“Lời khuyên duy nhất có thể đưa ra là hãy làm việc chăm chỉ hết sức có thể; đó là cách duy nhất để đạt được điều bạn muốn. Đừng ngủ quên trên chiến thắng và đừng thức dậy vào buổi sáng rồi nói: “Hôm qua tôi thật tuyệt vời”. Hãy nhìn nhận những thiếu sót của mình, cố gắng cải thiện và nếu bạn có tài năng, nó sẽ đến… Tôi chính là bằng chứng sống cho điều đó.” – Georg Solti
Georg Solti chắc chắn là một trong những nhạc trưởng quan trọng nhất của âm nhạc cổ điển thế giới trong thế kỷ 20. Ông nổi tiếng với cá tính mạnh mẽ và sôi nổi trên bục chỉ huy, đôi khi bị chỉ trích là hào nhoáng và phô trương nhưng không bao giờ nhàm chán và tầm thường. Sở hữu một danh mục biểu diễn đồ sộ từ opera, oratorio cho đến các bản giao hưởng, concerto, Solti đã làm việc cùng với tất cả những dàn nhạc và nhà hát opera danh tiếng nhất trên thế giới. Thành tựu nổi bật của ông không chỉ là 22 năm gắn bó với Chicago Symphony Orchestra trên cương vị giám đốc âm nhạc, khẳng định vị thế của một trong những dàn nhạc xuất sắc nhất trên thế giới hay việc Solti góp phần đưa Royal Opera House trở thành một trong những trung tâm opera hàng đầu sau chiến tranh. Trên tất cả, Solti là hình mẫu tiêu biểu cho một nhạc trưởng hiện đại. Ông hiểu rằng việc thu âm là vô cùng quan trọng và là người tiên phong trong việc sử dụng kỹ thuật stereo. Cùng với John Culshaw, nhà sản xuất đầy sáng tạo của Decca, Solti gần như đã tạo nên chuẩn mực cho việc mô phỏng chiều sâu của sân khấu opera. Bản thu âm mang tính bước ngoặt Der Ring des Nibelungen (Chiếc nhẫn Nibelungen, Richard Wagner) mà ông thực hiện không chỉ là lần đầu tiên toàn bộ tác phẩm vĩ đại này được ghi âm hoàn chỉnh trong phòng thu, mà còn là màn trình diễn âm thanh ngoạn mục, thiết lập tiêu chuẩn cho việc sử dụng hiệu ứng và bố cục không gian. Danh tiếng và tài năng của Solti đã vượt qua tiêu chuẩn của một nhạc trưởng thông thường và trở thành một biểu tượng văn hoá của nền nghệ thuật phương Tây, góp phần quan trọng trong việc định hình diện mạo đời sống âm nhạc cổ điển cho đến tận ngày nay.
György Stern sinh ngày 21/10/1912 tại Hegyvidék, Budapest, Hungary trong một gia đình Do Thái. Cha cậu, ông Móricz “Mor” Stern, một doanh nhân, được con trai mình miêu tả: “Một người hiền lành nhưng hoàn toàn không có năng khiếu kinh doanh… Ông tin tưởng mọi người và thường xuyên bị lừa gạt” đã đổi họ của gia đình thành Solti, dựa theo tên một thị trấn nhỏ ở miền trung Hungary khi sau Thế chiến thứ nhất, chính quyền khuyến khích người dân mang họ có âm hưởng Đức hoặc Slav đổi sang họ mang tính Hungary hơn. Mẹ cậu, bà Teréz rất yêu âm nhạc và là người đầu tiên nhận ra năng khiếu này của con trai mình. Sáu tuổi, György được cho theo học piano với một giảng viên đến từ nhà hát Opera Budapest, một buổi một tuần. Solti nhớ lại: “Tôi ghét ông ta vì ông ta đánh vào ngón tay tôi mỗi khi tôi mắc lỗi hoặc không vâng lời. Tệ hơn nữa, cây đàn piano ở gần cửa sổ, và trong khi tôi đang học hoặc luyện tập, tôi có thể nhìn thấy bạn bè mình chơi bóng đá trong công viên… Vì vậy, việc chơi piano của tôi đã dừng lại gần như ngay khi nó vừa mới bắt đầu”. Cùng với âm nhạc, ký ức tuổi thơ của György còn có tôn giáo. Cha cậu giữ gìn tất cả các truyền thống Do Thái, bao gồm việc cầu nguyện hàng sáng và tham dự các buổi lễ tại giáo đường vào mỗi tối thứ Sáu và sáng thứ Bảy. Solti cho biết: “Ông ấy thường đưa tôi đi cùng, nhưng tôi không bao giờ ở lại giáo đường quá 10 phút, điều này thường khiến ông khó chịu… Mặc dù cả hai bên gia đình tôi đều sùng đạo, nhưng tôi chưa bao giờ bị ép buộc phải thực hành đức tin Do Thái. Tôi không thực sự phản kháng lại nó, nhưng lúc đó, tôi không thích tôn giáo có tổ chức”.
