CHƯƠNG VII – TRỞ VỀ PARIS

 

Tụ tập tại ga dei Termini, gần Khu phế tích Diocletian, bạn bè tôi chỉ rời đi sau khi chúng tôi đã trao nhau nhiều cái ôm nồng nhiệt, và họ còn nán lại cho đến khi con tàu chở tôi khuất hẳn phía chân trời.

Những con người hạnh phúc! Chắc là họ ngủ đêm hôm đó tại Viện Pháp, trong khi tôi đơn độc và bị những cảm xúc chia ly giằng xé, tê tái vì cái lạnh buốt giá tháng 12, co ro trong tấm áo choàng luôn mang theo mình trong suốt thời gian ở Rome. Bị những mảnh ký ức này bao phủ, tôi chỉ có thể ngủ thiếp đi vì mệt mỏi.

Ngày hôm sau tôi đã ở Florence.

Tôi muốn thăm lại lần cuối thành phố này, nơi có một trong những bộ sưu tập nghệ thuật phong phú nhất ở Ý. Tôi đến Cung điện Pitti, một trong những kỳ quan của Florence: khi đi qua những phòng trưng bày này, tôi thấy dường như mình không hề đơn độc ở đó, bởi đồng hành cùng tôi là ký ức sống động về bạn bè, về những niềm vui ngây ngất và lòng nhiệt tình của họ trước tất cả những kiệt tác chất đống trong cung điện lộng lẫy này. Tôi gặp lại những Titian này, những Tintoret này, những Leonardo de Vinci này, những Veronese này, những Michelangelo này, những Raphael này.

Với đôi mắt vô cùng thích thú, tôi một lần nữa chiêm ngưỡng báu vật vô giá là bức tranh Đức mẹ Đồng trinh ngồi trên ghế của Raphael, một kiệt tác hội họa, rồi tới bức Sự cám dỗ của Thánh Antoine của Salvator Rosa, hiện rõ trong phòng Ulysse, còn trong phòng Flore là Vénus của Canova được đặt trên một đế quay. Các tác phẩm của Ruben, Rembrandt, Van Dyck cũng là đối tượng để tôi chiêm ngắm.

Tôi rời Cung điện Pitti chỉ để lại bị choáng ngợp bởi Cung điện Strozzi, kiểu cung điện đẹp nhất của Florence với phào chỉ do Simone Pollajolo thiết kế và được biết đến là đẹp nhất trong thời hiện đại. Tôi cũng thăm lại Vườn Boboli, cạnh Cung điện Pitti, do Tribolo và Buontalenti thiết kế.

Tôi kết thúc ngày hôm ấy bằng một cuộc dạo bộ ở nơi được mệnh danh là Rừng Boulogne của Florence, lối đi dạo Cascine, ở cổng phía Tây Florence, giữa hữu ngạn sông Arno và đường sắt. Đây là lối đi dạo yêu thích của giới thời trang và thanh lịch Florence, thành phố được mệnh danh là Athens của Ý.

Tôi nhớ là trời đã tối và do vô ý bỏ quên đồng hồ ở khách sạn tôi bèn hỏi một người nông dân mình gặp trên đường xem lúc đó là mấy giờ. Câu trả lời mà tôi nhận được là một trong những câu trả lời thực sự thi vị mà ta không thể nào quên. Đây là bản dịch:

Bảy giờ rồi mà không trung còn rung động!…
Sono le sette, l’aria ne treme ancora!…

Tôi rời Florence để tiếp tục đi qua Pisa trên đường trở về.

Với tôi Pisa có vẻ hoang vắng như thể đã bị dịch hạch càn quét! Cứ nghĩ dến chuyện vào thời Trung cổ đây là đối thủ của Gênes, Florence, Venise là ta cảm thấy bối rối trước vẻ khá hoang tàn bao trùm thành phố. Tôi ở lại một mình gần một giờ trên Quảng trường Nhà thờ, tò mò ngắm nhìn ba kiệt tác phô bày vẻ đẹp nghệ thuật ở đó: nhà thờ lớn hay Duomo di Pisa, gác chuông, được biết đến nhiều hơn với tên Tháp Nghiêng, và cuối cùng là Nhà rửa tội.

Giữa Nhà thờ và Nhà rửa tội là Campo-Santo, nghĩa trang nổi tiếng được xây dựng từ nhúm đất mang về từ Jérusalem.

Tôi thấy dường như Tháp Nghiêng chực chờ tôi đi qua chỉ để giáng xuống tôi, như Gác chuông Venise, đòn hủy diệt chí mạng. Nhưng không! Có vẻ như tòa tháp với độ nghiêng chính xác từng được Galiléo sử dụng để thực hiện các thí nghiệm nổi tiếng về định luật hấp dẫn này chưa bao giờ vững chãi hơn thế. Điều này được chứng minh bằng việc bảy quả chuông lớn trên đó vang to hết cỡ vài lần mỗi ngày nhưng chưa bao giờ làm tổn hại đến khả năng chống chịu của cấu trúc kỳ lạ này.

