CHƯƠNG XXII – CÔNG VIỆC!… LUÔN LÀ CÔNG VIỆC!…
Vào đầu mùa đông năm trước, Henri Cain đề xuất với Henri Heugel, để khiến tôi nhận lời một cách chắc chắn hơn vì biết nhà xuất bản có ảnh hưởng đến tôi, một kịch bản opéra dựa trên tiểu thuyết nổi tiếng của Alphonse Daudet: Sapho.
Tôi đã tới miền núi với một tâm can nhẹ nhõm. Không lãnh đạo Nhạc viện và chẳng còn các lớp phải dạy, tôi cảm thấy trẻ ra hai chục tuổi! Tôi viết Sapho với một niềm hăng say mà tôi hiếm khi có được cho đến lúc đó.
Chúng tôi sống trong một biệt thự, nơi tôi cảm thấy mình thật cách xa mọi sự, xa tiếng ồn ào, xa cái náo nhiệt, xa sự dịch chuyển không ngừng và bầu không khí sục sôi của thành phố! Chúng tôi đi bộ, du ngoạn đường dài bằng xe ngựa qua xứ sở xinh đẹp đã được khen ngợi rất nhiều vì sự đa dạng của phong cảnh nhưng vẫn chưa được quá nhiều người biết đến. Chúng tôi lặng lẽ đi. Đồng hành cùng suy nghĩ của chúng tôi chỉ là tiếng róc rách của dòng nước chảy dọc những con đường và tỏa hơi mát cho chúng tôi; đôi khi chính tiếng nước phun trào từ một con suối nào đó làm gián đoạn sự tĩnh lặng của thiên nhiên phong phú. Cả những con đại bàng đang lao xuống từ những núi đá dốc đứng, “nơi ở của sấm sét” theo lời Lamartine, cũng làm chúng tôi sửng sốt khi trong một chuyến bay táo bạo mà khiến không trung vang lên những tiếng kêu chói gắt.
Trong suốt hành trình tâm trí tôi luôn làm việc và lúc trở về các trang nhạc đã chất chồng.
Tôi say mê tác phẩm này và biết bao vui mừng được cho Alphonse Daudet nghe thử trước tiên bởi anh là người bạn rất thân thiết mà tôi đã biết khi cả hai chúng tôi còn trẻ!
Nếu tôi có phần cả quyết khi nói về khoảng thời gian này, ấy là vì trong sự nghiệp đã khá dài của tôi có bốn tác phẩm mang lại cho tôi những niềm vui trong quá trình sáng tác mà tôi sẵn lòng xếp vào loại tuyệt diệu, đó là: Marie-Magdeleine, Werther, Sapho và Thérèse.
Đầu tháng 9 cùng năm, một sự việc khá hài hước đã xảy ra. Hoàng đế Nga đến Paris. Có thể nói không ngoa rằng toàn bộ dân chúng đã đố ra đường để xem đoàn diễu hành qua các đường phố và đại lộ. Những người bị thu hút bởi sự tò mò đến từ khắp mọi nơi; con số ước tính vào khoảng một triệu người có vẻ không phải là cường điệu.
Chúng tôi làm như những người khác; các gia nhân của chúng tôi cũng ra khỏi nhà; căn hộ của chúng tôi bị bỏ vắng. Chúng tôi ở nhà bạn, bên một cửa sổ nhìn ra Công viên Monceau. Đám diễu hành vừa đi qua thì chúng tôi chợt lo lắng khi nghĩ rằng thời điểm này đặc biệt thuận lợi cho lũ trộm đột nhập vào những căn hộ vắng chủ, chúng tôi vội vã trở về.
Đến ngưỡng cửa nhà mình, những tiếng thì thầm vọng ra từ bên trong khiến chúng tôi vô cùng rối trí. Chúng tôi biết các gia nhân vẫn chưa về. Đích thị rồi! Nhà chúng tôi đang bị trộm!…
Chúng tôi lo sợ bước vào và… cảnh chúng tôi thấy trong phòng khách là Emma Calvé và Henri Cain đang trò chuyện cùng nhau trong lúc đợi chúng tôi. Ngơ ngác thay!… Kịch tính thay!… Cả bọn chúng tôi phá ra cười đến bể bụng trước tình huống lạ lùng này. Các gia nhân của chúng tôi đã về nhà trước chủ và đương nhiên đã mở cửa cho các vị khách đáng mến này, những người đã khiến chúng tôi vô cùng kinh hãi trong giây lát! Ôi sức mạnh của trí tưởng tượng, đây đúng là những sáng tạo ngông cuồng của mi!
