“Mozart, Wagner và Richard Strauss là những nhà soạn nhạc gắn liền với tên tuổi của ông nhất, theo sau là Haydn, Beethoven, Schubert, Bruckner, Brahms và Berg. Cách tiếp cận âm nhạc của Böhm, được thực hiện trong các cử chỉ chuyên môn nghiêm ngặt, trực tiếp, năng động, tươi mới, quyết đoán, tránh những chi tiết tình cảm lãng mạn hoặc động tác điêu luyện… Ông được nhiều người ngưỡng mộ vì khả năng cân bằng khéo léo, sự hoà trộn âm thanh, nhịp độ ổn định và sự căng thẳng kịch tính của mình.” – Grove Music

Karl Böhm không phải cục nam châm thu hút sự chú ý như Herbert von Karajan, theo chủ nghĩa lãng mạn như Bruno Walter, cũng không hề cầu toàn và gai góc như Arturo Toscanini hay thơ mộng như Wilhelm Furtwängler. Trên hết tất cả, Böhm là một nghệ sĩ kiên định, ông trầm lặng trong phong thái, mạnh mẽ trong kỹ thuật và giản dị trong phong cách. Ông thông minh và đặc biệt đáng tin cậy. Bên cạnh những cái bóng khổng lồ của những người đồng nghiệp, Böhm vẫn ở đó, bình dị mà vĩ đại. Những màn biểu diễn đáng kinh ngạc của ông trong âm nhạc của Wolfgang Amadeus Mozart đến nay vẫn là mẫu mực để các thế hệ sau tham khảo và học tập. Và sau khi Richard Strauss qua đời vào năm 1949, Böhm lúc này 55 tuổi và là vị nhạc trưởng cuối cùng được coi như bản ngã của nhà soạn nhạc. Không phải là không còn ai khác chỉ huy Richard Strauss tuyệt vời nhưng Böhm là người duy nhất nhận được lời chúc phúc từ chính tác giả. Khi việc biểu diễn và thu âm ngày càng nở rộ, các nhạc trưởng phải gánh chịu áp lực từ phía các ông bầu, lãnh đạo dàn nhạc và chính khán giả trong việc mở rộng danh mục biểu diễn, Böhm vẫn trung thành với truyền thống Đức-Áo và trở thành nhân vật tiêu biểu cuối cùng của trường phái này, sau những cái tên như Clemens Kraus, Erich Kleiber hay Hans Knappertsbusch.

Karl August Leopold Böhm sinh ngày 28/8/1894 tại Graz, Áo trong một gia đình có nguồn gốc Bohemia. Cha của Karl là luật sư và cũng là một nhạc sĩ nghiệp dư, bạn của nhạc trưởng danh tiếng Hans Richter. Mặc dù được học âm nhạc từ khi còn nhỏ nhưng ban đầu Karl đã lựa chọn đi theo con đường luật sư giống cha mình. Cậu theo luật tại Graz. Tuy nhiên, trong quá trình học tập tại đây, Karl thường trốn học để vào hậu trường nhà hát, theo dõi những buổi tập opera. Bên cạnh đó, Karl còn đăng ký học piano và lý thuyết âm nhạc tại nhạc viện Graz. Sau đó cậu chuyển đến Vienna, tiếp tục theo học âm nhạc với Guido Adler và Eusebius Mandyczevski, một người bạn của Johannes Brahms. Karl cũng đã bị thương khi tham chiến trong Thế chiến thứ nhất. Trở về cuộc sống đời thường, dù vẫn tiếp tục học luật nhưng cậu quyết định gắn bó với âm nhạc và được nhận vào làm tại Nhà hát Graz. Mặc dù mục tiêu ban đầu của Karl là trở thành một nghệ sĩ piano nhưng rồi cuối cùng cậu lại trở thành một nhạc trưởng dù rằng cậu chưa bao giờ thực sự học tập chỉ huy dàn nhạc một cách chính thức.

