Tác giả: Maurice Ravel.
Tác phẩm: Concerto piano giọng Son trưởng
Thời gian sáng tác: Từ 1929 đến 14/11/1931. Tuy nhiên chương đầu và cuối đã được phác thảo từ năm 1914.
Công diễn lần đầu: Ngày 14/1/1932 với Marguerite Long độc tấu dưới sự chỉ huy của tác giả với Orchestre Lamoureux, Paris.
Độ dài: Khoảng 22 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được đề tặng cho nữ nghệ sĩ piano Marguerite Long.
Tác phẩm có 3 chương:
Chương I – Allegramente
Chương II – Adagio assai
Chương III – Presto
Thành phần dàn nhạc: Piano độc tấu, piccolo, flute, oboe, English horn, 2 clarinet, 2 bassoon, 2 horn, trumpet, trombone, timpani, triangle, snare drum, cymbals, bass drum, tam-tam, wood block, whip, harp và dàn dây.

Từ lâu, Ravel đã có định sáng tác một concerto piano. Ngay từ năm 1906, Ravel đã tiết lộ với nhà phê bình âm nhạc Léon Vallas về ý tưởng này. Năm 1913, ông nói với Stravinsky rằng ông đang tập trung lại vào nó. Nhưng chỉ sau chuyến lưu diễn thành công đến Mỹ vào năm 1828, Ravel – lúc này đã củng cố danh tiếng như là một trong những nhà soạn nhạc xuất sắc nhất thế hệ – mới chính thức bắt tay vào sáng tác bản concerto piano. Ông đã lên kế hoạch đích thân biểu diễn nó trên khắp thế giới. Vì vậy, trong tác phẩm này, ta có thể nhận thấy một tuyên ngôn về mục tiêu và nghệ thuật, một chân dung âm nhạc của Ravel. Phản ứng lại chủ nghĩa anh hùng và khoa trương của các concerto thế kỷ 19, Ravel đã nói về tác phẩm mới của mình: “một concerto theo nghĩa chân thật nhất của từ này… Ý tôi là nó được viết cùng tinh thần với Mozart và Saint-Saëns. Theo quan điểm của tôi, âm nhạc của concerto nên là vui tươi và rực rỡ đồng thời không nhắm đến sự sâu sắc và các hiệu ứng kịch tính. Nhiều người có nhắc đến các tác phẩm kinh điển vĩ đại (đặc biệt là Brahms) rằng concerto không phải “cho” mà là “chống lại” piano. Tôi chân thành đồng ý. Tôi đã dự định đặt tên concerto này là “Divertissement”. Sau tôi nhận ra rằng không cần thiết phải làm như vậy, bởi vì Concerto là đã đủ rõ ràng rồi”.
Ban đầu Ravel dự định đích thân đảm nhiệm phần piano trong buổi biểu diễn ra mắt tác phẩm mới. Tuy nhiên, những vấn đề về sức khoẻ và áp lực công việc khiến Ravel phải từ bỏ. Vinh dự đó được chuyển sang cho nữ nghệ sĩ tài năng Marguerite Long, người được coi là bậc thầy trong việc diễn giải Faure và Debussy, cũng như Ravel. Trước đó, Ravel cũng đã dự định đề tặng Long bản concerto piano của mình. Long nhớ lại: “Tại ngôi nhà của Mme de Saint-Marceaux, sau khi ăn tối, Ravel nói thẳng với tôi: “Tôi đang soạn một concerto piano cho chị. Chị có phiền không nếu tôi kết thúc nó bằng pianissimo và những nốt láy rền?”. “Tất nhiên không”, tôi đã trả lời và chỉ còn lại sự hạnh phúc vì thực hiện được ước mơ trình diễn một tác phẩm bậc thầy”.

Bản concerto mở đầu với tiếng whip vô cùng đặc trưng. Piano bắt đầu với vai trò đệm cho piccolo và trumpet giới thiệu chủ đề chính vui vẻ của chương nhạc. Một đoạn piano độc tấu trầm ngâm xen lẫn với một giai điệu mới, mang đậm chất nhạc jazz của clarinet, trumpet và piccolo. Piano mở ra một chủ đề hai trữ tình, rộng rãi nhưng nhanh chóng bị những nốt nhạc ngắn, chát chúa, lặp đi lặp lại ngắt quãng. Bassoon tiếp lấy chủ đề, dẫn đến một loạt các đoạn nhanh, phô diễn kỹ thuật của piano và chủ đề jazz được tái hiện. Những nốt nhạc sáng chói này đảm nhận trọng trách kép, tổng kết chủ đề hai và phần phát triển – Ravel đã bỏ qua một phần phát triển dài theo truyền thống, có lẽ để phù hợp với một bản concerto “vui tươi và rực rỡ”.
Phần độc tấu hóm hỉnh dẫn đến sự nhắc lại của chủ đề chính, lần này được chơi trên piano. Ngay sau đó là một đoạn solo đầy lung linh, huyền bí của harp. Sự trở lại của chủ đề hai trữ tình như là phần cadenza của chương nhạc, được mở rộng cho piano độc tấu. Những âm thanh chát chúa biến mất; thay vào đó là phần đệm với những nốt láy rền biểu cảm, tinh tế. Dàn dây quay trở lại gần như không thể nhận thấy, hoàn thành chủ đề khi piano thể hiện kỹ thuật với những nốt nhạc hoa mỹ khép lại chương nhạc.

