“Nghệ sĩ piano Hungary tài năng nhất thế kỷ.” – Georg Solti
Không hề thiếu lời ngợi khen cho những màn trình diễn của Annie Fischer. Sviatoslav Richter viết: “Annie Fischer là nghệ sĩ vĩ đại, thấm đẫm tinh thần cao cả và chiều sâu đích thực”. Còn Maurizio Pollini thì ca ngợi “sự giản dị như trẻ thơ, tính trực tiếp và vẻ kỳ diệu” mà ông cảm nhận được trong lối chơi của bà. Martha Argerich thì coi Fischer là “Nữ nghệ sĩ piano mà tôi yêu thích nhất”. Chỉ cần đọc qua những lời ca tụng Fischer từ những đồng nghiệp đáng kính của bà là chúng ta đã có cái nhìn khái quát về một trong những nghệ sĩ tài năng nhất của thế kỷ 20. Chắc chắn đó là những nhận xét phản ánh một cá tính nghệ thuật thật sự độc đáo. Lối chơi của Fischer mang nhiều yếu tố bản năng, bà không bao giờ chơi cùng một bản nhạc hai lần. Như một nhà phê bình nhận xét, phong cách biểu diễn của Fischer như thể bà sáng tác Beethoven ngay trên cây đàn và chiến đấu với nó một cách dữ dội. Những nốt nhạc tuôn chảy dưới đôi tay bà, giàu cảm xúc, khi thì êm ái như vuốt ve, khi lại rắn rỏi như sắt thép. Không hài lòng với không khí trong phòng thu, Fischer để lại rất ít bản thu âm, không hề tương xứng với tầm vóc sự nghiệp và ý nghĩa nghệ thuật của bà. Chính vì vậy, di sản của bà chưa bao giờ được đánh giá một cách trọn vẹn và chính xác.
Annie Fischer sinh ngày 5/7/1914 trong một gia đình Do Thái tại Budapest. Ngay từ khi còn nhỏ, cô bé đã gây được ấn tượng mạnh mẽ khi bộc lộ tài năng âm nhạc thiên bẩm của mình. Annie có thể chơi lại trên piano bất kỳ giai điệu nào mà mình nghe được trước đó. Annie có buổi biểu diễn đầu tiên của mình vào cuối năm 1923 khi cô chưa đầy 10 tuổi với hai chương cuối trong Concerto piano số 1 của Ludwig van Beethoven. Điều đáng thú vị là tài năng của Annie đã thu hút được sự chú ý của nhà phê bình âm nhạc trẻ, lớn hơn cô 16 tuổi, Aladár Tóth. Tóth đã viết một bài báo rất tích cực ca ngợi buổi biểu diễn của Annie, trong đó có đoạn “cô bé nhỏ bé, mong manh này, khi ngồi trước piano, nội tâm đã tràn đầy suy tư của một tâm hồn nghệ sĩ đích thực, một sự cô đơn tách biệt khỏi thế gian. Em tràn đầy sự nghiêm túc và một khí chất chân thành, đầy bản sắc”, mà không hề ngờ được rằng, cô bé đó sau này sẽ trở thành vợ anh. Annie có chuyến xuất ngoại đầu tiên vào năm 14 tuổi. Tại Zurich, cô đã biểu diễn các tác phẩm của Frédéric Chopin, Franz Liszt, Claude Debussy cũng như Concerto piano số 23 của Wolfgang Amadeus Mozart và concerto piano của Robert Schumann và để lại rất nhiều những ấn tượng tốt đẹp “kỹ thuật điêu luyện bậc thầy và chiều sâu cùng độ chín trong hiểu biết âm nhạc của cô ấy thật khó mà lý giải nổi ở độ tuổi này”.
Từ năm 1925, Fischer đã theo học tại Học viện Âm nhạc Liszt ban đầu với Arnold Székely và sau đó, từ năm 1929, dưới sự hướng dẫn của nhà soạn nhạc và nghệ sĩ piano Ernst von Dohnányi, một trong những tên tuổi nổi bật nhất của Hungary vào thời điểm này. Cô nhanh chóng phát triển một kỹ thuật điêu luyện cùng khả năng cảm thụ âm nhạc trưởng thành trong quá trình học tập và sự thấu hiểu âm nhạc vượt trội ở độ tuổi còn rất trẻ của cô mà hiếm ai có thể sánh kịp. Kể từ khi tốt nghiệp vào năm 1932 với thành tích xuất sắc, cô luôn được xem là một trong những cựu sinh viên đáng nhớ nhất của Học viện Âm nhạc Liszt và sau này được phong làm giáo sư danh dự vào năm 1965. Năm 1933, là thí sinh trẻ nhất nhưng Fischer đã giành giải nhất tại Cuộc thi piano quốc tế mang tên Franz Liszt được tổ chức lần đầu tiên tại Budapest. Kết quả cuối cùng gây tranh cãi vì Fischer đã trình diễn Concerto piano số 1 của Liszt tại vòng chung kết không thực sự tốt. Điều này cũng dễ hiểu vì ban đầu cô không có kế hoạch tham gia cuộc thi này nên chỉ học bản concerto trong vài ngày. Người được cho là xứng đáng giành chiến thắng hơn là nghệ sĩ người Liên Xô Taras Mykyscha. Mykyscha đã giành được sự ưu ái lớn của khán giả và giới truyền thông khi có màn trình diễn xuất sắc Concerto piano số 2 của Liszt và là người duy nhất thực hiện điều này tại vòng chung kết. Có lẽ Fischer giành được ấn tượng sâu sắc từ ban giám khảo từ những vòng trước đó, thể hiện được nền tảng kỹ thuật toàn diện cũng như cảm thụ âm nhạc sâu sắc, đặc biệt là qua Sonata piano của Liszt ở vòng bán kết. Ngoài ra cũng có những chỉ trích rằng các thí sinh quốc tịch Hungary được ưu ái hơn, đặc biệt là Fischer vì trưởng ban giám khảo chính là Dohnányi, thầy giáo cũ của cô. Việc tranh cãi kiểu như vậy trong một cuộc thi là điều thường xuyên xảy ra. Có thể tại đây, Fischer thể hiện chưa tốt bằng Mykyscha. Nhưng nếu nhìn một cách rộng hơn, xa ra khỏi cuộc thi, thí sinh nào có thành tựu tốt hơn trong tương lai, có được sự nghiệp vẻ vang hơn thì người đó xứng đáng giành giải nhất. Nhìn dưới góc độ này, Fischer là sự lựa chọn chính xác.
Bất chấp những ầm ĩ từ cuộc thi, sự nghiệp của Fischer thăng tiến một cách nhanh chóng. Bà nhanh chóng nhận được những lời mời biểu diễn trên khắp châu Âu, từ đó có cơ hội hợp tác với nhiều nhạc trưởng hàng đầu như Otto Klemperer, Willem Mengelberg, Adrian Boult hay Ernest Ansermet. Năm 1937, bà kết hôn với Tóth, lúc này đã trở thành một trong những nhà phê bình âm nhạc hàng đầu Hungary. Cuộc hôn nhân này như một câu chuyện cổ tích vì Tóth kể từ lần đầu chứng kiến tài năng của Fischer đã không ngừng theo dõi sự phát triển của bà, tham dự hầu hết các chương trình của Fischer bất cứ khi nào có thể. Sau khi làm đám cưới, Tóth không còn viết bài đánh giá về vợ mình nữa nhưng nguồn cảm hứng và sự ủng hộ trọn đời của ông đã đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp của Fischer. Sau khi Thế chiến thứ hai nổ ra, Hungary gia nhập phe Trục. Vì có nguồn gốc Do Thái, Fischer và chồng đã phải tị nạn tại Thuỵ Điển từ năm 1941. Tại đây, bà vẫn tiếp tục biểu diễn khắp vùng Scandinavia và bắt đầu dạy học. Những bài giảng của bà thường không giới hạn thời gian và sau đó Tóth nối tiếp, giới thiệu về những kiệt tác opera. Năm 1946, họ trở về nước và màn trình diễn của Fischer trong Concerto piano số 1 của Johann Sebastian Bach đã trở thành một sự kiện quan trọng.