Đến đây tôi trải qua một trong những khoảnh khắc thú vị nhất trên hành trình của mình. Sau khi rời Pisa, tôi thu mình dưới tấm vải bạt của một cỗ xe khách đi men theo bờ Địa Trung Hải xanh ngắt, qua Spezzia đến tận Gênes. Tuyệt vời làm sao hành trình tôi thực hiện dọc con đường La Mã cổ xưa được đánh dấu trên đỉnh những mỏm đá nhô ra biển! Tôi theo con đường này như thể được mang đi trong giỏ một khinh khí cầu tùy hứng.

Con đường liên tục chạy dọc bờ biển, khi thì xuyên qua những rừng ô liu, khi thì lại leo lên những đỉnh núi mà từ đó bao quát một chân trời vô tận.

Phong cảnh nơi nơi đẹp như tranh vẽ từ nhiều góc nhìn lạ lùng dọc đường. Du hành dưới ánh trăng tuyệt đẹp như tôi khi ấy là tất cả những gì ta có thể mơ về vẻ đẹp lý tưởng nhất trong sự độc đáo của nó, với những ngôi làng mà từ đó ta thi thoảng trông thấy một ô cửa sổ sáng đèn phía xa cùng vùng biển có độ sâu khôn dò mà ta nhìn xuống.

Có vẻ như tôi chưa bao giờ tích lũy cho mình nhiều đến thế những ý tưởng và dự định như trong hành trình này. Tôi luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ rằng chỉ vài giờ nữa thôi tôi đã lại ở Paris và cuộc đời tôi sẽ bắt đầu tại đó.

Tôi đi từ Gênes đến Paris bằng đường sắt. Ta ngủ rất ngon khi ta còn trẻ! Một cơn rùng mình đánh thức tôi dậy. Trời băng giá. Cái lạnh cóng ban đêm đã che phủ cửa sổ toa tàu của tôi bằng những đường hoa văn kiểu Ả Rập.

Tàu đã qua Montereau. Montereau! Paris gần lắm rồi, ở ngay phía chân trời! Tôi có thể nào ngờ rằng nhiều năm sau mình sẽ sở hữu một ngôi nhà mùa hè ở xứ sở láng giềng với Égreville này?

Trái ngược biết bao giữa bầu trời Ý tuyệt đẹp – cái bầu trời luôn trong xanh và được các thi nhân ngợi ca đến thế, cái bầu trời tôi vừa rời đi – và bầu trời tôi đang thấy ám đạm, xám xịt và thật âm u!

Hành trình cùng một vài chi phí lặt vặt khiến số tiền tôi còn lại trong túi là… hai franc!

Tôi vui biết bao khi về tới nhà chị gái mình! Và cũng may mắn biết bao!

Bên ngoài trời đang mưa như trút nước, và hai franc quý giá được tôi dùng để mua vade mecum [tiếng Latin: vật luôn mang theo mình] cần thiết này: một chiếc ô! Tôi đã không cần dùng đến nó trong suốt thời gian ở Ý.

Vậy nên được che chở trước thời tiết xấu, tôi đến Bộ Tài chính, nơi tôi biết mình sẽ phải tìm kiếm khoản trợ cấp quý đầu tiên của năm mới. Những người đoạt Giải thưởng Lớn thời đó được hưởng mức trợ cấp ba nghìn franc mỗi năm. Tôi còn được hưởng trong ba năm nữa. Thật may mắn!

Người bạn tốt mà tôi từng nhắc đến khi hay tin tôi trở về đã thuê cho tôi một căn phòng trên tầng năm ở số 14 phố Taitbout.

Từ vẻ đẹp yên ả và thanh bình của căn phòng ở Viện Pháp, tôi rơi trở lại giữa Paris nhộn nhịp ồn ào này.

Thầy Ambroise Thomas giới thiệu tôi với một số bạn bè giàu có, những người tổ chức các tối hòa nhạc rất nổi tiếng. Đó là nơi tôi lần đầu gặp Léo Delibes, tác giả vở ballet Dòng suối đã gây tiếng vang lớn tại Nhà hát Opéra. Tôi xem anh chỉ huy một bản hợp xướng tuyệt hay do các quý cô trong giới hát, và tôi thầm tự nhủ: “Mình cũng sẽ viết một bản hợp xướng! Và nó sẽ được hát lên!” Quá đúng như thế, nhưng được hát bởi bởi bốn trăm giọng nam. Tôi đã giành giải nhất cuộc thi Thành Paris.

Tôi bắt đầu quen biết thi sĩ Armand Silvestre từ thời điểm này. Một hôm tôi tình cờ ngồi cạnh anh trên cỗ xe buýt hai tầng, và chuyện qua chuyện lại chúng tôi đã thành bạn tốt nhất đời. Thấy tôi là người chịu chuyện, anh kể tôi nghe vài giai thoại tếu táo nhất mà anh rất giỏi. Nhưng với tôi, thi sĩ vẫn vượt trên người kể chuyện, và một tháng sau tôi viết Bài thơ tháng Tư [Poème d’Avril], lấy cảm hứng từ những áng thơ cao nhã trong tập sách đầu tay của anh.

