Thông tin chung
Tác giả: Johannes Brahms.
Tác phẩm: Giao hưởng số 2, giọng Rê trưởng, Op. 73
Thời gian sáng tác: Mùa hè năm 1877.
Công diễn lần đầu: Ngày 30/12/1877 dưới sự chỉ huy của Hans Richter và Vienna Philharmonic tại Vienna.
Độ dài: Khoảng 45-50 phút.
Cấu trúc tác phẩm: gồm 4 chương:
Chương I – Allegro non troppo (Rê trưởng)
Chương II – Adagio non troppo (Si trưởng – Si thứ)
Chương III – Allegretto grazioso (quasi andantino) (Son trưởng)
Chương IV – Allegro con spirito (Rê trưởng)
Thành phần dàn nhạc: 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet (giọng La), 2 bassoon, 4 horn (giọng Rê, Si và Son), 2 trumpet (giọng Mi và Đô), 3 trombone, tuba, timpani và dàn dây.
Hoàn cảnh sáng tác
“Có rất nhiều giai điệu bay về đây khiến người ta phải cẩn thận đừng giẫm lên chúng”. Đó là lời nhận xét của Brahms với người bạn của mình, nhà phê bình Eduard Hanslick về khung cảnh tuyệt đẹp và yên bình của ngôi làng Pörtschach, nằm bên dãy Alps, miền nam nước Áo. Ông đã tới đây nghỉ ngơi vào mùa hè năm 1877 sau khi tận hưởng thành công của bản Giao hưởng số 1 được ra mắt vào ngày 4/11/1876 trước đó. Và không giống như bản Giao hưởng số 1 này, phải mất tới 20 năm để hoàn thành, bản Giao hưởng số 2 ra đời chỉ sau bốn tháng. Nó xuất hiện một cách tự nhiên và nhanh chóng, tuôn trào với sự uyển chuyển. Đó là một sự ngạc nhiên lớn, bởi vì Brahms, người luôn dành sự ngưỡng mộ và kính trọng lớn lao đối với các bậc tiền bối, đặc biệt là Ludwig van Beethoven, trong nhiều năm trời đã né tránh các thể loại mà bậc tiền bối vĩ đại này đã để lại dấu ấn vô cùng sâu đậm như giao hưởng và tứ tấu dây. Brahms đã từng tâm sự: “Bạn không biết cảm giác thế nào khi có bước chân của một người khổng lồ như vậy phía sau bạn”. Brahms đã vượt qua rào cản tâm lý đó và giờ đây, một tuyệt tác đã ra đời.
Nếu như bản Giao hưởng số 1 của Brahms từng được Hans von Bülow gọi là “bản giao hưởng số 10” của Beethoven vì những dấu ấn rõ nét không thể nghi ngờ thì bản số 2 này cũng có tình huống tương tự như vậy. Tác phẩm mang một không khí tươi vui, thanh bình, điền viên khiến nó còn được mệnh danh là “Pastoral”, như một sự so sánh với bản số 6 của Beethoven. Tuy nhiên, với bản chất hài hước, Brahms đã viết thư cho nhà xuất bản của mình: “Bản giao hưởng mới buồn đến mức ngài sẽ không thể chịu đựng được. Tôi chưa bao giờ viết bất cứ điều gì buồn như vậy. Tổng phổ phải xuất hiện với một đường viền màu đen”, Nhưng rõ ràng là Brahms vô cùng hài lòng với tác phẩm này của mình, trong một bức thư khác, ông cho biết: “Liệu tôi có thể có một bản giao hưởng hay ho nào khác không? Lúc nào đó tôi sẽ hỏi những người bạn thông minh của mình”.
Trước khi công diễn chính thức bản Giao hưởng số 2, Brahms đã chơi chúng trên piano cho một số người bạn của mình thưởng thức. Tất cả họ đều đưa ra những lời ngợi khen. Theodor Billroth cảm thán: “Tất cả là những dòng suối lăn tăn, trời xanh, nắng vàng và những bóng râm mát rượi. Ở Pörtschach hẳn mới đẹp làm sao”! Còn người bạn suốt đời Clara Schumann viết trong nhật ký vào tháng 10/1877: “Johannes đã đến tối nay và chơi cho tôi chương I bản giao hưởng giọng Rê trưởng. Điều này khiến tôi vô cùng thích thú. Tôi thấy trong sáng tác này có ý nghĩa hơn chương I bản Giao hưởng số 1. Tôi cũng đã nghe một phần của chương cuối và khá vui mừng với nó. Với bản giao hưởng này, anh ấy sẽ có một thành công đáng kể với công chúng hơn là bản đầu tiên, cũng như các nhạc công sẽ bị bản giao hưởng sau cuốn hút nhờ việc luyện tập và nguồn cảm hứng tuyệt vời của nó”.
Bản Giao hưởng số 2 tràn ngập ánh nắng chói chang và vẻ đẹp tự nhiên tinh tế của vùng Alps. Gần như không có sự căng thẳng và đấu tranh bi thảm tràn ngập như trong bản giao hưởng đầu tiên. Michael Musgrave nhận xét: “Bản Giao hưởng số 2 mở ra trong thế giới của điệu waltz, vốn đã quen thuộc tại Vienna với Johann Strauss”. Toàn bộ bầu không khí của tác phẩm này được phản ánh trong các nhạc cụ của nó, trong trẻo, tươi sáng và yên vui hơn khi flute, oboe và clarinet chiếm vị trí nổi bật.
Phân tích
Chương I
Chương I là một điệu waltz nhẹ nhàng, du dương. Dù điệu 3/4 không phải chưa từng có (ví dụ như bản Giao hưởng số 39 của Wolfgang Amadeus Mozart, số 94 của Joseph Haydn và số 3 “Eroica” của Beethoven) nhưng vẫn rất hiếm gặp trong thời của Brahms. Cello và double bass bắt đầu hình thức sonata của chương nhạc bằng cách giới thiệu ba nốt nhạc đầu tiên của chủ đề chính, yên tĩnh, thanh bình, như một chủ đề tuyên ngôn của tác phẩm, được lặp đi lặp lại hoặc đảo ngược suốt bản giao hưởng, được nối tiếp bằng horn. Chủ đề hai, trên violin và cello, ở giọng Pha thứ, mang tới một trong những “bài hát ru” điển hình ở Brahms. Đúng theo truyền thống, phần phát triển tập trung vào hai chủ đề này. Tiếng timpani cuộn lên, cùng với trombone và tuba, một cơn bão hình thành đe doạ không khí đồng quê của chương nhạc. Mọi thứ đã trở về đúng bản chất của nó trong phần tái hiện, được Brahms ghi chú sempre tranquillo (luôn yên lặng), lan toả cho đến khi kết thúc chương nhạc.
Chương II
Chương II mở đầu bằng một trong những giai điệu đẹp nhất của Brahms, được chơi trên cello, mang một nỗi buồn da diết. Chút bóng tối hiếm hoi trong một khung cảnh tràn ngập ánh nắng ấm áp. Chủ đề thứ hai xuất hiện trên bassoon nhưng giai điệu cello vẫn thống trị, thường xuyên xuất hiện trong chương nhạc. Âm nhạc chuyển từ nhịp 4/4 sang 12/8, mở ra phần giữa tương phản ở giọng Si thứ. Những đám mây tạm thời che bớt ánh nắng cho đến khi oboe giới thiệu lại giai điệu của cello.
Chương III
Chương III đóng vai trò như một intermezzo hơn là scherzo. Chương nhạc duyên dáng này thay đổi giọng liên tục giữa trưởng và thứ, gợi lại không khí của Franz Schubert. Mở đầu là chủ đề trên oboe dựa trên sự chuyển đổi của ba nốt đầu tiên trong chương I, tạo thành nền tảng cho phần A của cấu trúc ABABA. Phần B có nhịp độ nhanh hơn, cung cấp sự nhịp nhàng tương phản tuyệt vời với nhịp waltz mang không khí đồng quê tươi vui.
Chương IV
Chương IV có hình thức sonata, cung cấp cảnh bình minh rực rỡ của một lễ hội vui nhộn và hào hứng nhất mà Brahms từng viết. Khi sự phấn khích ban đầu mất dần, violin giới thiệu một chủ đề mới, được lặp lại nhiều lần trong chương nhạc, được chơi trên kèn gỗ cho đến khi phát triển thành một cao trào. Nhà soạn nhạc đã sử dụng rất nhiều phức điệu trong chương cuối này. Giữa chương nhạc, không khí chợt thanh bình, như để tích tụ năng lượng cho phần cuối. Ánh nắng mặt trời của chương I trở nên rực rỡ hơn, đưa tác phẩm kết thúc trong một tâm trạng rộn rã và tươi vui hơn bao giờ hết.
Buổi ra mắt bản Giao hưởng số 2 đã thành công rực rỡ, khán giả đã yêu cầu biểu diễn lại một trích đoạn. Tác phẩm là một điều kỳ diệu, không chỉ vì nó tuyệt vời mà nó còn khác biệt so với những gì Brahms sáng tác trước đó. Luôn luôn là nhà phê bình nghiêm khắc nhất của chính mình, bản Giao hưởng số 2 này giúp ông tự tin hơn trong việc sáng tác những bản giao hưởng, điều mà ông đã né tránh trong hơn 40 năm. Kể từ đó, ông còn viết thêm hai bản giao hưởng nữa, và chúng vẫn luôn toả sáng cho đến tận ngày hôm nay.
Cobeo