Năm 1917, Böhm lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng trong tư cách nhạc trưởng khi chỉ huy vở opera Der Trompeter von Säckingen của nhà soạn nhạc Victor Erneste Nessler tại Nhà hát Graz. Bên cạnh đó, Böhm vẫn tiếp tục nghiên cứu pháp lý và giành được tấm bằng tiến sĩ luật tại Đại học Graz vào năm 1919. Cũng trong năm này, Böhm được bổ nhiệm làm trợ lý chỉ huy tại Nhà hát Graz. Tình cờ chứng kiến một buổi tập luyện với dàn nhạc của Böhm trong Lohengrin (Richard Wagner), nhạc trưởng Karl Muck thấy ấn tượng với tài năng của chàng trai trẻ và đã mời anh cộng tác cùng ông trong những vở opera của Wagner. Chính Böhm sau này thừa nhận rằng: “Ông ấy là người đầu tiên và có ảnh hưởng lớn nhất đến tôi”. Dưới sự tiến cử của Muck, năm 1921, Walter đã nhận Böhm làm trợ lý của mình tại Bavarian State Opera, Munich. Chính Walter là người đã đưa Böhm đến với Mozart, tình yêu âm nhạc lớn nhất của đời mình. Tại đây, Böhm nhanh chóng có màn ra mắt của mình tại Die Entführung aus dem Serail (Mozart) với dàn diễn viên Maria Ivogün, Paul Bender và Richard Tauber. Sau khi Walter chuyển đi một năm sau đó, Böhm vẫn tiếp tục công việc của mình với giám đốc âm nhạc mới là Knappertsbusch. Knappertsbusch đã không ngần ngại giao phó cho vị trợ lý của minh những vở opera dài và phức tạp của Wagner như Tristan und Isolde hay thậm chí là trọn bộ Der ring des Nibelungen. Năm 1927, lần đầu tiên Böhm được giao chịu trách nhiệm chính tại một nhà hát khi anh đảm nhiệm cương vị giám đốc âm nhạc tại Darmstadt, nơi anh chủ động hơn nhiều trong việc lựa chọn những tác phẩm biểu diễn. Cùng năm này, anh kết hôn với giọng soprano Thea Linhard. Họ có với nhau một cậu con trai Karlheinz, sau này trở thành một diễn viên nổi tiếng. Böhm cũng thể hiện sự quan tâm của mình tới âm nhạc đương đại với các sáng tác của Igor Stravinsky hay Paul Hindemith. Năm 1931, Böhm chỉ huy Wozzeck của Alban Berg dưới sự chứng kiến của chính nhà soạn nhạc. Sau này, Böhm trở thành một trong những diễn giải viên vĩ đại nhất của Wozzeck cũng như Lulu của Berg.

Böhm đã đi theo đúng lộ trình chung cho các nhạc trưởng trẻ tuổi ở châu Âu lúc bấy giờ, đi lên từng nấc thang tới thành công thông qua những nhà hát opera cấp tỉnh. Năm 1931, ông trở thành giám đốc âm nhạc của Hamburg State Opera, công việc mà ông gắn bó cho tới năm 1934. Sau đó, ông được chuyển đến Semper Opera, Dresden theo lệnh của chính Adolf Hitler, thay thế cho Fritz Busch, người bị buộc phải rời đi vì lý do chính trị. Giai đoạn Böhm gắn bó với Semper Opera, từ 1934-1943 được coi là thời kỳ hoàng kim của nhà hát. Chính tại nơi đây Böhm đã thiết lập một mối quan hệ khăng khít đối với Strauss, cả trong công việc lẫn đời thường. Strauss luôn gọi thân mật người bạn trẻ của mình là Böhmel. Böhm cùng Semper Opera đã công diễn lần đầu hai vở opera của Strauss là Die schweigsame Frau (24/6/1935) và Daphne (15/10/1938). Ngoài việc là nhà soạn nhạc, Strauss còn là một nhạc trưởng xuất sắc và ông đã dạy Böhm rất nhiều điều về nghệ thuật chỉ huy. Trong giai đoạn này, Semper Opera trở thành điểm đến của hầu hết những ca sĩ opera nổi tiếng nhất trên thế giới, trở thành niềm ganh tỵ của toàn châu Âu. Bên cạnh đó, ông cũng chỉ huy nhiều buổi biểu diễn thành công với Dresden Staatskapelle. Sau này, Electrola, phân hiệu của EMI tại Đức đã phát hành 20 LP các buổi biểu diễn của Böhm tại Dresden.