Chương II Adagio assai là lý do giải thích tại sao chúng ta không chỉ thích và còn say mê tác phẩm này. Đây là một trong những chương nhạc đẹp và sâu lắng nhất từng được viết. Nó bắt đầu với một giai điệu dài do piano độc tấu mà đôi khi chúng ta tưởng là ngẫu hứng. Mặc dù có tính chất tự phát, Ravel đã thú nhận: “Đoạn nhạc mới trôi chảy làm sao! Những ô nhịp mà tôi đã sáng tác! Nó gần như giết chết tôi!”. Một phần của sự bí mật rất đơn giản, phần đệm ở nhịp 6/8 còn giai điệu là ¾. Hai nhịp hoà vào nhau, tạo ra một sự căng thẳng tinh tế dưới bề mặt yên tĩnh của âm nhạc. Bản thân giai điệu đã khoe được tính nhịp điệu tuyệt vời, thường xuyên tránh những nhịp mạnh và những thứ trang trí khác. Phần đệm ở nhịp 6/8 xuyên suốt chương nhạc và chỉ chuyển sang ¾ ở ô nhịp áp chót.
Sau giai điệu ban đầu của piano là một phần tương phản của dàn nhạc. Kèn gỗ trò chuyện thân mật với nghệ sĩ độc tấu, lúc này bắt đầu một giai điệu lãng du. Các nét nhạc hoa mỹ, trang trí của piano trở nên nhanh hơn trong khi hoà âm cũng trở nên nhiều cảm xúc và mãnh liệt hơn, đạt tới một cao trào tinh tế. Giai điệu mở đầu trở lại trên English horn với piano đóng vai trò nhạc cụ đệm. Kèn gỗ trở lại trong một coda ngắn khép lại chương nhạc.

Chương cuối trở lại với tiết tấu sôi nổi như chương đầu. Một cái kính vạn hoa gồm nhiều mảnh ghép là các motif xoay xung quanh bản nhạc vui vẻ này, bắt đầu bằng những hợp âm cao vút. Hai ý tưởng khác đóng vai trò quan trọng: một là giai điệu mang tính chất hành khúc và khúc quân nhạc của kèn đồng. Âm thanh của bộ gõ đưa tâm trí chúng ta trở lại chương I của bản concerto và tiếng nổ cuối cùng có cùng màu sắc của bass drum mà chúng ta đã nghe khi kết thúc chương I. Chương kết ngắn gọn và không thể cưỡng lại hoàn toàn phù hợp với lý tưởng của Ravel về một bản concerto “vui tươi và rực rỡ” và không thể không nhận thấy âm hưởng jazz trong đó.

Ravel chính thức bắt tay vào sáng tác bản concerto piano này sau khi thực hiện chuyến lưu diễn tại Mỹ. Vì vậy, không hề ngạc nhiên khi nhạc jazz chiếm một phần đáng kể trong chất liệu tạo ra tác phẩm này. Trên thực tế, Ravel đã đưa jazz vào âm nhạc của mình từ trước, điển hình là trong chương II bản violin sonata. Bên cạnh đó, là người con xứ Basque, một vùng đất có truyền thống và văn hoá rất đặc trưng, ý tưởng đưa âm nhạc Basque vào concerto piano đã có ngay từ năm 1906.
Mong ước mang bản concerto piano đi lưu diễn vòng quanh thế giới của Ravel đã không thành công. Ông và Long đành phải bằng lòng với một chuyến đi châu Âu khiêm tốn hơn. Tác phẩm đã được đón nhận và ca ngợi tại mọi điểm dừng chân. Thật đáng tiếc, đây lại là một trong những tác phẩm cuối cùng của Ravel. Ông bị một tai nạn xe hơi vào năm 1932 và sức khoẻ suy sụp kể từ đó. Ông qua đời vào năm 1937. Bản concerto piano đã trở thành một minh chứng cho thiên tài độc đáo của Ravel.

Cobeo