***
Carvalho đã chuẩn bị xong bản mẫu bối cảnh và phục trang cho việc dàn dựng Lọ Lem và khi biết Emma Calvé đang ở Paris, ông liền chuẩn bị cho Sapho.
Cùng với nhân vật chính đáng ngưỡng mộ trong Cô gái xứ Navarre, ở London và ở Paris, chúng tôi có các nghệ sĩ trình diễn là nữ nghệ sĩ quyến rũ Julia Guiraudon (người về sau trở thành vợ của cộng sự Henri Cain của tôi) và ông Leprestre, người hiện đã qua đời.
Tôi đã kể về niềm vui tột độ mà mình cảm thấy khi soạn nhạc cho Sapho, một tác phẩm trữ tình gồm 5 màn. Henri Cain và Arthur Bernède thân mến đã viết libretto một cách rất khéo léo.
Từ trước cho tới lúc đó các buổi diễn tập một tác phẩm dường như chưa bao giờ hấp dẫn tôi hơn thế.
Ôi các nghệ sĩ xuất sắc! Cùng với họ, công việc diễn tập êm đềm và thú vị biết bao!
Trong khi các buổi diễn tập nối tiếp nhau một cách thú vị, một tối nọ, vợ chồng tôi đi ăn tối với Alphonse Daudet, người quyến luyến chúng tôi biết mấy.
Những bản in thử đầu tiên đã được đặt trên giá đàn piano.
Tôi tưởng như vẫn thấy Daudet trước mắt mình, ngồi rất thấp trên một chiếc đệm và gần như chạm vào phím đàn bằng khuôn mặt kháu khỉnh được mái tóc rậm rì tuyệt đẹp bao quanh một cách phóng túng. Tôi thấy anh tỏ ra rất xúc động. Vẻ lơ đãng do tật cận thị càng khiến đôi mắt anh diệu vợi hơn, qua đó bộc lộ tâm hồn đầy chất thơ trong sáng và cảm động của anh.
Thật khó có thể tìm lại được những khoảnh khắc như những khoảnh khắc mà vợ chồng tôi đã trải qua khi ấy.
Danbé, người bạn thời thơ ấu của tôi, khi buổi tập Sapho đầu tiên sắp diễn ra, đã nói với các nhạc công trong dàn nhạc rằng họ sắp biểu diễn một tác phẩm thật cảm động.
Cuối cùng, buổi công diễn lần đầu đến vào ngày 27 tháng 11 năm 1897.
Đêm diễn đó hẳn rất tuyệt vời, bởi chuyến phát thư đầu tiên ngày hôm sau đã mang đến cho tôi lời nhắn như sau:
“Massenet thân mến,
“Tôi rất vui mừng trước thành công to lớn của anh.
“Massenet và Bizet non omnis moriar [tiếng Latin: sẽ không chết hẳn].
“Người bạn trìu mến của anh.
“Alphonse Daudet.”
Tôi được biết rằng người bạn yêu quý và cộng sự nổi tiếng của mình đã tham dự buổi công diễn lần đầu ở cuối một lô tầng trệt, mặc dù anh không còn hoặc rất hiếm khi ra khỏi nhà.
Sự hiện diện của anh tại buổi diễn càng khiến tôi cảm động hơn.
Một buổi tối khi tôi quyết định đến hậu trường nhà hát, diện mạo của Carvalho khiến tôi sửng sốt. Vốn là người hoạt bát và ăn mặc rất bảnh bao nhưng giờ đây lưng ông còng xuống và ta có thể thấy đôi mắt vằn đỏ của ông đằng sau cặp kính xanh. Tuy nhiên tính hài hước và lòng tốt ông dành cho tôi vẫn y như trước.
Tình trạng của ông khiến tôi không khỏi lo lắng.
Những linh cảm buồn bã của tôi có căn cứ biết bao!
Vị giám đốc tội nghiệp của tôi qua đời hai ngày sau đó.
Gần như cùng lúc đó, tôi hay tin Daudet, người có cuộc đời viên mãn một cách đáng ngưỡng mộ, đã nghe tiếng đồng hồ điểm giờ khắc cuối cùng của mình. Ôi chiếc đồng hồ huyền bí và không biết động lòng! Tôi cảm thấy bị một đòn đau tột độ.