Khi Hitler bành trướng thế lực của mình tại nước Đức cũng như lan ra cả châu Âu, Böhm mặc dù không tham gia đảng Phát xít nhưng đã có nhiều hành động ủng hộ Đức Quốc xã. Đã có nhiều bức thư được Böhm gửi cho nhà chức trách Đức, bày tỏ sự phục tùng và cổ vũ. Ông cũng nhiều lần tổ chức các buổi hoà nhạc phục vụ chế độ, biểu diễn quốc ca Đức quốc xã Horst-Wessel-Lied và giơ tay chào kiểu Hitler. Chính những điều này giúp Böhm giành được nhiều đặc ân và trở thành một trong những nhạc trưởng được Đức Quốc xã hậu thuẫn. Nhà sử học Oliver Rathkolb tại đại học Vienna đã nhận xét về Böhm “có lẽ là thành viên không phải NSDAP tích cực nhất tuyên truyền cho “phong trào””. Tuy nhiên, ông không đề đưa ra bất kỳ nhận xét nào để bài xích người Do Thái. Bản thân Böhm cũng được ghi nhận khi biểu diễn âm nhạc của Hindemith cũng như Strauss bất chấp việc chính quyền cấm tuyên truyền các tác phẩm của họ. Năm 1936, Böhm lần đầu tiên chỉ huy Vienna Philharmonic, dàn nhạc sau đó sẽ gắn bó với ông trong suốt cuộc đời. Ngày 12/6/1938, Böhm có buổi ra mắt tại Vienna State Opera trong Der Rosenkavalier (Strauss) và trở thành giám đốc của nhà hát sau khi chia tay Semper Opera vào năm 1943. Ngày 25/7/1938, Böhm lần đầu tiên chỉ huy tại liên hoan Salzburg trong Don Giovanni (Mozart). Ông sẽ gắn bó với lễ hội âm nhạc này cho tới 40 năm sau đó trong hơn 300 buổi biểu diễn và trở thành nhân vật thống trị tại đây, chỉ sau Karajan.

Thế chiến thứ hai kết thúc, Böhm đã bị cách chức tại Vienna State Opera và cấm hoạt động nghệ thuật trong vòng hai năm. Sau này, Böhm lý giải về những hành động của mình: “Tôi đã từng chỉ ngưỡng mộ một đảng, đảng của âm nhạc. Nhưng tôi cũng chưa bao giờ có linh hồn của một anh hùng”. Ông cũng viết trong hồi ký: “Việc tôi không di cư sau đó cũng chống lại tôi. Rất tiếc, tôi không có lời đề nghị nào từ Met hoặc Covent Garden vào thời điểm đó. Tuy nhiên, tôi tin rằng trong quá trình hoạt động của mình cả ở Dresden và sau đó là ở Vienna, tôi đã chứng minh rằng tôi luôn đứng về phía nào”. Trở lại sau lệnh cấm, Böhm có buổi chỉ huy tại Vienna State Opera trong Fidelio (Ludwig van Beethoven) vào ngày 7/6/1947. Ông ra mắt tại La Scala trong Don Giovanni vào ngày 4/2/1948. Từ năm 1950-1953, Böhm phụ trách các vở opera bằng tiếng Đức tại Teatro Colón, Buenos Aires. Ông cũng nối lại quan hệ với Dresden Staatskapelle. Từ năm 1954-1956, một lần nữa Böhm trở thành giám đốc âm nhạc tại Vienna State Opera.

Sau khi chia tay Vienna State Opera vào năm 1956, Böhm chính thức từ giã việc gắn mình với bất cứ một nhà hát hay dàn nhạc nào về mặt hành chính. Ông trở thành một nhạc trưởng du mục, điều đã đưa ông tới hầu hết những trung tâm âm nhạc lớn trên toàn thế giới. Ngày 31/10/1957, Böhm có màn ra mắt tại Metropolitan Opera trong Don Giovanni với Cesare Siepi hát vai chính. Irving Kolodin đã bình luận trên Saturday Review of Literature: “Ông không phải là người năng động nhất trong số các nhạc trưởng Mozart đương đại hay người hùng biện nhất mà Metropolitan có được trong những năm gần đây, nhưng ông là một nghệ nhân bậc nhất, người biết mình muốn gì và làm thế nào để đạt được nó”. Metropolitan Opera nhanh chóng trở thành điểm đến ưa thích của Böhm. Ông đã có hơn 250 đêm nhạc tại đây, chủ yếu trong các vở opera Đức-Áo mà nổi bật là Mozart, Wagner và Richard Strauss. Chỉ có một ngoại lệ là Otello (Giuseppe Verdi). Opera của Ý là những lần hiếm hoi Böhm chệch hướng khỏi quỹ đạo chuẩn chỉ của mình. Điểm nổi bật trong phong cách chỉ huy của Böhm là ông luôn chú ý duy trì một nhịp điệu nhịp nhàng với sự chính xác cao độ. Böhm cũng đặc biệt quan tâm đến từng chi tiết nhỏ nhất trong tổng phổ. Christa Ludwig đã nhận xét về ông: “Với ông, chúng tôi luôn cảm nhận được giá trị của các nốt nhạc”. Mozart là nhà soạn nhạc chiếm vị trí trung tâm trong di sản của Böhm. Ông là nhạc trưởng đầu tiên biểu diễn và thu âm trọn bộ các bản giao hưởng của Mozart cùng Berlin Philharmonic. Đó là một cách tiếp cận cổ điển, chặt chẽ, trong sáng và chính thống. Ở đó toát ra một nguồn năng lượng ấm áp và nồng nàn với sự tương phản đậm nét của nhịp điệu nhưng không bao giờ có sự cường điệu hoá. Ở ông không toát ra sự hào hoa, lịch lãm, nhưng luôn đem lại sự vững chắc và điềm đạm cao độ. So sánh với nhiều nhạc trưởng khác, điều dễ nhận thấy là Böhm có xu hướng lựa chọn tốc độ chậm hơn, cũng dễ hiểu bởi vì đó là cách để ông đi sâu hơn vào từng chi tiết, dù là nhỏ nhất của tác phẩm. Với Mozart, Böhm là tiêu chuẩn vàng. Bên cạnh đó, những bản thu âm của ông trong các bản giao hưởng của Beethoven, Schubert, Bruckner, Brahms cũng rất đáng chú ý.