Nhân nhắc đến Bài thơ tháng Tư, tôi còn nhớ rằng tác phẩm đã gây ấn tượng đẹp với Reyer. Ông khích lệ tôi gửi cho một nhà xuất bản. Mang theo lá thư với quá nhiều những lời tán dương của ông, tôi tìm đến nhà xuất bản Choudens mà ông giới thiệu. Sau bốn lần về không, rốt cuộc tôi cũng được nhà xuất bản giàu có của Faust tiếp đón; tôi còn chưa kịp đưa bản thảo nhỏ của mình ra thì đã lập tức bị đuổi khéo. Tôi cũng được đón tiếp tương tự ở các nhà xuất bản Flaxland trên Quảng trường Madeleine, và cả ở nhà Brandus, nơi xuất bản các tác phẩm của Meyerbeer.

Tôi thấy điều này rất đương nhiên. Tôi là ai chứ? Một kẻ hoàn toàn vô danh.

Khi đang quay trở về tầng năm phố Taitbout mà không quá buồn phiền với bản nhạc trong túi, tôi được một thanh niên cao lớn có mái tóc vàng cùng gương mặt thông minh và duyên dáng bắt chuyện: “Từ hôm qua, tôi mở một cửa hiệu âm nhạc ngay tại đây, trên Đại lộ Madeleine. Tôi biết anh là ai và tôi sẵn lòng xuất bản bất cứ tác phẩm nào anh muốn.” Đó là Georges Hartmann, nhà xuất bản đầu tiên của tôi.

Tôi chỉ cần rút tay khỏi túi và đưa cho anh Bài thơ tháng Tư vừa bị đối xử lạnh nhạt ở nơi khác.

Đúng là tôi chẳng kiếm được xu nào từ việc này; nhưng nếu có bao nhiêu tiền thì tôi cũng sẽ không bỏ ra để tự xuất bản. Vài tháng sau, những người yêu nhạc đã ngâm nga những câu thơ này:

Que l’heure est donc brève
Qu’on passe en aimant!
[Một giờ ta tình tự
Mới ngắn ngủi làm sao!]

Đó vẫn chưa phải là vinh dự hay tiền bạc nhưng chắc chắn là một niềm khích lệ lớn lao.

Dịch tả hoành hành ở Paris. Tôi đổ bệnh và hàng xóm láng giềng không còn dám ghé qua xem tôi sống chết thế nào. Tuy nhiên thầy Ambroise Thomas, khi được báo tin về căn bệnh nguy hiểm và cảnh khốn quẫn không ai cứu giúp của tôi, đã đến thăm tôi trong căn phòng tồi tàn cùng bác sĩ riêng của thầy và cũng là bác sĩ của Hoàng đế. Hành động dũng cảm và đầy tình phụ tử của người thầy kính yêu đã khiến tôi cảm động đến mức ngất xỉu trên giường.

Tôi phải nói thêm rằng căn bệnh này chỉ là nhất thời và tôi đã có thể hoàn thành mười tác phẩm piano mà vì thế được nhà xuất bản Girod trả hai trăm franc. Mỗi trang một đồng louis! Nhờ nhà xuất bản thiện lành này mà tôi lần đầu tiên kiếm được tiền từ âm nhạc của mình.

Sức khỏe của Paris đã được cải thiện.

Vào ngày 8 tháng 10, lễ cưới của tôi diễn ra tại một nhà thờ nhỏ bé cũ kỹ ở làng Avon, gần Fontainebleau.

Anh trai vợ tôi và người anh họ mới của tôi, nghệ sĩ violin lỗi lạc Armingaud, người sáng lập nhóm tứ tấu nổi tiếng, là các nhân chứng. Nhưng không chỉ có vậy. Còn có một bầy chim sẻ vừa bay qua những ô cửa kính ghép màu bị vỡ vừa ríu rít gọi nhau to đến mức gần như át cả tiếng phát biểu của vị linh mục can đảm.

Trong bài phát biểu, đức cha bày tỏ lòng cảm phục người bạn đồng hành mới của tôi và động viên tôi trước một tương lai vẫn còn chưa chắc chắn.

Sau lễ cưới, chúng tôi dạo bước trong khu rừng Fontainebleau xinh đẹp. Ở đó giữa vẻ huy hoàng của thiên nhiên xanh nhuốm những tia nắng ấm từ mặt trời rạng rỡ và được tiếng chim hót mơn trớn, tôi dường như nghe lời nhắn nhủ của thi sĩ dịu dàng và vĩ đại Alfred de Musset:

Hãy yêu đi, mi sẽ được tái sinh; hãy làm một bông hoa biết nở…

Chúng tôi rời Avon để dành một tuần bên bờ biển, giữa cảnh quạnh hiu quyến rũ dành cho đôi lứa, cảnh quạnh hịu thường đáng ước ao nhất.

Ở đó tôi đã sửa các bản in thử của Bài thơ tháng Tư và mười tác phẩm piano. Sửa bản in thử! Tận mắt thấy nhạc của mình được in! Sự nghiệp sáng tác của tôi đã bắt đầu rồi chăng?

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch