Tác giả: Antonín Dvořák
Tác phẩm: Giao hưởng số 9 giọng Mi thứ “Từ thế giới mới”, Op. 95, B. 178
Thời gian sáng tác: Từ 10/1/1893 đến 24/5/1893.
Công diễn lần đầu: Ngày 16/12/1893 tại Carnegie Hall với nhạc trưởng Anton Seidl và New York Philharmonic. Tuy nhiên thực tế đã có một buổi tổng duyệt vào ngày 15 trước đó.
Độ dài: Khoảng 40-45 phút.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Adagio – Allegro molto
Chương II – Largo
Chương III – Molto vivace
Chương IV – Allegro con fuoco
Thành phần dàn nhạc: 2 flute (flute 2 kiêm piccolo), 2 oboe (oboe 2 kiêm English horn), 2 clarinet, 2 bassoon, 4 horn, 3 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, triangle, cymbals và dàn dây.

Nhận lời mời của Jeannette Thurber, từ năm 1892-1895, Dvořák trở thành giám đốc của National Conservatory of Music of America, New York. Tại đây, Dvořák choáng ngợp trước kho tàng âm nhạc dân gian Mỹ. Ông thường xuyên đề nghị một chàng trai sinh viên da đen đang học sáng tác Harry T. Burleigh chơi nhạc và hát những bài hát tôn giáo và truyền thống của người da đen. Dvořák đã thốt lên: “Tôi tin rằng âm nhạc tương lai của đất nước này phải được xây dựng dựa trên những giai điệu của người da đen. Trong những giai điệu này, tôi đã khám phá ra tất cả những gì cần thiết cho một trường phái âm nhạc vĩ đại và cao quý. Nước Mỹ có thể có âm nhạc của riêng mình, một thứ âm nhạc hay lớn lên từ mảnh đất của chính mình và có nét đặc trưng riêng – tiếng nói của một quốc gia tự do và vĩ đại”. Dvořák đã nắm bắt tinh thần đó và nung nấu ý định đưa vào bản giao hưởng mới của mình.
Từ khi ra đời đến nay, bản giao hưởng số 9 luôn được các nhà phê bình tranh cãi rằng liệu Dvořák có sử dụng các bài hát của người Mỹ gốc Phi trong tác phẩm này không. Dvořák đã trình bày quan điểm rõ ràng của mình trong những bức thư cho bạn bè và cả công khai với công chúng. Trong cuộc trả lời phỏng vấn với New York Herald, ông nhấn mạnh: “Đó đơn thuần chỉ là tinh thần của những giai điệu da đen và da đỏ mà tôi cố gắng sử dụng trong bản giao hưởng của mình. Tôi không thực sự sử dụng bất cứ một giai điệu nào”. Tuy nhiên hầu hết các nhà âm nhạc học đều đồng ý rằng chủ đề cuối của chương đầu được lấy cảm hứng, có thể là vô thức từ ca khúc tôn giáo “Swing Low, Sweet Chariot”. Một số nét giai điệu và cấu trúc nhịp điệu tương đồng đến nỗi khó có thể gọi đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên.
Buổi ra mắt bản giao hưởng mới của Dvořák được chờ đợi với sự cuồng nhiệt bất thường vì chính những lời Dvořák phát ngôn trước đó về âm nhạc bản địa Mỹ. Nhà soạn nhạc Victor Herbert khi được hỏi liệu bản giao hưởng có ảnh hưởng đến tương lai của âm nhạc Mỹ hay không thì nhận được câu trả lời: “Có, nếu nhà soạn nhạc là Dvořák”. Sự đón nhận tác phẩm được miêu tả rõ rệt nhất trong bức thư của Dvořák gửi cho nhà xuất bản của mình Simrock: “Bạn thân mến của tôi! Sự thành công của bản giao hưởng vào 2 ngày 15 và 16 thật tuyệt vời. Các tờ báo đã nói rằng chưa có một nhà soạn nhạc nào đạt được thành công như vậy. Tôi ngồi ở lô, trong một khán phòng tuyệt nhất New York và mọi người hoan hô lâu đến mức tôi phải bày tỏ lòng cảm kích của mình từ trong lô như một vị vua (đừng cười). Anh biết rằng tôi rất muốn tránh những lời tung hô như thế nhưng tôi phải làm điều đó và xuất hiện”.

