“Trên sân khấu, tôi sẽ nắm lấy cơ hội. Phải có yếu tố táo bạo trong việc tạo ra âm nhạc tuyệt vời. Những người trẻ tuổi hiện nay quá thận trọng. Họ lấy âm nhạc ra khỏi túi thay vì trái tim.” – Arthur Rubinstein
Kể từ khi ông qua đời tại Thụy Sĩ năm 1982 ở tuổi 95, sự nghiệp âm nhạc và những phẩm chất cao đẹp ở con người Arthur Rubinstein đã được những nhà phê bình âm nhạc đánh giá lại. Sự suy xét này có lẽ cũng là một kết quả thường gặp ở những người nổi tiếng và dù cho có sự tham gia của một số kẻ cố tình muốn hạ thấp ông, Rubinstein vẫn được coi là nghệ sĩ biểu diễn Frédéric Chopin xuất sắc nhất thế kỉ. Đó có lẽ là một sự tưởng thưởng xứng đáng dành cho ông nhưng trên thực tế, Rubinstein chỉ được nhận danh hiệu này khi đã cao tuổi và đó là sự nỗ lực, không ngừng phấn đấu trong cả cuộc đời. Những năm đầu thế kỉ 20, khi ông lần đầu biểu diễn các tác phẩm của nhà soạn nhạc thiên tài này, Rubinstein đã bị những nhà phê bình đương thời chê bai rằng chơi Chopin quá khô khan, lệ thuộc nhiều vào tổng phổ và thiếu chất thơ. Những lời phê bình này cũng nhằm vào cả Ferruccio Busoni, Josef Hofmann và thậm chí cả Sergei Rachmaninov. Tất cả những điều này đã góp phần tạo ra một thế hệ các nghệ sĩ piano mới – những người đã tỉnh táo nhận thức và chia tay với lối biểu diễn truyền thống, cổ lỗ mới phát sinh từ sau khi Chopin qua đời. Trên thực tế, bản thân Chopin đã chối bỏ những buổi hoà nhạc của chính mình trong những năm 1830, khi nhà soạn nhạc ở tình trạng thể lực ngày một suy giảm, với mục đích để kiếm tiền thay cho việc dạy học. Vào cuối thế kỉ 19, những học trò của Chopin vẫn luôn nhớ mãi rằng Rubinstein được miêu tả như một sự “trái ngược truyền thống” – với những đặc điểm: rubato quá thừa thãi, xáo trộn và phóng tác nguyên mẫu. Bất kì sự tự do nào được cho phép, thậm chí được khuyến khích mặc dù hầu hết những nghệ sĩ piano hàng đầu nào thời đó như Ignacy Jan Paderewski và Vladimir de Pachmann đều ngại ngùng khi phải sử dụng.
Arthur Rubinstein sinh ngày 28/1/1887 tại Łódź, Ba Lan (lúc này là một phần của Đế quốc Nga) trong một gia đình có nguồn gốc Do Thái. Arthur là con út trong số bảy người con của ông Izaak và bà Felicja Blima Fajga. Gia đình họ sở hữu một nhà máy dệt nhỏ. Trong cuốn tự truyện của mình Rubinstein cho biết: “Sinh ra sau đứa con cuối cùng tám năm, sự ra đời của tôi hoàn toàn là ngoài mong muốn và nếu không có sự thuyết phục nhiệt tình của dì Salomea Meyer, việc tôi bước vào thung lũng đau khổ này có lẽ đã bị ngăn cản”. Ban đầu cậu được đặt tên là Leo nhưng người anh trai Ignacy phản đối kịch liệt: “Tên em ấy chắc chắn phải là Arthur. Vì Arthur X, con trai người hàng xóm chơi violin rất hay nên em con cũng có thể trở thành một nghệ sĩ vĩ đại”. Khi lên 3 tuổi, cậu bé bắt đầu học piano sau khi hào hứng với những bài tập của người chị cả đồng thời thể hiện khả năng cao độ tuyệt đối của mình dù rằng trong gia đình, không một ai có năng khiếu âm nhạc. Ngày 14/12/1894, chưa đầy 7 tuổi, Rubinstein đã có buổi biểu diễn chính thức đầu tiên với các tác phẩm của Mozart, Franz Schubert và Felix Mendelssohn. Khi Arthur lên 10, mẹ của cậu đưa con trai mình đi nghe một buổi hoà nhạc của nghệ sĩ violin huyền thoại Joseph Joachim đồng thời muốn người nghệ sĩ tài năng này nghe thử con mình chơi đàn. Quá ấn tượng khi nghe Arthur biểu diễn các tác phẩm của Wolfgang Amadeus Mozart, Joachim đồng ý trở thành người đỡ đầu cho Arthur: “Cậu bé này có thể trở thành một nghệ sĩ rất vĩ đại – cậu bé chắc chắn có tài năng cho việc này… Khi đến thời điểm học tập nghiêm túc, hãy đưa nó đến với tôi và tôi sẽ vui lòng giám sát việc giáo dục nghệ thuật của cậu bé”. Chấp nhận để con mình theo học tại Berlin, bà mẹ quay trở về Łódź, và đó cũng là lần cuối cùng Rubinstein được sống với gia đình mình.