Năm 1962, Böhm lần đầu tiên chỉ huy tại Bayreuth, trong Tristan und Isolde. Đây cũng là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp của ông. Bản thu âm trực tiếp đêm diễn tại Bayreuth vào năm 1966 cho Deutsche Grammophon với dàn diễn viên thượng thặng Wolfgang Windgassen, Birgit Nilsson, Christa Ludwig, Martti Talvela vẫn được nhiều nhà bình luận đánh giá là đĩa nhạc tuyệt vời nhất của vở opera này. Quan điểm của Böhm về Wagner là tránh tình cảm và khoa trương nhiều nhất có thể. Ông cũng tiếp tục quay lại cộng tác cùng Vienna State Opera và La Scala. Với liên hoan Salzburg, các vở opera của Richard Strauss chiếm trọng tâm trong danh mục biểu diễn của ông và chúng luôn được đón nhận nhiệt tình với những tràng pháo tay rầm rộ từ phía khán giả. Böhm luôn thích thú khi được ghi âm trực tiếp những buổi biểu diễn opera. Còn khi thu âm các chương trình hoà nhạc, ông dành sự ưu ái cho Berlin Philharmonic và Vienna Philharmonic: “Đối với các bản thu âm, tôi phải sử dụng những dàn nhạc này vì tôi biết họ quá rõ. Tôi phải liên hệ chặt chẽ với các nhạc công trước khi bắt đầu và điều đó thật khó khăn với một dàn nhạc mà tôi không biết”.

Ngày 28/10/1978, Böhm chia tay Metropolitan Opera trong Fidelio. Đánh giá về những đóng góp của Böhm cho nhà hát, Harold C. Schonberg đã tổng kết trên New York Times: “Trong số những nhạc trưởng tại Metropolitan Opera hiện nay, Böhm vượt hẳn lên như một người khổng lồ. Một trong những nhạc trưởng của Strauss cuối cùng, ông chỉ huy các buổi biểu diễn bằng lửa và kiến thức”. Ngày 12/3/1981, Böhm xuất hiện lần cuối cùng trước công chúng ở tuổi 86 khi chỉ huy tại Vienna State Opera trong Le nozze di Figaro (Mozart) với Gundula Janowitz, Edith Mathis và Giuseppe Taddei. Böhm đã lên kế hoạch cho một buổi hoà nhạc chia tay sự nghiệp của mình vào đầu tháng 9 nhân dịp khai trương lại nhà hát Alte Oper, Frankfurt. Tuy nhiên, ông đã qua đời trước đó vào ngày 14/8/1981 khi đang dàn dựng Elektra (Richard Strauss) tại liên hoan Salzburg. Vài tuần trước đó, ông vừa cùng Vienna Philharmonic hoàn thành phần nhạc nền cho bộ phim Elektra của đạo diễn Götz Friedrich. Ông được chôn cất tại Steinfeldfriedhof, Graz.

Böhm là một nhạc trưởng khó tính và nghiêm túc. Ông thường đòi hỏi các nhạc công thời gian tập luyện nhiều hơn các nhạc trưởng khác. Bất chấp những đóng góp phi thường của ông cho âm nhạc cổ điển, cho đến tận ngày nay, sự ủng hộ mà Böhm dành cho Đức Quốc xã vẫn bị lên án mạnh mẽ. Ngay tại Salzburg, dù tên của ông đã được đặt cho phòng hoà nhạc (Karl-Böhm-Saal), nơi diễn ra những sự kiến trong liên hoan âm nhạc nhân dịp sinh nhật lần thứ 85 của ông vào ngày 28/8/1979 vẫn có một tấm biển, đề bằng tiếng Anh và tiếng Đức: “Một nghệ sĩ vĩ đại, nhưng lại nhầm lẫn về mặt chính trị”. Đó có lẽ cũng là sự tổng kết chính xác nhất về một trong những nhạc trưởng lỗi lạc nhất của thế kỷ 20.

Cobeo tổng hợp

Nguồn:
nytimes.com
gramophone.co.uk
archive.salzburgerfestspiele.at