Thông tin chung
Tác giả: Joseph Haydn.
Tác phẩm: Tứ tấu dây số 62 giọng Đô trưởng “Emperor”, Hob. III:77 (Op. 76/3)
Thời gian sáng tác: Năm 1797.
Độ dài: Khoảng 25 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được đề tặng Bá tước József Erdődy.
Cấu trúc tác phẩm:
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Allegro (Đô trưởng)
Chương II – Poco Adagio. Cantabile – Variations I – IV (Son trưởng)
Chương III – Menuetto. Allegro (Đô trưởng – La thứ)
Chương IV – Finale. Presto (Đô thứ – Đô trưởng)
Hoàn cảnh sáng tác
Những chuyến du lịch của Haydn tới London vào các năm 1791 và 1794 không chỉ là nguồn cảm hứng để nhà soạn nhạc sáng tác nên 12 bản giao hưởng London bất hủ mà còn là cơ hội để ông tiếp xúc với “God Save the King”, một ca khúc thể hiện lòng sùng kính của nhân dân Anh đối với người trị vì mình và qua đó bộc lộ tình yêu nước nồng nàn. Với Haydn, Quốc ca là một danh từ rất mới mẻ nhưng vô cùng cuốn hút. Trở về quê hương, Haydn rất mong muốn Áo cũng sở hữu một bài hát như vậy để tập hợp những trái tim yêu nước, đặc biệt trong bối cảnh Napoléon đem quân xâm lược Vienna vào năm 1796. Thổ lộ điều này với người bạn là Nam tước von Swieten, Trưởng phòng Thư viện Hoàng gia đồng thời là nhà bảo trợ cho nhiều nhà soạn nhạc, Haydn đã ngay lập tức nhận được sự đồng tình và giúp đỡ. Von Swieten đã đề nghị nhà thơ Lorenz Leopold Haschka sáng tác phần lời và “Gott erhalte Franz den Kaiser” (Chúa phù hộ Hoàng đế Franz) ra đời. Haydn nhanh chóng phổ nhạc và tác phẩm được biểu diễn lần đầu tiên vào ngày 12/2/1797, ngày sinh của Hoàng đế Francis II. Bài hát nhanh chóng trở nên phổ biến, trở thành một công cụ lợi hại trong việc thúc đẩy lòng yêu nước và chống lại sự xâm lăng của Napoléon. “Gott erhalte Franz den Kaiser” nhanh chóng có được vị thế quốc gia nhưng dưới sự bảo thủ của chính phủ Áo, phải đến năm 1847, bài hát này mới chính thức trở thành quốc ca Áo và tồn tại cho đến năm 1918 khi Đế quốc Áo-Hung tan rã. Đến năm 1922, với phần lời được sửa đổi. “Gott erhalte Franz den Kaiser” đã trở thành quốc ca của nước Đức cho đến tận ngày nay.
Sau khi trở về Áo, Haydn tiếp tục công việc trước đây của mình với Nikolaus II Esterházy. Tuy nhiên, hiện tại nhiệm vụ của nhà soạn nhạc đã trở nên nhẹ nhàng hơn và vì vậy, ông được tự do tiếp nhận những lời mời khác. Một trong số đó đến từ Bá tước József Erdődy, người đứng đầu toà án Hungary. Erdődy đã đề nghị Haydn sáng tác một số tứ tấu dây để biểu diễn trong lâu đài của mình với đãi ngộ rất hào phóng. Năm 1796, sáu bản tứ tấu dây ra đời, được đánh số Op. 76, được coi là một trong những đỉnh cao nhất không chỉ của thể loại này mà còn đối với toàn bộ sự nghiệp sáng tác lâu dài của Haydn. Sử gia âm nhạc Charles Burney, người cùng thời với Haydn đã nhận xét về chúng: “Tràn ngập những phát minh, rực lửa, thẩm mĩ tinh tế và vô vàn hiệu ứng mới, và dường như sản phẩm này không phải của một thiên tài siêu phàm, người đã từng viết rất nhiều và rất hay mà đến từ một trong những tài năng được trau dồi kỹ càng, người đã không thể hiện hết nhiệt huyết của mình trước đó”. Và trong số đó, bản số 3, với giai điệu chương II được lấy từ chính bài hát “Gott erhalte Franz den Kaiser” là tác phẩm nổi trội nhất. Cũng vì lí do này mà bản tứ tấu dây còn có tên gọi là “Emperor” – Hoàng đế.