Kể từ thời điểm này, vợ chồng Fischer trở thành những nhân vật quan trọng không chỉ trong đời sống âm nhạc mà cả chính trị tại Hungary. Tóth trở thành tổng giám đốc Hungarian State Opera còn Fischer trở thành “đại sứ âm nhạc”, đi lưu diễn tại nhiều nơi trên thế giới. Chính nhờ vị thế của mình, họ đã giúp đỡ được rất nhiều đồng nghiệp như nghệ sĩ piano Tamás Vásáry cho biết: “Annie và Aladár Tóth – giống như người thầy của tôi Zoltán Kodály – đã sử dụng tên tuổi và tầm ảnh hưởng của họ để giúp đỡ những nghệ sĩ bị thiệt thòi và phân biệt đối xử”. Fischer lần đầu tiên biểu diễn tại Mĩ vào ngày 5/2/1961. Trong Concerto piano số 22 của Mozart, bà xuất hiện tại Carnegie Hall cùng George Szell và Cleveland Orchestra. Sau đó là những buổi độc tấu tại nhiều thành phố khác. Fischer bắt đầu thực hiện các bản thu âm của mình từ những năm 1950. Fischer cực kỳ cầu kỳ, liên tục thúc đẩy bản thân để có được phiên bản tốt nhất của bất kỳ tác phẩm nào bà thực hiện. Nhưng bà nhanh chóng chán ghét chúng. Với Fischer, tất cả những diễn giải nếu không có khán giả đều là giả tạo. Bà giảm dần công việc này và sau đó gần như chấm dứt hẳn, nên phần lớn di sản còn lại chỉ là một số bản thu trực tiếp tại các buổi biểu diễn của Fischer.
Hai vợ chồng Fischer dành mùa hè và phần lớn thời gian rảnh rỗi tại ngôi nhà của họ ở ven hồ Balaton, cách Budapest khoảng 80km về phía tây nam. Đây là nơi bà dành nhiều thời gian để luyện tập trong yên tĩnh, tránh xa những náo nhiệt và áp lực công việc. Fischer không thích bị nghe lén khi đang luyện tập, vì thế được bà cho phép lật trang nhạc khi bà học tác phẩm mới là một vinh dự lớn đối với lũ trẻ địa phương. Dù đã đến nhiều nơi trên thế giới nhưng Fischer tuyên bố không đổi cảnh hoàng hôn ở hồ Balaton lấy bất cứ thứ gì. Tại đây, vợ chồng Fischer gặp gỡ đồng nghiệp. Kodály, Solti hay Elisabeth Schwarzkopf đều đã đến đây, họ thảo luận về âm nhạc và biểu diễn cùng nhau. Nơi đây còn được giới âm nhạc Hungary gọi là “ngôi nhà trí tuệ”. Giai đoạn từ giữa những năm 1950 đến những năm 1960 là thời kỳ hoàng kim của Fischer. Danh tiếng của bà lên cao hơn bao giờ hết. Fischer được mời biểu diễn trên khắp thế giới, là thành viên ban giám khảo của rất nhiều cuộc thi uy tín, từ đó gặp gỡ và kết bạn với nhiều nhân vật danh tiếng. Trong đó, Richter dành một sự kính trọng lớn lao đối với Fischer, gọi bà là “quý bà của cây đàn piano”. Giữa hai ngưởi nảy sinh một tình bạn thân thiết: “Annie Fischer rất thẳng thắn và tôi nghĩ cô ấy không hề khéo léo trong ngoại giao, vì vậy bạn có thể tin tưởng cô ấy, cô ấy sẽ nói cho bạn mọi thứ trong khi nhìn sâu vào mắt bạn”.