Âm nhạc của Chopin là một phần cơ bản nhất trong di sản văn hóa của Rubinstein, tuy vậy dù là một người Ba Lan, Rubinstein lại được đào tạo theo trường phái piano của nổi tiếng của Đức. Sau một vài trải nghiệm bất hạnh với những thầy giáo Ba Lan mà rõ ràng là không tương xứng với tài năng của mình, Rubinstein đã tới Berlin dưới sự bảo trợ của Joachim – một người bạn thân thiết của Johannes Brahms. Joachim đã giới thiệu cậu với Heinrich Barth, một trong những nhà sư phạm nổi tiếng nhất của Berlin thời kì này mà một trong những học trò ưu tú nhất của ông là Wilhelm Kempff. Tuy nhiên, mối quan hệ thầy trò thật khó để nói là thân ái. Barth cố gắng trong việc sắp đặt lại nền tảng kí thuật vốn đã rất vững chắc và phong cách biểu diễn đầy lí trí của chàng trai trẻ nhưng Rubinstein chống đối lại sự cố chấp của Barth. Với tư tưởng chống đối sẵn có cộng với tính kỷ luật đến mức hà khắc của ông thầy người Đức đã khiến Rubinstein từ chối công việc trau dồi kỹ thuật buồn tẻ nhưng vô cùng cần thiết này. Dù rằng có sự khác nhau đó, năm 1899 là năm đầu tiên trong sự nghiệp biểu diễn chuyên nghiệp của Rubinstein, cậu bé có buổi ra mắt rất thành công cùng Berlin Philharmonic. Trong chương trình này Rubinstein đã biểu diễn Concerto piano số 2 của Camille Saint-Saëns – tác phẩm mà cậu sẽ chơi trong suốt cuộc đời mình. Quá ấn tượng với những gì mà Rubinstein đã thể hiện, một nhà phê bình đã viết: “Cậu bé chơi mọi thứ, nhưng không phải là kiểu thần đồng mà là một nghệ sĩ thực thụ, một người đã trưởng thành”. Buổi biểu diễn diễn ra dưới con mắt dò xét của Joachim và ông đã tỏ ra rất mãn nguyện. Và sau sáu năm không hạnh phúc dưới bàn tay của Heinrich Barth, năm 1903 Rubinstein rời Berlin trở về Ba Lan. Kể từ đó trở đi, cậu bé đã hoàn toàn tự lập.
Năm 1913, khi 16 tuổi, sau một thời gian học với nghệ sĩ bậc thầy Paderewski, chàng trai trẻ chuyển tới Paris với ước mong được học thêm nữa và tại đây Rubinstein có những buổi gặp gỡ với Paul Dukas và Maurice Ravel. Cũng trong thời gian này, anh đã chơi Concerto piano số 2 của Saint-Saëns cho chính tác giả nghe và ông đã dành tặng cho anh những lời ngợi khen tốt đẹp nhất. Trong những năm tiếp theo, Rubinstein tiếp tục có hàng loạt buổi biểu diễn tại Paris cũng như tại nhiều thành phố khác tại châu Âu và giành được rất nhiều thiện cảm của giới phê bình cũng như công chúng. Năm 1906, Rubinstein đến New York và có buổi biểu diễn đầu tiên tại Carnegie Hall. Dù rằng sự đón tiếp tại Mĩ khá lạnh nhạt nhưng anh cũng hoàn thành 75 buổi hoà nhạc như kế hoạch ban đầu đã đề ra. Dù vậy thì đây không hẳn là một sự thành công. Công chúng thì rất hài lòng nhưng giới phê bình thì lại tỏ ra thờ ơ. Sau này Rubinstein bình thản ngồi đúc kết lại: “Tôi không còn là một thần đồng nữa và chưa phải một nghệ sĩ đã trưởng thành. Những nhà phê bình đã tỏ ra nghiêm khắc, thậm chí là quá nghiêm khắc. Tôi đã nghĩ rằng tôi đã vĩnh viễn mất nước Mĩ”. Anh quay trở về Paris, tiếp tục miệt mài luyện tập trong 4 năm và không hề biểu diễn bất cứ một chương trình nào. Đây là giai đoạn dông bão trong cuộc đời của Rubinstein, cuộc sống thì nghèo túng và đôi khi anh còn không có chỗ để cư trú nhưng bù lại là việc được sống trong một môi trường hội tụ những tinh hoa của châu Âu thời bấy giờ. Anh trở thành bạn của Serge Koussevitzky và Igor Stravinsky. Cuối cùng thì Rubinstein cũng giành được một chỗ đứng tại Paris trước khi Thế chiến thứ nhất nổ ra và trở thành người tiên phong trong việc biểu diễn các tác phẩm dành cho piano của những nhà soạn nhạc như đương thời như Manuel de Falla, Claude Debussy, Ravel, Stravinsky và Karol Szymanowski – người mà sau này Rubinstein gần như quên lãng. Rubinstein trở lại đầy thành công tại Berlin vào năm 1910 và sau đó là chuyến lưu diễn tới Moscow và Saint Peterburg cùng Koussevitzky.
Sau một loạt những buổi biểu diễn đầy ấn tượng tại Áo, Italy và Nga, Rubinstein có buổi ra mắt tại Bechstein (ngày nay là Wigmore) Hall, London vào năm 1912 và từ đó anh chủ yếu sống tại đây trong suốt thời gian diễn ra Thế chiến thứ nhất. Khi chiến tranh xảy ra, Rubinstein trở thành phiên dịch viên trong quân đội (anh sử dụng thành thạo 8 ngoại ngữ) nhưng vẫn tham gia đệm đàn cho Eugene Ysaÿe trong một số buổi hoà nhạc. Sau đó anh chuyển tới Paris và tham gia trong Quân đoàn Ba Lan. Đã nhiều lần đối mặt với cái chết nhưng thật may mắn cho chúng ta là thần may mắn đã can thiệp và kết thúc cuộc chiến tranh, Rubinstein đã trở về yên lành. Anh trở về London và chuẩn bị cho một loạt các buổi hoà nhạc tại Tây Ban Nha. Chuyến lưu diễn này đã trở thành một mốc son trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của Rubinstein. Anh đã thực sự trưởng thành và tiếng đàn đã tràn đầy cảm xúc hơn hẳn thời kỳ ở Mĩ. Khán giả đã say mê thưởng thức các buổi biểu diễn của Rubinstein. Trong thời gian ở đây, Rubinstein học tiếng Tây Ban Nha và chơi nhiều các tác phẩm của những nhạc sĩ bản xứ như Falla, Isaac Albéniz hay Enrique Granados. Tiếng đàn của Rubinstein không trầm tĩnh, khoan thai như cách chơi truyền thống mà bùng nổ, dữ dội, phóng túng. Đó là tiếng đàn tràn đầy cảm xúc và toát ra một thứ ma lực khiến khán giả không thể không im lặng lắng nghe, điều này có lẽ đáng chú ý hơn là kĩ thuật vốn rất đáng nể của anh. Rời đất nước Tây Ban Nha, Rubinstein đến Nam Mĩ – nơi có những nét văn hóa tương đồng. Những buổi biểu diễn tại đây giúp anh có thêm thu nhập cũng như sự cam đảm cho một cuộc chinh phục những khán giả khó tính nhất tại châu Âu. Anh trở lại châu Âu vào năm 1916 và tổ chức hơn 100 chương trình hoà nhạc và lặp lại thành công như đã từng có tại Nam Mĩ. Thời gian này Rubinstein vẫn trung thành với các tác giả như Granados, Albéniz, Heitor Villa-Lobos và đặc biệt là Falla. Sau này nhìn lại, Rubinstein đánh giá rằng các buổi biểu diễn này vẫn còn nhiều nốt nhạc chưa được như ý nhưng với những khán giả Tây Ban Nha và Nam Mĩ, cái hồn của tác phẩm quan trọng hơn sự chính xác của kĩ thuật. Sau này nhìn lại, Rubinstein nói đùa: “Khi tôi chơi ở các nước Latinh, họ yêu mến vì khí chất của tôi. Nhưng khi tôi chơi ở Anh và Mỹ, họ cảm thấy rằng vì họ đã trả tiền nên họ có quyền nghe tất cả các nốt nhạc. Những ngày đó tôi đánh rơi quá nhiều tiền và họ cảm thấy mình bị lừa”.
Những năm 1920, Rubinstein đã thiết lập vững chắc danh tiếng của mình trong những buổi hoà nhạc quốc tế và năm 1924 được tạp chí “Modern Music and Musicians” miêu tả như “một trong những nghệ sĩ xuất sắc nhất của thời đại chúng ta” nhưng khi đó, ông chưa có được một bản thu âm nào. Công nghệ cũ kĩ không thể truyền tải được đầy đủ âm thanh trong trẻo, ngọt ngào của cây đàn piano cho đến khi phát minh ghi âm bằng điện ra đời vào năm 1925. Đến lúc này, rất nhiều nghệ sĩ nổi tiếng, trong đó có Rubinstein, mới bắt đầu tiến hành những bản thu âm đầu tiên của mình. Những đĩa nhạc của Rubinstein trước năm 1935 khắc họa rõ nét tâm hồn và bản chất con người ông, dù rằng với sự phán xét nghiêm khắc thì đôi lúc có những chỗ sai lầm khó tha thứ được. Bản thu âm đầu tiên của ông là với Bacarolle của Chopin vào năm 1928. Tạp chí Gramophone đã phàn nàn: “nghệ sĩ piano đã hoàn toàn phá hủy tác phẩm với tất cả những đoạn rubato không cần thiết”. Tuy nhiên đó chỉ là một trong số ít ỏi vài lời chê trách trong suốt sự nghiệp hơn 50 năm ghi âm của ông.
Tại Paris, Rubinstein lại phải sống trong sự khủng hoảng mà ông từng có như hồi trước Thế chiến thứ nhất. Với những người bạn, Jean Cocteau và Pablo Picasso, ông thích một cuộc sống tự do, phóng túng theo đúng phong cách nghệ sĩ nhưng rồi dần dần cảm thấy bế tắc. Điều này chỉ được giải tỏa khi ông 40 tuổi và quyết định chọn cho mình một cuộc sống ổn định. Thời điểm đó là lúc ông gặp con gái của nhạc trưởng nổi tiếng người Ba Lan Emil Mlynarski. Bất chấp việc Nela kém Rubinstein gần 20 tuổi, họ vẫn quyết định kết hôn vào năm 1932 tại London. Hơn bất kì điều gì, mối quan hệ này và việc bắt đầu có một gia đình đã khiến Rubinstein phải nghĩ đến việc chơi đàn một cách nghiêm túc hơn: “Tôi không muốn các con tôi lớn lên nghĩ về cha chúng như một nghệ sĩ piano hạng hai hoặc đại loại như vậy”. Ngay sau khi đứa con đầu lòng của họ ra đời, Rubinstein thuê một điền trang nhỏ và lao vào tập luyện từ 12 đến 16 giờ đồng hồ một ngày. Trong những năm tháng mà Rubinstein rời xa cái vali của mình, trình độ kĩ thuật siêu việt của những nghệ sĩ piano trẻ hơn, ví dụ như Vladimir Horowitz đã chiếm trọn tâm trí công chúng và đẩy Rubinstein về phía sau. Ông tự hỏi: “Liệu người ta có đồn đại về tôi rằng tôi có thể trở thành một nghệ sĩ piano vĩ đại? Liệu đây có phải là thứ tài sản mà tôi có thể để lại cho vợ con tôi?”. Rubinstein rút lui khỏi các chương trình hoà nhạc và âm thầm tập luyện một cách điên cuồng nhằm hoàn thiện kĩ thuật chơi đàn và khi ông trở lại vào năm 1935, Rubinstein nhận được sự tán thưởng của nhà phê bình nguời Mĩ Harold C. Schonberg: “người khổng lồ đã trở lại”. Năm tiếp theo, ông biểu diễn tại châu Âu, lần đầu kể từ năm 1929 và trở thành một trong những nghệ sĩ được hâm mộ nhất. Quân đội Hiller tiến vào Paris năm 1940 và Rubinstein cùng gia đình phải đến Mĩ sinh sống, ông nhập quốc tịch Mĩ năm 1946. Sau Thế chiến thứ hai, ông đã trở thành một trong những nghệ sĩ piano nổi tiếng nhất, một người khác chính là Horowitz nhưng Horowitz với tính khí kì quặc của mình đã rời xa sân khấu trong vòng 12 năm (từ 1953 đến 1965) còn Rubinstein thì không bao giờ làm như vậy. Rubinstein trở lại Ba Lan vào năm 1958, sau 20 năm trời, ông đã khóc trước khán giả Warsaw và trở thành người thứ hai giành được sự nhất trí tung hô của công chúng (người đầu tiên là Paderewski). Không chỉ tích cực trong việc biểu diễn piano cùng dàn nhạc cũng như độc tấu, Rubinstein còn thường xuyên tham gia chơi trong các tác phẩm thính phòng. Bạn diễn của ông là Jascha Heifetz, Emanuel Feuermann (sau này là Gregor Piatigorsky), Paul Kochinski. Sau đó là Henryk Szeryng và Guarneri Quartet trong những năm 1960 và 1970. Ông cũng rời nước Mĩ để chuyển tới sinh sống tại Thuỵ Sĩ.
Tháng 5/1964, Rubinstein có mặt trong buổi lễ ra mắt Arthur Rubinstein Chair of Music tại Hebrew University, Jerusalem. Ông cũng để lại toàn bộ số tiền có được từ những buổi recital tại Israel cho đất nước này. Một lần nữa, năm 1974, nhà nước Israel lại dành cho ông một vinh dự khi lấy tên ông đặt cho một cuộc thi piano: Arthur Rubinstein International Piano Master Competition. Thật là lạ thường và kì diệu khi ở độ tuổi 70 và 80, Rubinstein vẫn thường xuyên biểu diễn cả 2 concerto piano của Johannes Brahms hoặc 3 concerto piano của Ludwig van Beethoven trong một chương trình. Trong suốt 4 thập kỉ cho đến khi ông nghỉ hưu vào năm 1976, Rubinstein được công nhận là một trong số những nghệ sĩ được kính trọng và yêu mến nhất. Thị giác yếu dần là nguyên nhân chính khiến ông không thể tiếp tục công việc mà ông đã gắn bó trong suốt gần tám thập kỉ. Bất chấp tuổi cao và sức khỏe suy giảm, Rubinstein vẫn tiếp tục biểu diễn khi đã ngoài 80 tuổi. Kể cả khi thị lực suy giảm đáng kể, ông vẫn đi khắp thế giới để dạy học và truyền đạt kinh nghiệm cho những sinh viên trẻ. Buổi biểu diễn cuối cùng của Rubinstein diễn ra vào tháng 5/1976 tại Wigmore Hall, London. Lần cuối ông trở về quê nhà Ba Lan vào năm 1979. Ông qua đời tại nhà riêng ở Geneva, Thụy Sĩ vào ngày 20/12/1982 khi 95 tuổi, để lại một di sản khổng lồ với hàng nghìn recital, concert trong cả tư cách nghệ sĩ độc tấu và hoà tấu cùng hơn 200 bản thu âm, trong đó không thể không nói tới toàn bộ các tác phẩm dành cho piano của Chopin – người nhạc sĩ mà khi nhắc đến Rubinstein ta không thể không nói tới. Theo nguyện vọng của Rubinstein, đúng một năm sau, thi hài ông được chuyển về Israel và chôn cất tại một cánh rừng – sau này mang tên ông: “Rừng Rubinstein”.
Rubinstein là một người sành sỏi về xì gà, ẩm thực cao cấp, rượu vang và hội hoạ. Ông tự hào: “Tôi biết Picasso trước khi ông ấy là Picasso và tôi đã là Rubinstein”. Nổi tiếng về cuộc sống xa hoa, Rubintein từng khoe khoang: “Người ta nói về tôi rằng khi còn trẻ, tôi đã phân chia thời gian của mình một cách vô tư cho rượu vang, phụ nữ và âm nhạc. Tôi phủ nhận điều này một cách rõ ràng. Chín mươi phần trăm sở thích của tôi là phụ nữ”. Ở tuổi 75, khi được hỏi, Rubinstein giải thích cho sự hoạt bát và nhanh nhẹn của mình: “Vitamin có ích gì? Ăn một con tôm hùm, ăn một cân trứng cá muối – đó là sống! Nếu bạn đang yêu một cô gái tóc vàng xinh đẹp với khuôn mặt trống rỗng và không có đầu óc, đừng sợ hãi. Cưới cô ấy! Hãy sống!”. Có lẽ Rubinstein hơi cường điệu nhưng không thể phủ nhận ông đã trở thành một trong những tên tuổi nổi bật nhất của giới âm nhạc cổ điển. Hàng triệu đĩa nhạc đã được bán và là nghệ sĩ piano được trả mức phí cao nhất cho mỗi lần biểu diễn. Với Rubinstein, biểu diễn là một niềm đam mê, ông cảm thấy hạnh phúc khi được chơi đàn: “Đừng nói với (ông bầu của Rubinstein), nhưng tôi chơi piano chẳng vì gì cả, tôi rất thích nó”. Và phòng hòa nhạc là thế giới âm nhạc tuyệt vời nhất có thể có. Rubinstein thích thú với tính tức thời của nó: mỗi buổi hòa nhạc là một trải nghiệm không thể tái tạo. Đó là thái độ của Rubinstein đối với cuộc sống.
Khi còn là một chàng trai trẻ, Rubinstein là nhà vô địch với sự nhiệt thành giới thiệu những tác phẩm của những tác giả đương thời như Szymanowski, Stravinsky, Debussy, Ravel, Francis Poulenc, Sergei Prokofiev cũng như các nhạc sĩ Tây Ban Nha và Nam Mĩ. Nhưng Chopin vẫn là tác giả trung thành của ông, tuy nhiên càng về sau, Chopin đã dần dần bị Brahms thay thế, nhà soạn nhạc người Đức này đã khơi dậy những bản năng mạnh mẽ và thầm kín nhất của Rubinstein. Sau đó nữa là Mozart. Và cũng không vì vậy mà vầng hào quang của Rubinstein với âm nhạc của Chopin bị phai mờ. Trong tất cả những tác phẩm dành cho piano của Chopin, từ các concerto cho đến Nocturne, Op. 15/2 (thường được ông biểu diễn như một đoạn encore để khép lại chương trình), dưới những ngón tay tài hoa của người nghệ sĩ thiên tài luôn tràn đầy sự ấm áp, nhiều màu sắc và đẹp một cách rực rỡ, đúng như những gì mà chúng ta luôn nghĩ về Chopin, đó không phải là sự hoàn mĩ về mặt kĩ thuật mà là một tâm hồn đầy cao quý, cháy bỏng và không thể bắt chước được. Ông chơi đàn với một niềm hứng khởi kì lạ, ông yêu cây đàn piano, yêu các tác phẩm mà mình biểu diễn và thôi miên khán giả trên khắp thế giới. Tên tuổi của Rubinstein đã được Schonberg khẳng định: “Các đồng nghiệp coi ông là một điều kỳ diệu, các chuyên gia lão khoa lầm bầm khi nói về ông và sẽ không ai tranh cãi nhiều khi ông được gọi là nghệ sĩ piano vĩ đại nhất còn sống. Vladimir Horowitz có thể có kỹ thuật điêu luyện hơn, Rudolf Serkin có thể có phong cách hay hơn với âm nhạc Đức, Rosalyn Tureck có mối quan hệ gần gũi với Bach hơn, Sviatoslav Richter là với Prokofiev và Scriabin và Claudio Arrau có thể có một danh mục rộng lớn hơn. Nhưng không có nghệ sĩ piano nào có thể kết hợp mọi thứ lại với nhau như Rubinstein đã làm. Những người khác có thể giỏi hơn ở một số lĩnh vực cụ thể, nhưng Rubinstein mới là nghệ sĩ piano hoàn hảo”.
Cobeo