Phân tích
Chương I được viết theo hình thức sonata, vui tươi, rộn ràng. Đó là sự kết hợp của một tinh thần phấn chấn, đối âm phức tạp và một số cuộc phiêu lưu về hoà âm được báo trước cho Schubert, người ra đời vào đúng năm này. Trung thành về hình thức nhưng có sự cách tân đáng kể về sự thay đổi giọng của chương nhạc. Ngay trước phần trình bày, chủ đề chính trở nên trầm tư hơn với sự chuyển đổi từ Son trưởng sang Mi giáng trưởng êm dịu. Và trước phần tái hiện, chủ đề chính được chuyển thành điệu nhảy dân gian sôi nổi của vùng nông thôn Hungary ở giọng Mi trưởng xa xôi, sau đó được chuyển đổi thành một biến tấu nhỏ ma quái ở giọng Mi thứ để rồi từ đó quay lại giai điệu chính ở giọng chủ Đô trưởng mà không hề quan tâm đến quy ước.
Chương II, trung tâm của tác phẩm, là một tập hợp 4 biến tấu, chứa đựng sự kết hợp kỳ diệu của Haydn giữa sự bình dân và cao cả. Toàn bộ bản tứ tấu xoay xung quanh chương nhạc này, biến nó thành điểm nhấn của bản nhạc. Chủ đề chính là giai điệu mở đầu “Gott erhalte Franz den Kaiser” với 5 nốt nhạc cũng chính là chữ cái đầu tiên của từng từ: Son (G) – Mi (E) – Pha (F) – Rê (D) – Đô (K). Haydn giữ nguyên nét nhạc này và chỉ thay đổi phần đệm, được gọi là cantus firmus. Chủ đề này được bắt đầu với một kết cấu dày đặc giống như thánh ca để rồi sau đó được nghe như các dòng độc tấu ở mỗi biến tấu. Mở đầu trên violin (biến tấu 1) với các nhạc cụ còn lại đảm nhận phần đệm phức tạp rồi đến cello (biến tấu 2) cùng những nét lướt tự do phía trên đó. Trong biến tấu thứ ba được viola đảm nhiệm, giai điệu chính này được bao bọc với những đối âm tự do để tiến đến biến tấu cuối cùng, kết cấu phong phú như thánh ca ban đầu trở lại nhưng ở một âm vực cao hơn, mang lại không khí phong phú cho chương nhạc, đối lập với cái kết trang nghiêm, yên tĩnh.
Haydn không bao giờ ngừng thử nghiệm và chương III Menuetto là một ví dụ điển hình. Hai violin chơi dòng giai điệu cách nhau một quãng tám để rồi viola và cello lặp lại, cũng cách nhau như vậy. Phần Trio ở giọng La thứ tương phản rõ rệt gợi nhắc đến một khung cảnh đồng quê xa xôi nào đó mà chắc hẳn sẽ có ảnh hưởng đến Schubert. Sự trang nghiêm của 4 biến tấu trước đó dường như được khung cảnh này làm nổi bật lên.
Chương IV ở dạng sonata được mở đầu mạnh mẽ ở giọng Đô thứ với tiếng vọng lại buồn bã từ phần Menuetto của violin. Chương nhạc dữ dội này gợi nhớ lại không khí Sturm und Drang (Bão táp và Xung kích) 30 năm trước đó và là tiền đề cho những tứ tấu dây vài năm sau của Beethoven. Âm nhạc nhiều đảo phách tiến về phía trước đầy đam mê và chỉ chuyển sang giọng chủ Đô trưởng khi tới phần coda, kết cấu tác phẩm trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát hơn, hướng đến một cái kết hân hoan.
Sở hữu một khối lượng tứ tấu dây đồ sộ lên đến 68 tác phẩm nhưng bản Emperor này (được đánh số 62) là một bản nhạc vô cùng độc đáo của Haydn bởi như nhà phê bình âm nhạc người Anh Cecil Gray đã nhận xét vào những năm 1900: “Người ta không thể tưởng tượng Marseillaise hoặc bất kỳ quốc ca nào khác đóng vai trò là cơ sở chủ đề trong một chương của một tứ tấu dây. Nó tồn tại ở cả ba thế giới – thế giới tôn giáo, thế giới chính trị và thế giới nghệ thuật thuần túy. Có lẽ đúng khi nói rằng đây là giai điệu tuyệt vời nhất từng được viết ra”.
Ngọc Tú tổng hợp