Tuy nhiên, sau đó bà Teréz vẫn thúc giục cậu con trai của mình nối lại các bài học piano. Bà khuyến khích György đệm đàn cho chị gái Lilly, lớn hơn hai tuổi, hát. Mười tuổi, György vượt qua kỳ thi tuyển sinh vào Trường âm nhạc Ernő Fodor, một trường tư thục danh tiếng. Thầy giáo của cậu tại đây là Miklós Laurisin. Solti nhớ lại: “Ông ấy là người thầy đầu tiên nói với tôi rằng âm thanh không chỉ được tạo ra từ các ngón tay và ông ấy rất yêu thích việc giảng dạy. Tôi biết ơn ông vì những gì ông ấy đã dạy tôi. Thật đáng buồn, sau này ông ấy lại trở thành người ủng hộ Đức Quốc xã và tôi đã mất liên lạc hoàn toàn với ông”. Sau hai năm học tại Trường Ernő Fodor, György đã thi và trúng tuyển vào Học viện Franz Liszt, nhạc viện danh giá nhất Hungary, nơi cậu có thể tiếp xúc với những nhà soạn nhạc và nghệ sĩ nổi tiếng nhất của đất nước này. Solti nhớ lại: “Tôi đã có được rất nhiều may mắn trong cuộc đời mình và một trong những điều tuyệt vời nhất là được sinh ra ở một thành phố có học viện âm nhạc đẹp nhất và cũng tốt nhất thế giới. Chúng tôi, những sinh viên, phải chơi nhạc trước toàn bộ lớp học, trong khi mọi người ngồi nghe các thầy giáo sửa lỗi. Điều đó cùng lúc vừa khắc nghiệt lại vừa tuyệt vời”. Tại đây, György đã: “nhận được phần quan trọng nhất trong nền giáo dục âm nhạc chính quy của mình trong sáu năm… Quá trình đào tạo rất khó khăn và đôi khi vô cùng vất vả, nhưng những người vượt qua được thử thách đó đã trở thành những nghệ sĩ thực thụ”. Các thầy giáo của cậu tại đây là Leó Weiner (âm nhạc thính phòng), Ernő Dohnányi (sáng tác) và Béla Bartók, người đã hướng dẫn piano György chỉ trong vài tuần lễ nhưng để lại dấu ấn rất sâu đậm: “Ông thể hiện một vẻ ngoài khắc khổ, lạnh lùng với thế giới, và danh tiếng của ông ấy thật đáng sợ. Ông được nhiều người coi là một người cấp tiến điên cuồng, nhưng chúng tôi, những sinh viên âm nhạc, biết chính xác ông ấy quan trọng đến mức nào và chúng tôi tôn kính ông ấy”. Mặc dù theo học piano nhưng György mơ ước trở thành nhạc trưởng. Niềm đam mê này bắt đầu nhen nhóm khi cậu còn ở độ tuổi thiếu niên khi nghiên cứu các vở opera để đệm cho chị gái mình. Tình yêu này càng được củng cố khi 13 tuổi, György tham dự một buổi hoà nhạc do Erich Kleiber chỉ huy. Một cảm giác phấn khích, cuốn hút kỳ lạ đã lan toả khắp cậu bé và György hiểu rằng mình sẽ trở thành một nhạc trưởng.
Năm 1930, sau khi tốt nghiệp Học viện Franz Liszt, Solti trở thành nghệ sĩ piano hướng dẫn cho các ca sĩ cũng như biểu diễn harpsichord và glockenspiel tại Hungarian State Opera. Chàng trai trẻ nhận thấy rằng công việc này giúp ích rất nhiều cho bản thân trong việc trở thành nhạc trưởng. Năm 1932, Josef Krips mời Solti làm trợ lý cho mình tại Karlsruhe, Đức, điều khiến ông bị phản đối rất nhiều vì đã thuê một người Do Thái. Sau một năm, Krips đã khuyên Solti trở về Hungary, nơi an toàn hơn cho những người Do Thái trong bối cảnh Adolf Hitler bắt đầu bành trướng thế lực của mình. Một trong những cơ duyên lớn nhất của Solti trong giai đoạn này là việc Arturo Toscanini mời anh làm trợ lý tại liên hoan Salzburg vào năm 1937: “Toscanini là ấn tượng âm nhạc mạnh mẽ đầu tiên trong đời tôi. Tôi đã nghe ông ấy chỉ huy Falstaff vào năm 1936 và tác động thật không thể tin được. Đó là lần đầu tiên tôi nghe một dàn hợp xướng hát chính xác tuyệt đối. Thật tuyệt vời. Sau đó, tôi không bao giờ ngờ mình sẽ gặp Toscanini. Đó là cơ hội ngàn năm có một. Tôi có một lá thư giới thiệu từ giám đốc Budapest Opera gửi cho chủ tịch liên hoan Salzburg. Ông ấy đã gặp tôi và nói: “Anh có biết vở Die Zauberflöte không, vì chúng tôi đang có dịch cúm và hai người phụ trách luyện tập của chúng tôi bị ốm. Anh có thể chơi nhạc chiều nay cho buổi diễn tập trên sân khấu được không?”. Solti đã đệm piano cho các ca sĩ trong buổi luyện tập và nhận được câu trả lời từ phía Toscanini: “Bene” (Tốt). Với Solti, đó là lời ngợi khen tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời mình. Solti tiếp tục làm việc cho Toscanini trong khoảng thời gian dài sau đó. Vị thế của Solti được nâng cao nhờ cơ hội làm việc cùng Toscanini, dẫn đến việc anh lần đầu được trở thành nhạc trưởng vào ngày 11/3/1938 tại Hungarian State Opera trong Le nozze di Figaro (Wolfgang Amadeus Mozart). Khi vở opera đang diễn ra, tin Áo sáp nhập vào Đức (sự kiện Anschluss) được công bố khiến buổi ra mắt của Solti càng trở nên đặc biệt: “Đó quả là một đêm đáng nhớ. Tất cả bạn bè tôi đều bỏ đi giữa chừng. Tin tức lan truyền rằng Hitler đã tiến vào Vienna và mọi người đều chạy về nhà vì nghĩ rằng ông ta sẽ tiếp tục hành quân đến Budapest. Đó là một kết thúc ảm đạm cho màn ra mắt của tôi. Thậm chí không có một buổi lễ ăn mừng nào sau buổi biểu diễn”.
Đầu năm 1939, Solti, người từng đấu tranh cho quyền lợi của người Do Thái tại Hungarian State Opera hiểu rằng mình không còn tương lai tại đây. Người thân cũng thúc giục anh chuyển đi nơi khác. Nhận thấy hoàn cảnh khó xử của Solti, nhạc trưởng đồng hương Antal Doráti đã mời anh đến London, chỉ huy London Symphony Orchestra trong chuỗi chương trình dài hai tuần của Ballets Russes. Chính vào thời điểm này, Solti đã bỏ tên György để lấy tên Georg, điều khiến cho tên của ông dễ phát âm hơn. Trở lại Budapest vào tháng 8/1939, Solti chính thức từ biệt gia đình để tới Thuỵ Sĩ vào đúng ngày Thế chiến thứ hai nổ ra (1/9/1939): “Ở tuổi 26, tôi đã nói lời tạm biệt với mẹ và chị gái… Và tôi không bao giờ còn gặp lại cha