Trong tổng thể, nhìn vào việc lựa chọn chất liệu cho chủ đề và bầu không khí của toàn bộ tác phẩm, Dvořák thực sự đã dấn thân vào một “thế giới mới” trong khi cấu trúc của bản giao hưởng lại trung thành sâu sắc tới các hình thức truyền thống của âm nhạc châu Âu. Chương I Allegro molto được viết ở hình thức sonata và bắt đầu với một đoạn giới thiệu chậm Adagio. Ngoài việc thực tế là phần giới thiệu cho thấy trước những chất liệu của chương I, đặc biệt là chủ đề chính, được thiết lập một ý tưởng ngay từ đầu, có thể được miêu tả là 1 kiểu leimotif cho thời kỳ ở Mỹ của Dvořák.
Giai điệu du dương này chúng ta có thể bắt gặp tại chương III Tứ tấu đàn dây giọng Mi giáng trưởng hay Humoresque số 1 cho piano của ông. Theo như hướng dẫn của Dvořák, toàn bộ phần giới thiệu này nên được “vẽ ra, bất cứ nơi đâu có thể” mà không phải lúc nào cũng được quan sát trong thực tế. Phần trình bày chương I được cấu thành từ 3 ý tưởng: Chủ đề chính khác biệt với sự tương phản giữa phần thông báo và phản hồi. Phần kèn lệnh thông báo là một nhân tố xác định của bản giao hưởng khi nó tiến triển, sẽ xuất hiện ở điểm chính trong các chương sau. Chủ đề hai của chương I khẳng định tính chất “Mỹ-Czech” của bản giao hưởng chơi trên giọng thứ là những chất liệu của âm nhạc người dân da đỏ. Tuy nhiên ở phần phát triển tiếp theo của chủ đề, tính chất lại hoàn toàn thay đổi: chuyển sang giọng chính, giai điệu mở rộng âm vực và âm nhạc bất ngờ gần như trở thành một điệu Polka của Czech.
Phần giới thiệu của chủ đề kết thúc nhịp điệu tương đồng với chủ đề chính nhưng ở mặt khác lại hoàn toàn khác biệt với tính chất trữ tình. Nó thường được ghi nhớ khi có giai điệu gần giống với bài hát tôn giáo “Swing Low, Sweet Chariot”. Chủ đề này cũng sẽ được Dvořák sử dụng trong các chương tiếp theo của bản giao hưởng.
Phần phát triển chủ yếu đề cập đến chủ đề chính và phần thông báo của chủ đề cuối cùng. Phần tái hiện gần như lặp lại chính xác phần trình bày, sự khác biệt duy nhất là ở chủ thứ hai và cuối cùng chênh nửa cung. Phần coda ấn tượng với tiếng timpani vang rền đạt đến cao trào của chủ đề chính trên tiếng bộ đồng và toàn bộ dàn nhạc.

Chương II Largo bắt đầu với các hợp âm hài hoà đáng chú ý của bộ hơi. Chủ đề chính của chương nhạc rất bao la, là một giai điệu đơn giản trên English horn trên nền dàn dây chơi sử dụng sordino. Chủ đề này ban đầu được cho là chơi trên clarinet nhưng sau đó nhà soạn nhạc đã thay đổi với lý do English horn gợi nhớ lại giọng của Harry T. Burleigh, người đã giới thiệu cho Dvořák các bài hát của người bản địa. Thêm vào đó, bản thân chủ đề cũng có sự khác biệt, nhiều chất “châu Âu” hơn so với phiên bản trước đó. Tương phản với các bản phác thảo, tổng phổ được thiết lập chặt chẽ ở giọng thứ nhưng về tổng thể, sự thay đổi quan trọng là tăng cường tính ngũ cung của giai điệu. Ở đoạn giữa chương xuất hiện một đoạn nhạc ở giọng Đô thăng thứ, chứa đựng tâm trạng hoài cổ, có thể tưởng tượng đến những thảo nguyên ở Mỹ rộng lớn và hoang vắng, cách điệu hoá lời than vãn của người da đỏ đồng thời cũng phản ánh nỗi nhớ nhà. Hình ảnh nhớ nhung khôn nguôi này càng được củng cố khi âm nhạc dẫn đến một hành khúc tang lễ trên nền pizzicato của double bass.
Sau đó là một phân đoạn gần giống với một khúc scherzo ở giọng Đô thăng thứ với cao trào đầy năng lượng kết hợp chặt chẽ vài chủ đề chính: chủ đề Largo, chủ đề chính và chủ đề cuối cùng của chương I. Chương nhạc tổng kết với phần trở lại nhẹ nhàng của chủ đề chính và sự trở lại của các hợp âm trong phần mở đầu.

