-Gêne (Giordano). Tổng cộng, Freni có khoảng 40 vai diễn khác nhau trong các vở opera của Ý, Pháp và Nga. Lý giải cho sức sống lâu bền của mình, Freni cho biết: “Mọi người luôn hỏi bí quyết của tôi, phép màu là gì, tại sao tôi vẫn ở đây? Tôi yêu và tôn trọng nhạc cụ của mình. Tôi sinh ra đã có bản năng về điều đúng đắn, kỹ thuật chuẩn xác, và hầu hết tôi tự rèn luyện. Nhiều người từng nói tôi sẽ hủy hoại giọng với vài vai tôi hát, nhưng tôi vẫn ở đây”.
Cùng với Ghiaurov, bà thành lập Centro Universale del bel canto tại Vignola, gần Modena và dạy các lớp master class cho các sinh viên thanh nhạc tài năng trên khắp thế giới tại đây với mục đích truyền bá nghệ thuật bel canto. Sau khi Ghiaurov qua đời ngày 2/6/2004, Freni vẫn tiếp tục công việc này. Freni luôn nhắc nhở học sinh của mình: “Phải hát bằng tất cả trái tim, phải cảm nhận được nghĩa của những lời mình hát và phải bộc lộ cảm xúc thật sự của mình tại bất kì thời điểm nào” và khuyên nhỏ họ: “Hãy kiên nhẫn! Các em phải biết chờ đợi”. Năm tháng đã trôi qua, cô gái Mimi xinh đẹp, ngây thơ ngày nào giờ đã ngoài 70 tuổi. Bà vẫn xuất hiện trên những sân khấu lớn với một sức sống tươi trẻ đáng kinh ngạc. Ngày 11/4/2005, tại Kennedy Center, Freni xuất hiện cùng Washington National Opera trong Joan of Arc. Tim Page đã viết trên Washington Post: “Liệu Freni, người đang bước vào nửa thế kỷ thứ hai trước công chúng, có còn thể hiện được vai cô thôn nữ Pháp trẻ tuổi trở thành nữ chiến binh vĩ đại này? Câu trả lời là tiếng ‘có’ vang dội. Freni hát chuẩn xác; cường độ không hề suy giảm; bà điều tiết sức mạnh của mình bằng trí tuệ sắc bén; diễn xuất khi thì dữ dội, khi thì dịu dàng tùy theo yêu cầu của tác phẩm”. Đó cũng là lần cuối cùng Freni hát trọn vẹn trong một vở opera. Chỉ sau đó ít lâu, ngày 15/5/2005, Metropolitan Opera tổ chức một đêm diễn kỉ niệm 50 năm ngày Freni bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp và 40 năm ngày ra mắt của Freni trên sân khấu này. Bà vẫn thật tuyệt vời với các aria trong các vở opera Adriana Lecouvreur, Manon (Jules Massenet), The Maid of Orléans và tỏa sáng trong màn 3 của Eugene Onegin. Freni thật xứng đáng với lời khen ngợi của Newsday: “Sự duyên dáng của tuổi thanh xuân vĩnh cửu và chất trữ tình ngọt ngào không bờ bến, Freni là một con người phi thường”! Đây là lần thứ 140 bà hát trên sân khấu Metropolitan Opera và sau buổi biểu diễn này Freni đã quyết định giã từ sự nghiệp và nhiều lần từ chối những lời mời quay trở lại: “Tôi nói: ‘Xin lỗi, tôi bận rồi’. Nếu tôi nói ‘đồng ý’, tôi có thể hát mỗi ngày – mỗi ngày. Thật kinh khủng. Tôi muốn có một cuộc sống bình thường. Giờ tôi có thời gian cho bản thân, cho gia đình, cho khu vườn của mình”.
Freni đã quyết định dành phần còn lại của cuộc đời mình để sống và dạy học tại Modena. Thị trưởng Modena Gian Carlo Muzzarelli tự hào về bà: “Bà ấy vẫn sẽ sống cùng chúng tôi, tại nơi bà sinh ra và chọn để sống, nơi bà đã cống hiến rất nhiều và dạy dỗ những người trẻ tài năng trên thế giới”. Freni qua đời ngày 9/2/2020 ở tuổi 84 ở nhà riêng sau một thời gian dài mắc bệnh thoái hoá và trải qua một loạt cơn đột quỵ, Ngày 12/2, tang lễ trọng thể của bà đã được diễn ra với lễ rước quan tài qua Teatro Comunale (lúc này đã được đổi tên thành nhà hát Pavarotti). Đây không chỉ là địa điểm cho sự khởi đầu của một huyền thoại 65 năm về trước mà còn là bằng chứng sống động cho thấy cuộc đời của Freni đã gắn bó với opera ngay từ khi mới sinh ra vì bà suýt nữa đã được sinh ra trên một trong những chiếc ghế dài tại chính nhà hát này. Tuy nhiên, mẹ bà dù đang trong những ngày cuối thai kỳ vẫn đến Teatro Comunale, đã trở về nhà kịp lúc trước khi sinh. Tổng Giám đốc Peter Gelb của Metropolitan Opera tiếc thương: “Mirella Freni là một trong những soprano vĩ đại nhất từng hát trên sân khấu Metropolitan Opera. Trong suốt sự nghiệp kéo dài bốn thập kỷ tại Metropolitan, Mirella là nữ anh hùng hoàn hảo của Puccini và Verdi, luôn cất lên giọng hát đẹp đẽ và duyên dáng, làm tan chảy trái tim khán giả bằng những màn trình diễn đầy cảm xúc. Nếu có một bảo tàng danh vọng opera, bà sẽ được vinh danh ngay từ vòng bỏ phiếu đầu tiên”. Để tri ân một trong những người con ưu tú nhất của quê hương, Teatro Comunale, một lần nữa được đổi tên, thành Teatro Comunale Pavarotti-Freni. Hai người bạn thân thiết từ thuở nhỏ lại một lần nữa ở bên nhau.
Một trong những đam mê khác của Freni là bóng đá. Khi Ý gặp Bulgaria tại bán kết World Cup 1994. Freni đã nói với ông chồng người Bulgaria của mình: “Nếu anh ở phòng khách, em sẽ vào phòng ngủ”. Với vẻ ngoài quyến rũ trên sân khấu, sức hút thầm lặng và sự yếu đuối đầy cảm xúc trong giọng hát, giữa bạt ngàn các soprano lừng danh trong những năm 1960-1970, Freni vẫn có một chỗ đứng vững chắc và độc đáo, không ai có thể thay thế được. Và khi những đồng nghiệp cùng thời với bà, người đã mất, người nghỉ hưu, Freni vẫn bền bỉ cống hiến, trở thành người đại diện cuối cùng cho di sản opera vĩ đại của nước Ý, đặc biệt trong bối cảnh mọi thứ đều được quốc tế hoá. Domingo đã nói vào năm 1997: “Truyền thống đó đang chấm dứt. Mirella là mắt xích cuối cùng. Sau đó, người ta không thể thấy ai thực sự nối tiếp bà”. Mặc dù bản thân Freni từ chối coi mình người như vậy trong một cuộc phỏng vấn sau đó: “Anh hãy cho tôi biết tại sao tôi lại là người cuối cùng của một truyền thống. Tôi đã làm việc một cách trung thực. Tôi đã làm việc chăm chỉ và vui vẻ” nhưng tất cả những ai là khán giả trung thành của opera, dõi theo bước phát triển của nghệ thuật này trong suốt thế kỷ 20 có lẽ đều đồng ý với Domingo. Bởi lẽ, một giọng hát hay thôi chưa bao giờ là đủ. Sự khác biệt nằm ở chiều sâu diễn giải, đòi hỏi trí thông minh sắc sảo, kỹ thuật điêu luyện, khả năng nhập vai với sự chân thật bẩm sinh. Và ở Freni, bà hội tụ đầy đủ các yếu tố đó và phát huy chúng một cách trọn vẹn và sâu sắc nhất.
Cobeo