tôi nữa”. Thời gian đầu tại Thuỵ Sĩ, Solti cảm thấy “vô cùng cô đơn và chán nản”. Anh kiếm sống bằng công việc dạy piano và hướng dẫn thanh nhạc. Sau khi giành chiến thắng tại cuộc thi Piano quốc tế Geneva năm 1942, Solti được biểu diễn piano, nhưng không được phép chỉ huy dàn nhạc. Trong suốt Thế chiến thứ hai, Solti vẫn luôn sống tại Thuỵ Sĩ. Sau khi chiến tranh kết thúc, với sự giúp đỡ của Edward Kilenyi, một người bạn ở Budapest, lúc đó đang làm việc cho quân đội Mĩ, đang có nhiệm vụ tái thiết đời sống âm nhạc tại Munich, Solti đã được mời tới chỉ huy vở opera Fidelio (Ludwig van Beethoven) cho Bavarian State Opera. Anh cũng hội ngộ với mẹ và chị gái mình. Ông Mor đã qua đời tại Budapest vào năm 1943 vì những biến chứng của căn bệnh tiểu đường. Và chỉ ít lâu sau, anh được bổ nhiệm làm giám đốc âm nhạc tại đây. Trong hoàn cảnh bình thường, chức vụ danh giá này sẽ không bao giờ dành cho một nhạc trưởng trẻ và thiếu kinh nghiệm nhưng các nhạc trưởng hàng đầu lúc bấy giờ như Wilhelm Furtwängler, Karl Böhm và Herbert von Karajan đều đang bị cấm hành nghề do từng phục vụ cho Đức Quốc xã. Trong sáu năm tiếp theo, Solti đã chỉ huy 40 vở opera và khôi phục lại danh tiếng cho Bavarian State Opera. Anh rời Munich vào năm 1952 để trở thành giám đốc âm nhạc của Oper Frankfurt. Trước đó, năm 1946, anh kết hôn với Hedwig Oeschli, con gái của một giảng viên tại Đại học Zürich đồng thời có được bản thu âm đầu tiên của mình với hãng Decca, mở ra một sự hợp tác bền vững và hiệu quả bậc nhất trong thế kỷ 20.
Trong thời gian làm việc tại Frankfurt, Solti ngày càng trở nên nổi tiếng hơn. Ông được mời hợp tác cùng nhiều dàn nhạc và nhà hát opera khác, cả trong và ngoài nước Đức. Năm 1956, Culshaw được Decca bổ nhiệm làm người phụ trách mảng âm nhạc cổ điển của hãng đã ngay lập tức liên hệ với Solti, tin rằng ông “là nhạc trưởng Wagner vĩ đại của thời đại chúng ta”. Họ đã nung nấu một kế hoạch “điên rồ”, chưa từng xuất hiện trước đó, là việc thu âm trọn bộ bốn vở opera của Der Ring des Nibelungen với Vienna Philharmonic và những ca sĩ hát Wagner hàng đầu thế giới lúc bấy giờ. Đó là một canh bạc nghệ thuật thật sự mạo hiểm vì ngoài Arabella (Richard Strauss) mà Solti được mời vào phút cuối để thay thế cho Böhm, ông chưa từng thu âm một vở opera hoàn chỉnh nào. Das Rheingold, vở opera đầu tiên đã được hoàn thành vào tháng 10/1958 với George London và Kirsten Flagstad trong vai chính. Walter Legge, nhà sản xuất lừng danh của EMI đã dự đoán đây sẽ là một thảm hoạ thương mại: “Rất hay, rất thú vị. Nhưng tất nhiên là các bạn sẽ không bán được đĩa nào”. Mặc dù vậy, sự thành công của Das Rheingold đã khiến ngành công nghiệp thu âm bất ngờ. Doanh thu của nó sánh ngang với những đĩa nhạc bán chạy nhất của Elvis Presley trên bảng xếp hạng Billboard. Solti ngay lập tức trở thành nhạc trưởng nổi tiếng toàn cầu và được nhiều dàn nhạc, nhà hát opera danh tiếng trên thế giới mời cộng tác. Toàn bộ Der Ring des Nibelungen được hoàn thành trong vòng bảy năm, trở thành những đĩa nhạc phải có trong bất kỳ bộ sưu tập nào.
Năm 1960, Solti ký hợp đồng làm giám đốc âm nhạc của Los Angeles Philharmonic. Tuy nhiên, dàn nhạc đã vi phạm hợp đồng khi bổ nhiệm Zubin Mehta làm phó giám đốc âm nhạc mà không xin ý kiến ông. Solti huỷ bỏ công việc tại Los Angeles Philharmonic và chấp nhận lời mời trở thành giám đốc âm nhạc của Royal Opera House, bắt đầu từ tháng 8/1961. Giống như người tiền nhiệm Rafael Kubelík, ngay từ đầu, Solti vấp phải sự thù địch của một nhóm khán giả nhỏ tại đây. Họ ném rau quả thối vào ông, phá xe ông, khắc lên dòng chữ “Solti cút đi”. Nhiều bài báo chỉ trích gay gắt. Solti đã nghĩ đến việc từ bỏ nhưng được David Webster, giám đốc nhà hát thuyết phục ở lại. Và Royal Opera House cũng như khán giả London đã được hưởng lợi. Chất lượng các buổi biểu diễn được tăng cường một cách đáng kể. Nhà hát thu hút được một lượng lớn các ca sĩ xuất sắc nhất trên thế giới. Royal Opera House trở thành một thế lực thật sự trong thế giới opera, sánh ngang với những nhà hát hàng đầu như La Scala, Metropolitan Opera hay Vienna State Opera. Cái đầu hói và tính khắt khe đã khiến Solti được đặt biệt danh: “Đầu lâu la hét”. Ông là người nắm giữ uy quyền tuyệt đối trong các buổi biểu diễn. Một số ca sĩ, tiêu biểu là Jon Vickers đã từ chối làm việc tiếp cùng Solti. Nhưng hiệu quả mà ông mang lại cho nhà hát là không thể bàn cãi. Nhà âm nhạc học Paul Robinson đánh giá Solti là nhạc trưởng nổi tiếng nhất lúc bấy giờ, chỉ sau Karajan. Đáp trả lại những lời chỉ trích, Solti thản nhiên đáp: “Phải mất một thời gian người Anh mới hiểu rằng tôi không ra lệnh cho mọi người, mà chỉ khuyến khích họ tìm cách cải thiện bản thân. Ban đầu họ thấy điều này rất lạ”.
Năm 1967, Chicago Symphony Orchestra lần thứ hai mời ông làm giám đốc âm nhạc, sau lần thứ nhất bất thành vào năm 1963. Lần này, Solti chấp nhận nhưng vì vẫn còn những cam kết với Royal Opera House nên ông yêu cầu dàn nhạc mời Carlo Maria Giulini làm nhạc trưởng khách mời chính. Và từ năm 1969, họ chia sẻ công việc của mình một cách rất hiệu quả tại Chicago. Vào thời điểm Solti nhậm chức, danh tiếng và tình hình tài chính của dàn nhạc đang ở một mức rất thấp. Chicago Symphony Orchestra có một món nợ 5 triệu USD. Với mối quan hệ tại Decca, Solti đã đưa về những hợp đồng ghi âm béo bở và năm 1971, cùng Giulini, Solti đã đưa dàn nhạc lần đầu tiên đi biểu diễn bên ngoài Bắc Mĩ, tới 10 nước châu Âu và giành được vô số lời khen ngợi. Solti yêu thích và đánh giá cao những chuyến đi như vậy: “Lưu diễn rất quan trọng đối với dàn nhạc. Ở nhà, chúng tôi biết họ yêu mến chúng tôi. Họ vỗ tay. Họ tự hào về chúng tôi. Nhưng họ cũng phần nào coi điều đó là hiển nhiên. Điều ấy là tự nhiên… Khi chúng tôi chơi ở những địa điểm mới, luôn có một dòng điện đặc biệt, một sự kích thích hiếm có, niềm háo hức, thậm chí là cảm giác khám phá”. Donald Peck bè trưởng bè flute của Chicago Symphony Orchestra đánh giá: “Một số nhạc trưởng hợp với một số dàn nhạc, còn những người khác thì không. Chúng tôi rất hợp với Solti và ông ấy cũng vậy với chúng tôi”. Còn nghệ sĩ violin Victor Aitay cho biết: “Thông thường các nhạc trưởng sẽ thư giãn khi luyện tập và căng thẳng trong các buổi hoà nhạc. Solti thì ngược lại. Ông ấy rất căng thẳng trong các buổi diễn tập, điều này khiến chúng tôi phải tập trung, nhưng lại thư giãn khi biểu diễn, đó là một lợi thế lớn cho dàn nhạc”. Ngoài việc giúp Chicago Symphony Orchestra tìm lại ánh hào quang và nâng cao danh tiếng, Solti đã mở rộng danh mục biểu diễn của dàn nhạc. Lần đầu tiên trong lịch sử, Chicago Symphony Orchestra đã biểu diễn toàn bộ các bản giao hưởng của Anton Bruckner và Gustav Mahler. Mặc dù ông cũng chỉ huy một số tác phẩm đương đại, ví dụ như Giao hưởng số 3 của Witold Lutosławski, được dành tặng cho chính Solti và dàn nhạc nhưng ông chủ yếu vẫn trung thành với những tác phẩm truyền thống: “Đối với tôi, với tư cách là một nhạc trưởng, nhạc hiện đại dừng lại vào khoảng năm 1950, với những tác phẩm cuối đời của Stravinsky, Schoenberg và Bartók. Tôi không đi xa hơn nữa. Tôi để thế hệ tiếp theo khám phá sau năm 1950”, vào năm 1973, Solti đã khẳng định như vậy. Tất nhiên cũng có một vài ngoại lệ, ví dụ như Giao hưởng số 15 của Dmitri Shostakovich.
Càng ngày Solti càng trở nên bận rộn. Sau khi chia tay Royal Opera House vào năm 1971, ông trở thành giám đốc âm nhạc tại Orchestre de Paris từ 1972-1975. Sau đó, ông đảm nhận vị trí nhạc trưởng chính tại London Philharmonic từ 1979-1983 và tiếp tục mở rộng kịch mục của mình, lần này chủ yếu là tác phẩm của các nhà soạn nhạc Anh mà tiêu biểu là Edward Elgar. Solti rời bỏ cương vị giám đốc âm nhạc của Chicago Symphony Orchestra vào năm 1991 và được trao danh hiệu giám đốc âm nhạc danh dự. Đó là một trong những sự hợp tác thành công nhất trong lịch sử giữa nhạc trưởng và dàn nhạc. New York Times tổng kết: “Điểm nổi bật nhất trong thành công của Solti-Chicago chính là chất lượng trình diễn tuyệt vời, điều mà ít dàn nhạc nào khác có thể sánh kịp. Đối với nhiều người nghe, họ đột nhiên thấy một điều gì đó mới mẻ dưới ánh mặt trời: một dàn nhạc có thể nắm bắt trọn vẹn nhiều tác phẩm phức tạp, đồ sộ với kỹ thuật điêu luyện và sức mạnh được duy trì đáng kinh ngạc, biến chúng thành những khối thống nhất sáng bóng, dường như hoàn hảo đến từng chi tiết và gây ấn tượng mạnh mẽ… Mặc dù nhiều dàn nhạc đã cố gắng bắt chước phong cách của Solti và Chicago Symphony Orchestra, nhưng không thể chạm đến được. Không có sự kết hợp nào thu hút được trí tưởng tượng của công chúng một cách mãnh liệt và lâu dài như vậy”. Tổng cộng Solti đã chỉ huy Chicago Symphony Orchestra 999 buổi biểu diễn. Họ đã lên kế hoạch cho lần thứ 1000 vào tháng 10/1997, nhân dịp sinh nhật lần thứ 85 của ông nhưng thật buồn, Solti đã qua đời đột ngột trong giấc ngủ vì nhồi máu cơ tim vào ngày 5/9/1997 khi đang đi nghỉ tại Antibes, miền nam nước Pháp. Sau một lễ tang cấp nhà nước ở Budapest, di hài ông được chôn cất tại nghĩa trang Farkasréti, bên cạnh mộ của Bartók. Cho đến trước khi qua đời, lịch trình biểu diễn và ghi âm của Solti vẫn rất dày đặc, thậm chí được kéo dài cho đến thế kỷ 21.
Khi Solti đứng trên bục chỉ huy, ông toát ra một nguồn năng lượng hiếm có với nhiều động tác sắc bén, dứt khoát mà đôi khi bị chỉ trích là thiếu tinh tế. Nhưng không thể phủ nhận được rằng ông đã truyền tải được tinh thần âm nhạc của mình tới dàn nhạc. Như bao người gốc Do Thái khác, Solti đã phải rời bỏ quê hương vì sự bành trướng của Đức Quốc xã. Với tình yêu âm nhạc và nghị lực phi thường của mình, ông đã đạt được thành tựu vĩ đại trong sự nghiệp, trở thành một trong những nhạc trưởng nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20. Và sau khi qua đời, Solti trở về yên nghỉ tại quê hương. Trên mộ ông, ngoài tên và năm sinh, năm mất, chỉ đơn giản khắc một chữ “Hazatért” (Đã trở về nhà). Đó là một vòng tròn khép kín hoàn hảo, sau nhiều năm bôn ba và giành được vinh quang trên khắp thế giới, Solti đã được yên nghỉ tại đất nước Hungary, nguồn cội đã nuôi dưỡng nên tài năng và tinh thần âm nhạc của ông.
Cobeo