Sức hấp dẫn trong nghệ thuật chơi piano của Fischer đến từ cách diễn giải tác phẩm hơn là kỹ thuật. Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc so sánh bà với Alfred Cortot, người mà việc truyền tải tinh thần của âm nhạc là yếu tố quan trọng nhất. Và cũng giống như Cortot, Fischer thường chơi sai vài nốt nhạc trong các buổi biểu diễn nhưng điều đó không làm giảm đi sự cuốn hút và tính hấp dẫn vì có một thứ luôn chính xác, đó là ý tưởng và tâm hồn của tác phẩm. Điều Fischer suy nghĩ là hướng đến tổng thể chứ không bao giờ sa đà vào chi tiết trong bản nhạc. Cách chơi của bà tự do, phóng khoáng và đầy tính chủ quyền, điều này dẫn đến việc, như Vásáry nói: “Bà trở thành ác mộng của những nhạc trưởng”. Fischer là nghệ sĩ Hungary đầu tiên biểu diễn ba bản concerto trong một chương trình. Những nhà soạn nhạc yêu thích của bà là Mozart, Beethoven, Schumann hay Johannes Brahms. Fischer cũng thường xuyên biểu diễn tác phẩm của các tác giả đồng hương như Liszt hay Béla Bartók. Ngoài thời gian ở Thuỵ Điển, Fischer không chính thức giảng dạy. Tünde Csoba, nghệ sĩ piano duy nhất có thời gian học tập dài dưới sự hướng dẫn của Fischer, đã ca ngợi bà: “Bà rất khó chịu với kiểu chơi piano ‘rỗng tuếch’… Đối với bà, chỉ có một điều là quan trọng và người nghệ sĩ phải đối diện với điều đó: nhà soạn nhạc đã nghĩ gì, đã cảm thấy gì, vì sao ông viết tác phẩm này hay tác phẩm kia và ông muốn nói điều gì. Dù cho ngày nay tất cả những điều đó có thể hoàn toàn không thể nắm bắt được. Nhưng chính đây là thứ phải đưa đến cho khán giả, đó là điều duy nhất có ý nghĩa”. Những nghệ sĩ piano từng tiếp xúc với bà đều được hưởng nhiều lợi ích từ lời khuyên của Fischer. Một trong những người như vậy là Donatella Failoni cho biết: “Những điều bà nói luôn là điều hiển nhiên, chỉ có điều người ta không nghĩ ra. Không ai có thể dạy được nhiều như bà: chỉ với vài lời, bà đã đưa mọi thứ vào đúng chỗ và con người như được chắp cánh bay lên”. Và không cần đến tiếp xúc trực tiếp, chỉ qua các bản thu âm, Fischer cũng tạo ra ảnh hưởng to lớn đến những nghệ sĩ trẻ. Peter Donohoe nói: “Chính bản thu âm Concerto piano số 3 của Beethoven do bà thể hiện đã gây ảnh hưởng sâu sắc đến tôi, khi tôi lần đầu học tác phẩm này vào năm 12 tuổi…”. Còn András Schiff cho biết: “Annie Fischer thật tuyệt vời, bà là thần tượng của tôi… lần đầu tiên tôi nghe bà chơi là sonata của Schubert, khi tôi còn rất nhỏ. Thật xuất sắc”.
Tóth qua đời vào ngày 28/10/1968, đó là sự mất mát và nỗi buồn to lớn đối với Fischer. Bà ngừng biểu diễn trong nhiều tháng và ngưng hoàn toàn việc thu âm, ngoại trừ vài lần ít ỏi nhằm phục vụ cho mục đích phát thanh. Phải đến cuối năm 1977, Fischer mới đồng ý thực hiện dự án đầu tiên và cũng là duy nhất trong giai đoạn này. Hợp tác với hãng Hungaroton, bà quyết định thu âm toàn bộ 32 sonata piano của Beethoven, trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên thực hiện điều này. Fischer chưa từng biểu diễn một bộ tác phẩm hoàn chỉnh nào, ngoại trừ 24 prelude, 4 ballade của Chopin và Impromptu của Franz Schubert. Nhưng trong suốt cuộc đời nghệ thuật của mình, sonata piano của Beethoven luôn là thứ mà bà đam mê. Năm 1949, cùng với nghệ sĩ piano khiếm thị, người bạn thân suốt đời, Imre Ungár, họ đã trình diễn trọn bộ các tác phẩm này tại Budapest. Từ năm 1969-1970, lần thứ hai, Fischer thực hiện điều này, tại Concertgebouw, cùng với Claudio Arrau, Nikita Magaloff, Daniel Barenboim và một vài tên tuổi khác. Từ ngày 19/12/1976-13/5/1977, Fischer đã có trọn bộ 32 sonata piano của riêng mình, không phải một mà tới hai lần biểu diễn, mỗi đợt gồm tám buổi. Đây chính là động lực để bà thực hiện dự án cùng Hungaroton. Quá trình thực hiện thu âm kéo dài lên đến hơn mười năm nhưng Fischer chưa bao giờ thoả mãn với những gì mình đã làm, đúng như những gì Zoltán Kocsis đã nhận xét: “Có lẽ không ai theo đuổi sự thật nghệ thuật của âm nhạc với sự kiên trì mãnh liệt như bà”. Fischer liên tục chỉnh sửa để tìm ra phiên bản phù hợp và từ chối xuất bản chúng trong cuộc đời mình: “Sau khi tôi chết, họ có thể phát hành bất cứ thứ gì”.
Fischer đã dành cả cuộc đời để cống hiến cho âm nhạc. Buổi biểu diễn cuối cùng của bà trước công chúng diễn ra vào ngày 24/10/1994 tại Szolnok, một thành phố nhỏ của Hungary trong một concerto piano của Mozart cùng Dàn nhạc Thính phòng Franz Liszt và vài tiểu phẩm chơi thêm. Trước đó, bà vẫn thực hiện chuyến lưu diễn xa xôi tới Nhật Bản và đang lên kế hoạch để trở lại nơi đây. Nhưng vào ngày 10/4/1995, Fischer được phát hiện đã qua đời ở tuổi 80 khi bà đang nghe St. John Passion của Bach tại nhà riêng tại Budapest, nơi bà sinh ra, nơi bà yêu mến và dành phần lớn thời gian sống tại đây và cũng là nơi an nghỉ cuối cùng của bà. Nguyên nhân sự qua đời không được tiết lộ. Csoba hồi tưởng: “Mỗi khi chúng tôi nói về sự nghiệp biểu diễn, bà thường hỏi tôi: Em có biết mình đang dấn thân vào cái gì không? Đây là một nghề nghiệp địa ngục đấy’. Bà thường chia sẻ về những gian khổ, nhưng không bao giờ có thể từ bỏ. Sự nghiệp chính là cuộc sống của bà”. Và đó chắc chắn là một cuộc sống trọn vẹn vì bà đã cống hiến hết mình trong suốt 70 năm.
Có nhiều điều để nhớ về Fischer. Hồi trẻ bà rất xinh đẹp. Pesti Napló, nhật báo danh tiếng của Budapest (đóng cửa vào năm 1939) đã nhận xét: “Annie Fischer là một cá tính không hề tầm thường, điều đó là sự thật. Dáng người nhỏ bé mảnh mai, khuôn mặt thanh tú như Đức Mẹ, toát lên vẻ thanh khiết, bình thản, dịu dàng gần như thiêng liêng – nhưng cứ như thể có một ngọn lửa đang bùng cháy sau tấm kính mờ, toàn bộ con người cô rung lên với một năng lượng như vậy”. Một đặc điểm nữa khi nhắc về Fischer là bà hút thuốc rất nhiều, điều khiến bà còn có biệt danh Fischer Gạt tàn. Hiếm khi thấy tay bà không cầm điếu thuốc ngoại trừ lúc biểu diễn. Và khi tiếng vỗ tay của khán giả vang lên thì một điếu thuốc được đốt sẵn sau rèm để đợi bà rít một hơi khi rời sân khấu. Bà ngủ rất ít, chủ yếu là từ 6h sáng, thức dậy vào đầu giờ chiều và pha ngay cho mình một cốc cà phê. Fischer đam mê câu cá ở Hồ Balaton, rất thích văn học, đặc biệt là hai cuốn Anna Karenina và Chiến tranh và hoà bình. Bà nấu ăn rất ngon, theo Schiff: “món gà rán của bà nói được bảy thứ tiếng” và với Vásáry thì món trứng tráng xúc xích và chân giò nhồi bắp cải là những ký ức khó quên. Bà rất hiếm khi trả lời phỏng vấn vì tin rằng những gì mình muốn nói đều đã được truyền tải qua cây đàn piano.
Sau khi Fischer qua đời, Hungaroton đã phát hành bộ đĩa nhạc 32 sonata piano của bà và nhiều người tin rằng đây là một trong những phiên bản vĩ đại nhất từng được thu âm. Đó là sự dung hợp lý tưởng giữa trí tuệ và tính nhân văn. Sự cân bằng mà Fischer duy trì giữa hình thức và nội dung, đồng thời vẫn giữ được vẻ tự do biểu đạt tưởng như không cần nỗ lực gợi nhớ đến Wilhelm Furtwängler và khả năng nắm bắt tư tưởng của Beethoven của bà có thể sánh với Artur Schnabel. Và những người yêu nhạc cổ điển ngày nay chắc chắn sẽ có nhiều điều phải phàn nàn về Fischer, rằng tính cầu toàn và sự chán ghét phòng thu của bà đã tước đi ở họ quyền thưởng thức nghệ thuật biểu diễn piano của một trong nghệ sĩ piano độc đáo nhất của thế kỷ 20.
Cobeo