Đoàn đưa tang Carvalho được một đám đông theo sau. Con trai ông bật khóc sau xe tang và gần như không nhìn được nữa. Ai cũng đớn đau thấm thía trong đám rước buồn bã và xúc động này.
Lễ tang Daudet được cử hành vô cùng long trọng ở Sainte-Clotilde. “Nỗi cô đơn” trích từ Sapho (khúc chuyển đầu màn 5) được biểu diễn trong buổi lễ sau ca tiếp liên Dies iræ.
Tôi đã buộc phải chen lấn, gần như bằng vũ lực, qua đám đông lớn biết bao để vào được nhà thờ. Việc đó tựa như một phản ánh sống động và háo hức của đoàn dài những người hâm mộ và bạn bè mà anh đã có trong đời.
Khi rưới nước thánh lên quan tài, tôi nhớ lại lần cuối mình đến thăm phố Bellechasse, nơi Daudet sống. Khi đến báo tin tức nhà hát, tôi mang tặng anh những nhành khuynh diệp, một trong những loài cây miền Nam anh yêu thích. Tôi hiểu niềm vui sâu kín mà điều này đem lại cho anh.
***
Trong khi đó, Sapho vẫn tiếp tục hành trình của mình. Tôi đến Saint-Raphaël, xứ sở mà Carvalho đã rất thích sinh sống.
Tôi đang trông cậy vào căn hộ mình đã dặt trước ở đó thì người chủ tòa nhà nói với tôi rằng ông ta để cho hai quý cô rất bận rộn thuê nó.
Tôi đang định tìm một nơi ở khác thì được gọi lại. Tôi biết rằng hai quý cô sắp thế chỗ tôi là Emma Calvé và một người bạn của cô. Những quý cô này, chắc chắn là khi nghe nhắc đến tên tôi, đã đột ngột thay đổi lộ trình của mình. Tuy nhiên sự hiện diện của họ ở vùng đất khá xa Paris này cho tôi thấy rằng Sapho của chúng tôi đã phải tạm dừng biểu diễn.
Ý thích bất chợt nào của một nghệ sĩ như vậy mà lại không được miễn thứ cơ chứ?
Tôi biết rằng hai ngày sau tất cả đã trở về trật tự, ở Paris, ở nhà hát. Giá mà tôi có ở đó để ôm hôn kẻ bỏ trốn đáng yêu của chúng ta!
Hai tuần sau, khi ở Nice, qua báo chí tôi hay tin Albert Carré đã được bổ nhiệm Giám đốc Nhà hát Opéra-Comique. Trước giờ nhà hát tạm thời nằm dưới sự quản lý của Viện Mỹ thuật.
Khi ấy ai có thể nói với tôi rằng chính vị giám đốc mới của chúng ta sau này sẽ phục dựng Sapho cùng với nữ nghệ sĩ xinh đẹp đã trở thành vợ mình?
Đúng vậy, chính cô là hiên thân của Sapho của Daudet qua diễn xuất quyến rũ hiếm có.
Giọng nam cao Salignac đã thành công rực rỡ trong vai Jean Gaussin.
Trong lần phục dựng này, Albert Carré yêu cầu tôi chèn một cảnh mới là cảnh những bức thư, và tôi đã nhiệt tình làm theo ý tưởng của anh.
Một nữ nghệ sĩ rất cá tính khác cùng vào vai Sapho là bà Georgette Leblanc, người đã trở thành vợ của văn sĩ vĩ đại Maeterlinck.
Cô Bréjean-Silver cũng khiến vai diễn này thành một nhân vật chân thực đến kinh ngạc.
Biết bao nghệ sĩ xuất sắc khác đã hát trong tác phẩm này!
Vở opéra đầu tiên được trình diễn khi nhà hát có lãnh đạo mới là Hòn đảo ước mơ [l’Île du Rêve] của Reynaldo Hahn. Anh đề tặng tôi tổng phổ tuyệt vời này. Âm nhạc do bậc thầy thực sự này viết mới thấm thía làm sao! Tài năng biết mấy khi nó bao bọc chúng ta bằng những vuốt ve ấm áp!
Nó không giống với thứ âm nhạc của một vài đồng nghiệp mà Reyer cảm thấy không thể chịu nổi và một tối nọ ông đã đưa ra nhận xét giàu hình tượng này:
“Tôi vừa gặp tượng Grétry trên cầu thang, ông đã hết chịu nổi và đang bỏ chạy…”
Điều này khiến tôi nhớ đến một câu đùa cũng dí dỏm ngang thế mà du Locle nói với Reyer một ngày sau khi Berlioz qua đời:
“Chà, bạn thân mến, giờ đây Berlioz đã đi trước anh rồi!”
Du Locle có thể cho phép mình thực hiện trò đùa vô hại này vì là bạn lâu năm nhất của Reyer.
***
Tôi tìm thấy những lời này từ tác giả của Louise, người khi xưa là một cậu học trò nhỏ trong lớp tôi dạy tại Nhạc viện, và là người luôn dành cho tôi tình cảm gia đình:
“Saint-Sylvestre, nửa đêm.
“Kính thưa Thầy,
“Ký ức thủy chung về lòng trìu mến của thầy, vào ngày tất niên kết thúc với Sapho, và vào giờ đầu tiên của năm mói sẽ khép lại bằng Lọ Lem.
“Gustave Charpentier.”
Lọ Lem không ra mắt cho đến tận ngày 24 tháng 5 năm 1899. Các tác phẩm này, được trình diễn kế tiếp nhau nhanh chóng trong vòng hơn một năm, đã khiến tôi nhận được những lời sau đây từ Gounod:
“Bạn thân mến ơi, một ngàn lời chúc mừng thành công lớn mới nhất của anh. Ác liệt thật!… Nhưng!… anh đi nhanh đến mức người ta khó có thể theo kịp.”
Như tôi đã kể, tổng phổ Lọ Lem, dựa trên một trong những viên ngọc sáng nhất trong hộp đồ tư trang “Những câu chuyện của Perrault”, đã được hoàn thành từ lâu. Nó đã nhường chỗ cho Sapho, trên sân khấu Nhà hát Opéra-Comique. Giám đốc mới Albert Carré thông báo với tôi ý định dàn dựng Lọ Lem trong mùa diễn tiếp theo nhưng từ đó đã mười sáu tháng trôi qua.
Tôi sống ở Aix-les-Bains, để tưởng nhớ người cha đáng kính từng sống ở đó, và trong khi đang tập trung sáng tác Đất hứa, oratorio ba màn với kịch bản dựa trên Kinh thánh, vợ chồng tôi bàng hoàng trước tin tức khủng khiếp về vụ hỏa hoạn ở Hội chợ Từ thiện. Con gái yêu của chúng tôi là nhân viên bán hàng ở đó!…
Chúng tôi phải đợi đến tối mới nhận được một bức điện và hồi tâm sau cơn kinh hoảng.
Một sự trùng hợp kỳ lạ mà rất lâu sau này tôi mới biết là người sắm vai nữ chính trong Perséphone và Thérèse, cũng như sắm vai nàng “Dulcinée” xinh đẹp, cũng nằm trong số những cô gái bán hàng tại quầy hàng của Nữ công tước Alençon. Khi ấy cô mới mười hai hay mười ba tuổi. Giữa cơn hoảng loạn chung, cô phát hiện ra một lối ra phía sau Hôtel du Palais, và nhờ đó đã cứu được mẹ cô cùng bốn người nữa.
Điều này chứng tó sự quả quyết và lòng can đảm hiếm có ở một đứa trẻ.
Bởi đã nhắc đến Đất hứa, tôi xin kể thêm là mình đã có một buổi nghe thử ngoài mong đợi. Eugène d’Harcourt, nghệ sĩ và nhà phê bình được nhiều người lắng nghe, nhà soạn nhạc được hoan nghênh nhiệt liệt của một Tasso được trình diễn ở Monte-Carlo, đã đề nghị tôi chỉ huy buổi biểu diễn tại Nhà thờ Saint-Eustache, với một dàn nhạc và một dàn hợp xướng đông đảo.
Phần thứ hai của vở được dành cho sự kiện chiếm thành Jéricho. Một hành khúc, bị gián đoạn bảy lần bởi âm thanh rực rỡ của bảy cây tuba lớn, kết thúc bằng sự sụp đổ của những bức tường thành trứ danh, Đại lộ Judée, mà người Do Thái đã chiếm được rồi phá hủy. Cùng với đó là tiếng sấm rền khủng khiếp từ cây dàn ống lớn của Nhà thờ Saint-Eustache, bị lấn át bởi tiếng ầm ào vang dội của cả dàn hợp xướng.