Chương III được viết theo hình thức A-B-A. Theo lời của Dvořák, phần này của bàn giao hưởng được liên kết với “bữa tiệc nơi người da đỏ gặp gỡ”, điều mà ông đã thấy được miêu tả trong bài thơ sử thi Bài hát của Hiawatha của Henry Wadsworth Longfellow. Toàn bộ tính chất của phần A và cảm giác cấp bách ngày càng tăng được cho là giống hệt với đoạn thơ mô tả vũ điệu hoang dã của nhà ảo thuật Pau-Puk-Keewis từ chương lễ cưới của bài thơ trên. Nhịp điệu khuấy động của phần A chỉ bị gián đoạn khi ở đoạn giữa, trong bầu không khí điền viên của nó, tương phản đến mức có thể coi đó là một trio nhỏ. Phần trio thực sự, phần B, khác xa với nhịp điệu hoang dã của phần A. Và đó không phải tất cả: chất âm nhạc “Mỹ” dường như biến mất. Một giai điệu khiêu vũ tương tự như một bài dân ca Czech, ở phần giữa của nó, được làm nổi lên với những bước nhảy ngắn thanh nhã và sự rung lắc tinh tế.
Sau sự lặp lại của phần A là đến một coda mà trong một cách diễn đạt trang trọng, thách thức âm điệu tổng thể của chương nhạc và do đó đại diện cho sự chuyển đổi khái niệm nhất định về chương cuối. Coda xuất hiện một hồi tưởng khác, sự trở lại của chủ đề cuối cùng trong chương đầu tiên.

Chương IV có những dấu hiệu cụ thể để cho rằng được viết theo hình thức sonata với đầy đủ các phần trình bày, phát triển và tái hiện. Tuy nhiên, nguyên tắc hồi tưởng, đỉnh cao của chương nhạc này, giới thiệu các yếu tố cách tân của hình thức vào trong cấu trúc của chương nhạc; đặc biệt điều này liên quan rõ ràng đến việc sử dụng chủ đề của các chương trước. Trong bản giao hưởng số 9 của Beethoven, phần mở đầu của chương IV mang đến một vài kiểu tái hiện chủ đề của các chương trước đó, sau đó sẽ không thêm bất kỳ cái gì nữa. Ngược lại, Dvořák bộc lộ chất liệu của những chủ đề trong các chương trước đó nhưng lại bắt đầu với phần phát triển. Ngay cả đối với Dvořák, chủ đề chính của chương IV hùng hồn và hiệu quả một cách lạ thường. Hơn nữa, ngay lập tức định hình lần đầu tiên rất ấn tượng trên bè kèn đồng, đã định hình trước tâm trạng của toàn bộ chương nhạc.
Chủ đề 2 tương phản dần đàn khẳng định được chỗ đứng của mình với một bản cantilena khoáng đạt, trữ tình. Chủ đề cuối cùng tràn đầy năng lượng củng cố ấn tượng ban đầu về tâm trạng của toàn bộ chương nhạc.
Phần phát triển là bằng chứng về trí tưởng tượng vô cùng phong phú của Dvořák trong việc mở mang khai phá những chủ đề và kỹ năng của ông trong việc giới thiệu những cách tiếp cận các phương pháp sáng tác mới. Ví dụ, trong phần này, ông đã đan xen các chủ đề chính của chương II, III và IV.
Phần tái hiện được viết tóm tắt hơn nếu so sánh với phần giới thiệu. Vì vậy, bản coda hùng vĩ càng nổi bật hơn khi thể hiện tất cả các ý tưởng chính của bàn giao hưởng, bao gồm cả những hợp âm đầu của phần Largo vĩ đại.
Bản giao hưởng số 9 thật sự là bình minh của âm nhạc Mỹ. Và cho dù có những kết nối thực sự tới âm nhạc bản địa Mỹ thì “Từ thế giới mới” vẫn là một bản giao hưởng lãng mạn của châu Âu và chỉ được sáng tác trên đất Mỹ. Nó vẫn mang rất nhiều chất Bohemia như những gì trước đó Dvořák đã từng sáng tác. Chúng ta nên nhớ rằng khi hoàn thành bản giao hưởng này, Dvořák vẫn chưa bước chân ra ngoài New York.
Dù vẫn luôn có những thắc mắc như vậy, bản giao hưởng số 9 “Từ thế giới mới” vẫn là một tuyệt tác. Nó tràn ngập giai điệu và sự kịch tính. Cảm xúc của tác phẩm trải dài từ dịu dàng trầm lắng đến mạnh mẽ, bùng nổ. Bên cạnh đó, Dvořák đã mở rộng các nguyên tắc sáng tác giao hưởng mà ông được thừa hưởng từ Beethoven, Schumann, Brahms.
Tác phẩm đã được đón nhận ngay từ khi mới xuất hiện và ngay lập tức trở thành bản giao hưởng được yêu thích và công diễn nhiều nhất của Dvořák. Không còn nghi ngờ gì nữa, “Từ thế giới mới” là một trong những tuyệt tác không chỉ trong những sáng tác của Dvořák mà còn của cả kho tàng nhạc cổ điển thế giới.

Cobeo