Pablo Casals là một nhân vật quan trọng trong lịch sử chơi đàn cello – vừa là nghệ sĩ vừa là người phát ngôn, nhân vật mẫu mực và nhà khai phóng. Những người vĩ đại nhất trong số các nghệ sĩ đồng nghiệp đều tôn kính ông: Fritz Kreisler gọi Casals là “nghệ sĩ vĩ đại nhất từng kéo vĩ”; Joseph Szigeti nói về “phép thuật của thứ có lẽ là nghệ thuật vĩ đại nhất trong số tất cả những người chơi đàn dây”; và nhạc trưởng Wilhelm Furtwängler tuyên bố, “những ai chưa từng nghe Pablo Casals chơi thì không biết một nhạc cụ dây có thể phát ra âm thanh như thế nào”. Một người hâm mộ khác là David Oistrakh, người đã nhiệt tình nói rằng, “Giọng điệu hoàn hảo, chuyển động tự do của bàn tay dọc theo cần đàn, sự tinh tế và trau chuốt tuyệt vời nhất của bất kỳ lần kéo vĩ nào – đó là một phép màu thực sự. Tôi chưa bao giờ thấy bất cứ điều gì giống vậy trước đây.”

Sinh ra trong thời đại mà các nghệ sĩ cello vẫn phải chơi nhạc với những hạn chế kỹ thuật lỗi thời, bao gồm cả việc giữ cánh tay kéo vĩ rất gần thân người, Casals đã tìm ra một cách chơi mới. Phong cách kéo vĩ của ông có thể không làm hài lòng các giáo viên, nhưng nó cung cấp cho những người chơi tương lai một phương thức tự do về mặt thể chất, đồng thời chứng minh rằng cello có thể biểu cảm như bất kỳ nhạc cụ nào. Cách tiếp cận của ông đối với vibrato cũng mới mẻ không kém: Ông rung một cách tự do và đôi khi liên tục, song song với những cải tiến của những người cùng thời là nghệ sĩ violin Kreisler và Jacques Thibaud.

Casals đã đưa các Tổ khúc trước đây bị lãng quên của Bach ra ánh sáng, chứng minh chúng là những kiệt tác âm nhạc đích thực. Và ông đã sống một cuộc đời can đảm về mặt đạo đức, rời khỏi sân khấu công cộng vì nguyên tắc chính trị, trước khi quay trở lại chơi nhạc và chỉ huy vào thập niên thứ mười của mình. Đối với tiểu thuyết gia Thomas Mann, ông là “một trong những nghệ sĩ đến để giải cứu danh dự của nhân loại.”

Casals sinh năm 1876 tại thị trấn Vendrell của Cataluñan. Cha ông, một thợ mộc và nhạc công nhà thờ, đã dạy ông chơi piano, organ và hát. Khi Pau lên 9 tuổi, một đoàn hề đã đến thị trấn. Một trong số họ chơi trên một cán chổi buộc lên và Pau trở nên ám ảnh với nhạc cụ này – vì vậy cha ông đã tự làm cho ông nhạc cụ có dây đầu tiên từ một quả bầu. Năm 12 tuổi, cuối cùng cậu bé đã được nghe một cây cello thực sự, và ngay sau đó bắt đầu học cello ở Barcelona, nơi ông tình cờ tìm thấy một bản sao của Bach Suites trong một hiệu sách. Ông đã dành mười hai năm để luyện tập chúng trước khi mạo hiểm biểu diễn chúng trước công chúng.

Ở tuổi 13, Casals đã chơi trong một nhóm tam tấu piano tại một quán cà phê ở Barcelona. Hai năm sau, nhà soạn nhạc Isaac Albéniz đã nghe ông diễn ở đó, người đã giúp giới thiệu ông vào giới thượng lưu Madrid. Casals trẻ tuổi nhanh chóng trở thành người được Hoàng hậu Maria Cristina yêu thích. Năm 1899, ông ra mắt tại London, và năm 1901, ông chơi ở Paris, sớm định cư tại đó. Trong ba thập kỷ tiếp theo, ông đã có một sự nghiệp rực rỡ với tư cách nghệ sĩ độc tấu, nhạc trưởng và là thành viên của một nhóm tam tấu piano siêu sao cùng với những người bạn Thibaud và Alfred Corto.

Casals được biết đến với sức mạnh của cá tính âm nhạc, với âm điệu phi thường và giàu biểu cảm, và với sự tự do chưa từng có trong lối kéo vĩ. Ông cũng được biết đến với tiếng lầm bầm và rên rỉ mà ông phát ra một cách thoải mái do đắm chìm hoàn toàn vào âm nhạc.

Cuộc sống của Casals thay đổi vào năm 1936 khi Nội chiến Tây Ban Nha nổ ra. Ông gần như rút lui hoàn toàn khỏi các buổi biểu diễn công cộng, đặc biệt là tẩy chay các quốc gia công nhận chính quyền Franco đang thắng thế. Ông đã chơi buổi hòa nhạc chuyên nghiệp cuối cùng của mình tại Hoa Kỳ vào những năm 1920 (mặc dù ông sẽ trở lại chơi tại Nhà Trắng Kennedy vào năm 1963). Khi Thế chiến II nổ ra, Casals đã cắt đứt quan hệ với các nghệ sĩ đồng nghiệp như Thibaud và Cortot, những người mà ông coi là quá dễ dãi với các chế độ Phát xít. Nghỉ hưu ở miền Nam nước Pháp, người khổng lồ âm nhạc này đã biến mất khỏi tầm mắt của công chúng.

Nhưng sau đó, vào năm 1950, Sascha Schneider đã tổ chức Lễ hội Casals đầu tiên tại Prades, Pháp. Nó đã trở thành một sự kiện thường niên. Bản thân Casals đã thành lập một lễ hội thứ hai tại Puerto Rico vào năm 1956, và từ thời điểm đó cho đến khi qua đời vào năm 1976, ông một lần nữa lại là một hiện tượng to lớn trong thế giới âm nhạc. Ở tuổi 95, ông đã được trao tặng Huân chương Hòa bình của Liên hợp quốc.

Có lẽ các bản thu của Casals không phải là thứ mà người ta mong muốn từ một người khổng lồ như vậy. Việc ông ẩn dật khỏi đời sống công chúng bao gồm cả việc tạm dừng thu âm. Và khi ông quay trở lại thu âm ở tuổi xế chiều, cách chơi nhạc của ông đã trở nên, theo lời của học trò Bernard Greenhouse, “khoa trương hơn và kém chính xác hơn.”

Tuy nhiên, có rất nhiều bản thu âm tuyệt vời của Casals – bắt đầu với Bach Suites của ông, được thu âm vào những năm 1930. Casals đã đồng nhất mình với Bach, đắm mình vào các Tổ khúc và mang vẻ nhuần nhị sâu sắc khi diễn giải chúng. Greenhouse mô tả cách tiếp cận này: “Bạn phải học nó thật tốt để bạn nhớ mọi ý tưởng mà bạn đã có trong quá trình luyện tập. Sau đó, bạn quên mọi thứ và ứng tác.” Mstislav Rostropovich cảm thấy rằng “khi Casals chơi nhạc, với tôi dường như không thể diễn giải Bach theo bất kỳ cách nào khác, đó là sức mạnh trong tính cách và bản chất của ông như một nghệ sĩ, niềm tin hoàn toàn của ông vào những gì ông đang làm”.

Sự tự nhiên và chiều sâu trong cách chơi Bach của Casals đã được nghệ sĩ nhạc thính phòng vĩ đại Felix Galimir nắm bắt: “Ông ấy chơi các tổ khúc của Bach như thể tôi hít thở hay ngủ, và nghe có vẻ như vậy – không cần nỗ lực có vẻ là một từ không hay – nhưng đó là cách chơi nhạc… không cần nỗ lực nhất mà không hề thiếu tâm sức.”

Không thể chỉ chọn ra một bản thu âm tam tấu tuyệt vời của Casals vào những năm 1920 với Thibaud và Cortot: “Archduke” của Beethoven, Si giáng D.898 của Schubert, Rê thứ của Mendelssohn và Rê thứ của Schumann đều là những màn trình diễn vượt thời gian. Một bản thu âm nhạc thính phòng tuyệt vời sau này là Schubert Cello Quintet với các cộng sự Isaac Stern, Schneider, Milton Katims và Paul Tortelier, từ Lễ hội Casals năm 1956.

Năm 1937, trong một lần xuất hiện hiếm hoi trong thời chiến, Casals đã biểu diễn và thu âm bản Concerto của Dvorák với Szell và Dàn nhạc giao hưởng Séc; một bài đánh giá đương thời đã mô tả chính xác bản nhạc này là “có vẻ như được chơi bằng kiếm thay vì vĩ”. Casals cũng đã thu âm các bản sonata của Beethoven vào những năm 30, bản thứ ba với Otto Schulhoff và những bản khác với Mieczyslaw Horszowski; các màn trình diễn thật xuất sắc, sáng tạo và tuyệt đẹp.

Bản Concerto Elgar của Casals được một số khán giả coi là không mang phong cách Anh vì cảm xúc thẳng thắn của nó, nhưng phẩm giá và sự thương cảm trong bản thu âm năm 1945 của ông với Boult và BBC Symphony khó có thể thu hút nhiều người chỉ trích ngày nay.

Trong những thập niên đầu của thế kỷ, Casals đã thực hiện rất nhiều bản thu âm encore, thể hiện nhiều phẩm chất tuyệt vời. Greenhouse cảm thấy rằng, trong các bản thu âm Chopin của Casals, “bạn nghe thấy nhạc tính vô song. Không ai có thể sánh được với trình độ nghệ thuật của ông ấy”. Các ví dụ bao gồm Nocturne giọng Mi giáng và Prelude “Raindrop”.

Ở phần giữa của Granados Andaluza, Casals tìm thấy một giọng điệu giao tiếp, đàm thoại độc đáo. Saint-Saëns “Swan” của ông rất hùng hồn, và Godard Berceuse của ông rất biểu cảm. Moment Musical của Schubert, Mazurka của Popper và Serenata Napoletana của Sgambati đều tự hào về phong cách nhịp điệu hiếm có. Cuối cùng, trong bản thu âm muộn của Falla “Nana”, Casals bộc lộ tâm hồn mình.

Sasha Margolis
Vaiduakhu dịch

Nguồn: stringsmagazine.com