Tôi cùng vợ tham dự buổi tổng duyệt từ trên một đài ngồi lớn, nơi chúng tôi có vinh dự dược vị cha xứ đáng kính của Nhà thờ Saint-Eustache mời lên.
Đó là ngày 15 tháng 3 năm 1900!
***
Tôi trở lại với Lọ Lem. Albert Carré đã dàn dựng vở opéra này với một bối cảnh sân khấu vừa mới mẻ vừa tuyệt vời!
Julia Guiraudon xuất sắc trong vai Lọ Lem, bà Deschamps-Jehin gây kinh ngạc ở vai trò ca sĩ lẫn diễn viên, cô Emelen xinh đẹp vào vai Hoàng tử Quyến rũ của chúng tôi và Fugère vĩ đại tỏ ra là một nghệ sĩ khôn tả trong vai Pandolphe. Anh chính là người gửi cho tôi thông báo chiến thắng mà tôi nhận được vào sáng hôm sau tại Enghien-les-Bains, nơi tôi cùng vợ chọn làm điểm nghỉ mát gần Paris để trốn khỏi các buổi “tổng duyệt” và “công diễn lần đầu”.
Hơn sáu mươi buổi diễn không gián đoạn, gồm cả các suất diễn sáng, nối tiếp sau buổi công diễn lần đầu này. Anh em nhà Isola, các giám đốc của Nhà hát Gaîté, sau đó đã tổ chức một số lượng lớn các buổi biểu diễn và điều kỳ lạ đối với một tác phẩm có vẻ đậm chất Paris là nước Ý đặc biệt dành cho Lọ Lem sự đón nhận rất nồng nhiệt. Ở Rome, tác phẩm trữ tình này đã được biểu diễn khoảng ba mươi lần, một con số hiếm có! Tôi nhận được từ Mỹ một bức điện tín có nội dung như sau:
“Lọ Lem hôm qua, thành công phi thường.”
Từ cuối cùng trong bức điện quá dài đã bị bưu cục gửi ngắt làm đôi!…
***
Vậy là chúng tôi đang ở năm 1900, vào những khoảnh khắc đáng nhớ của Triển lãm Lớn.
Vừa mới hồi phục sau cảm xúc đẹp đẽ từ Đất hứa tại Nhà thờ Saint-Eustache thì tôi lâm bệnh nặng. Khi ấy các buổi diễn tập để phục dựng Le Cid đang được tiến hành tại Nhà hát Opéra. Buổi diễn thứ một trăm của vở này rơi vào tháng 10 cùng năm.
Cả Paris vui vẻ! Thủ đô, một trong những chốn nhiều người lui tới nhất thế giới, càng có đông người lui tới hơn bởi tất cả các dân tộc hẹn gặp nhau ở đó. Mọi dân tộc chen vai hích cánh nhau ở đó, người ta nghe thấy mọi thứ ngôn ngữ ở dó, thấy mọi loại trang phục tương phản nhau ở đó.
Nếu cuộc Triển lãm gửi lên bầu trời hàng triệu nốt nhạc vui và không thể không giành được một vị trí danh dự trong lịch sử, thì khi màn đêm buông xuống, đám đông lớn này chạy đi tìm sự nghỉ ngơi sau những cảm xúc trong ngày tại các nhà hát mở cửa khắp nơi; nó xâm chiếm cung điện tráng lệ mà Charles Garnier thân yêu và vĩ đại của chúng ta đã nâng lên thành những biểu hiện của nghệ thuật trữ tình và thành nơi tôn thờ Vũ khúc.
Giám đốc Gailhard của chúng ta, người đã đến thăm tôi vào tháng 5 khi tôi ốm rất nặng, đã bắt tôi hứa sẽ tham dự, trong lô riêng của anh, buổi biểu diễn thứ một trăm mà anh hy vọng tổ chức được và quả thực đã diễn ra vào tháng 10. Vào ngày này tôi đã nhận lời mời của anh.
Cô Lucienne Bréval, các ông Saléza và Frédéric Delmas đã được hoan hô nhiệt liệt vào đêm diễn thứ một trăm của Le Cid. Khi nghe tiếng gọi ra sân khấu sau màn ba, Gailhard dùng vũ lực đẩy mạnh tôi ra phía trước lô bất chấp sự kháng cự của tôi…
Các con thân yêu ơi, các con có thể đoán được chuyện gì đã diễn ra trên sân khấu, trong hố nhạc cự phách của Nhà hát Opéra, và trong khán phòng chật kín người.
Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch




