Thông tin chung của tác phẩm Requiem
Tác giả: Giuseppe Verdi.
Tác phẩm: Requiem
Thời gian sáng tác: Verdi đã hoàn thành phần Libera me vào năm 1868. Mùa hè năm 1873 ông quay trở lại với Requiem và hoàn thành tác phẩm vào ngày 10/4/1874.
Công diễn lần đầu: Verdi chỉ huy Requiem tại nhà thờ St. Marco, Milan vào ngày 22/5/1874 với các ca sĩ Teresa Stolz, Maria Waldmann, Giuseppe Capponi và Ormondo Maini lĩnh xướng.
Độ dài: Khoảng 85 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được sáng tác để tưởng nhớ nhà văn Alessandro Manzoni (1785-1873).
Cấu trúc tác phẩm:
Tác phẩm gồm 7 phần:
Phần I – Requiem
Introit – Kyrie
Phần II – Dies irae
Dies irae – Tuba mirum – Mors stupebit – Liber scriptus – Quid sum miser – Rex tremendae – Recordare – Ingemisco – Confutatis maledictis – Lacrymosa
Phần III – Offertory
Domine Jesu Christe – Hostias
Phần IV – Sanctus
Phần V – Agnus Dei
Phần VI – Lux aeterna
Phần VII – Libera me
Libera me – Dies irae – Requiem aeternam – Libera me
Thành phần dàn nhạc: 3 flute (flute 3 kiêm piccolo), 2 oboe, 2 clarinet, 4 bassoon, 4 horn, 4 trumpet (thêm 4 trumpet ngoài sân khấu), 3 trombone, ophicleide (hoặc tuba), timpani, bassd drum, dàn dây. Ngoài ra còn có sự tham gia của soprano, contralto, tenor, baritone lĩnh xướng và dàn hợp xướng SATB.
Bối cảnh ra đời tác phẩm Requiem
Rossini mất ngày 13/11/1868. Nhận được tin, Verdi đã thốt lên: “Một cái tên vĩ đại đã biến mất khỏi thế giới! Ông ấy là danh tiếng phổ quát nhất, nổi tiếng nhất trong thời đại chúng ta và đó là một vinh quang của nước Ý! Khi người còn lại [Manzoni] không còn nữa, chúng ta sẽ còn lại gì?”. Chỉ bốn ngày sau, Verdi đã viết thư cho nhà xuất bản Giulio Ricordi của mình, đề xuất một sự hợp tác giữa các nhà soạn nhạc Ý còn sống, mỗi người đóng góp một phần vào bản Requiem Messa per Rossini để vinh danh bậc thầy vừa qua đời, dự kiến sẽ công diễn vào ngày 13/11/1869 tại nhà thờ San Petronio, Bologna để kỷ niệm một năm ngày mất của Rossini. Ý tưởng về một cuộc hội ngộ của những nhà sáng tạo có chung một quê hương với mục đích tưởng nhớ một nhân vật vĩ đại đã gây được tiếng vang rất lớn tại một thời điểm quan trọng trong lịch sử nước Ý. Vào cuối những năm 1860, nước Ý sau nhiều năm bị chiếm đóng đã nỗ lực thống nhất những vùng đất xa xôi và giành lại quyền kiểm soát các tỉnh bị thế lực bên ngoài chiếm đóng, bất chấp việc vẫn có những giao tranh tại biên giới. Mười ba nhà soạn nhạc, tính cả Verdi, người đã hoàn thành phần cuối cùng Libera me, đã tham gia vào dự án này. Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau, buổi công diễn đã không thể được thực hiện, Messa per Rossini dù đã được hoàn thành nhưng bị rơi vào quên lãng mang lại cho Verdi rất nhiều sự phẫn uất.
Phải đến năm năm sau, Verdi mới có cơ hội quay lại với Libera me của mình khi nhà văn danh tiếng Alessandro Manzoni qua đời vào ngày 22/5/1873. Manzoni là nhà văn, nhà triết học nổi tiếng của Ý thế kỷ 19 đồng thời là nhân vật tiêu biểu cho phong trào Risorgimento (Sự hồi sinh), gắn kết các tiểu bang khác nhau lại thành một nước Ý thống nhất, mà Verdi cũng là một thành viên tích cực. Các tác phẩm của Manzoni, đặc biệt là cuốn tiểu thuyết đồ sộ I promessi sposi ( Người được hứa hôn) đã trình bày một bức tranh toàn cảnh về đất nước và con người Ý, từ những người cao quý đến bình dị, với những khía cạnh tích cực và tiêu cực. Hơn nữa, lời văn của ông cũng chính là thứ xác định ngôn ngữ Ý hiện đại cho một vùng đất bị chia cắt từ lâu với các phương ngữ khó hiểu khác nhau. Verdi cảm thấy rằng, giống như Rossini, Manzoni xứng đáng được tưởng nhớ vì tầm quan trọng của những đóng góp cho nền văn hóa Ý. Tang lễ của Manzoni ở Milan là một nghi thức cấp nhà nước với hàng chục nghìn người đưa tang.
Nhiều điều đã thay đổi ở Ý trong 5 năm giữa cái chết của Rossini và Manzoni. Rome cuối cùng đã là thủ đô của quốc gia, và các biên giới, như ngày nay, đã được thiết lập. Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều sự thất vọng. Sự chia rẽ vẫn còn, nền kinh tế tiếp tục gặp khó khăn và những cuộc di cư ồ ạt đến Thế giới mới đang bắt đầu. Nếu Requiem này là Manzoni Requiem, thì nó sẽ trở thành một Requiem của Risorgimento, một bài điếu văn cho khát vọng của một quốc gia được hát lên trong ánh sáng ban ngày khắc nghiệt của thực tế chính trị đương thời.
Verdi không đến dự đám tang của Manzoni vì quá đau buồn. Thay vào đó, ông đã đến viếng mộ của nhà văn. Khi trở về, Verdi đã viết một bức thư gửi thị trưởng Milan, đề thông báo về ý tưởng sáng tác bản Requiem của mình: “Đó là một sự thôi thúc, hay nói một cách hoa mỹ hơn, là nhu cầu từ trái tim tôi, để tôn vinh, hết sức có thể, một người đàn ông mà tôi luôn kính trọng như một nhà văn vĩ đại và một hình mẫu của đức hạnh và lòng yêu nước”. Verdi bắt tay sáng tác Requiem vào tháng 6/1873 và hoàn thành nó vào tháng 4/1874, trong đó có cả việc sửa chữa lại Libera me. Nhà thờ St. Marco, Milan được chọn làm nơi công diễn vào ngày 22/5/1874, đúng một năm ngày mất của Manzoni. Đã phải có sự chấp thuận của Tồng giám mục để cho phép phụ nữ được hát trong nhà thờ. Họ được giấu sau các bức bình phong, mặc áo dài đen trùm kín người và chít khăn tang, bảo đảm khán giả chỉ có thể nghe thấy họ hát chứ không nhìn thấy họ. Buổi biểu diễn cũng yêu cầu không được vỗ tay để phù hợp với khung cảnh trang nghiêm của nhà thờ. Đích thân Verdi chỉ huy đêm diễn. Ba ngày sau, Verdi đã mang Requiem đến La Scala và bầu không khí đã khác hẳn, rất nồng nhiệt và phấn khích. Requiem đã trở thành một cơn sốt và ngay sau đó đã được công diễn ở rất nhiều nơi tại châu Âu. Tuy nhiên, phản ứng là không đồng nhất, không phải để chống lại thứ âm nhạc tuyệt vời của Verdi mà là chê bai nó không đủ tính tôn giáo. Tại Anh, sau khi Verdi chỉ huy ra mắt vào tháng 5/1875, đại đa số đều đồng tình: “Tác phẩm đẹp nhất cho nhà thờ kể từ sau Requiem của Mozart”. Tuy nhiên, một bộ phận thiểu số đáng kể cảm thấy khó chịu khi cho rằng Verdi, một người theo thuyết bất khả tri, không nên sáng tác Requiem. Đối với họ, chính những phẩm chất đã làm cho âm nhạc của ông phù hợp một cách lý tưởng với nhà hát khiến nó hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với nhà thờ. Phản ứng ở Đức cũng tương tự, nếu như Brahms, sau khi chỉ đọc tổng phổ đã đánh giá: “Thứ chỉ có thể do thiên tài thực hiện” thì Eduard Hanslick lại phê bình: “Khi một nữ ca sĩ cầu xin Đức Chúa, cô ấy không nên được nghe như thể cô ấy đang cầu xin người yêu của mình”. Còn Hans von Bülow thì mặc dù chưa nghe tác phẩm những đã nhận xét: “Một vở opera trong trang phục nhà thờ” và quyết định không thưởng thức nó, điều đã khiến ông sau đó phải viết thư xin lỗi Verdi.
Đối với những người theo Công giáo vào thế kỷ 19, đã quen với thứ âm nhạc phức điệu của Palestrina, có lẽ thứ âm nhạc của Verdi trong Requiem quả thật đáng lo ngại. Nó chắc chắn chịu ảnh hưởng từ Requiem của Mozart với sự ấm áp từ cảm xúc của con người và Petite Messe solennelle của Rossini về sự chắt lọc những bản chất ấn tượng của trải nghiệm tôn giáo. Nhưng Requiem của Verdi có quy mô lớn hơn: nó không chỉ gợi lên cảm xúc của con người mà còn là nỗi thống khổ và nghi ngờ của cá nhân và sức mạnh ấn tượng của nó không phải là sự trang trí bề mặt mà là sự xung đột sâu sắc giữa sự sống và cái chết.
Phân tích tác phẩm Requiem
Requiem bắt đầu với một giai điệu trang trọng và trầm ngâm trên cello, một motif được lặp lại sau đó. Âm nhạc có thể bị nhầm lẫn với một khoảnh khắc nào đó từ vở opera của Verdi: một tu viện tối tăm, một đám rước tang lễ. Nhưng sau đó, âm nhạc tiếp tục phát triển và nở rộ theo cách mà chúng ta sẽ không tưởng tượng được trong opera. Phần hợp xướng mở đầu và sau đó từng ca sĩ lĩnh xướng gia nhập. Một không khí hoành tráng và tưng bừng gần như không thể tưởng tượng được.
Dies irae là phần dài nhất trong toàn bộ tác phẩm, chiếm tới non nửa thời lượng, là một chuỗi mười trích đoạn tương phản rộng rãi chứa một số giai điệu kịch tính và giàu cảm xúc nhất của Verdi. Đáng chú nhất là chủ đề Dies irae đáng sợ, bùng nổ trong cơn thịnh nộ với âm lượng ffff của bass drum. Verdi còn làm tăng thêm phần kịch tính với sự bổ sung 4 trumpet ngoài sân khấu trong Tuba mirum, gợi lên những hình ảnh nguyên mẫu về cuộc gọi vào thế giới tiếp theo. Mors stupebit là trích đoạn dành cho bass, được hát một cách lặng lẽ và đầy kinh hoàng, với từ “cái chết” được nhấn mạnh. Liber scriptus là một aria dành cho soprano, được Verdi viết cho buổi công diễn tại Anh, thay thế cho phần hợp xướng mà ông cảm thấy không phù hợp về mặt nhịp độ và tính chất. Quid sum miser là một trio của sự than khóc dành cho soprano, mezzo-soprano và tenor với phần độc tấu của bassoon đầy ám ảnh. Rex tremendae là sự đối thoại giữa 4 ca sĩ lĩnh xướng và hợp xướng và họ chỉ tìm thấy tiếng nói chung trong những ô nhịp cuối cùng. Recordare là lời cầu nguyện của Aida và Amneris được Verdi hình dung trong tâm trí (soprano và mezzo-soprano tham gia công diễn tác phẩm cũng chính là 2 ca sĩ vào vai Aida và Amneris trong vở Aida). Nhưng lần này, họ không phải đối thủ của nhau mà hoà với nhau làm một. Hai aria tiếp theo Ingemisco, dành cho tenor và Confutatis maledictis dành cho bass trước khi xuất hiện một đoạn hợp xướng được trích từ Dies irae. Lacrymosa, lời than thở được rút ra từ màn duet của Don Carlos, tập hợp các ca sĩ và hợp xướng trong một đoạn kết trang nghiêm tuyệt vời được bắt đầu bằng cơn cuồng nộ. Tiếng “Amen” cuối cùng cất lên trong giây lát giúp âm nhạc tràn ngập ánh sáng mặt trời, nhưng bóng tối nhanh chóng phủ xuống.
Trong Offertory, âm nhạc mang tính phụng vụ hơn nhiều, với kết cấu chủ yếu là bốn giọng hát lĩnh xướng trên phần đệm được giới hạn cho Domine Jesu Christe, tựa như một fugue. Phần Hostias diễn ra êm đềm hơn.
Trumpet phấn khích thông báo về phần Sanctus. Đây là một fugue hai bè dành cho hợp xướng. Âm nhạc dịch chuyển nhanh chóng với một nguồn năng lượng lớn, giai điệu được dựa trên sự đảo ngược của motif cello ban đầu với một màu sắc náo nhiệt và tưng bừng hơn.
Agnus Dei mở đầu với 13 ô nhịp dành cho soprano và mezzo-soprano song ca, cách nhau quãng 8, không nhạc đệm. Sau đó hợp xướng tham gia, cũng ở quãng 8 nhưng có sự bổ sung một nhóm nhỏ các nhạc cụ, âm nhạc trở nên ấm áp và phong phú hơn.
Soprano rút lui, nhường sân khấu lại cho 3 giọng hát thấp hơn còn lại trong Lux aeterna. Một trio căng thẳng về cảnh chết chóc.
Libera me mở đầu thánh thiện. Sau một aria ngắn của soprano các chủ đề của Dies irae trong tất cả nỗi kinh hoàng và phần mở đầu Requiem xuất hiện, được soprano và hợp xướng không nhạc đệm đảm trách. Phần cuối cùng của tác phẩm là một fugue tràn đầy năng lượng khác, một lần nữa được dựa trên phiên bản motif mở đầu trên cello. Sau một cao trào mạnh mẽ với những lời khẩn cầu khẩn thiết của soprano, tác phẩm dần dần đi đến một kết thúc yên tĩnh, tan biến trong lời nguyện cầu thầm kín và tuyệt vọng.
Requiem thường được gọi là vở opera vĩ đại nhất của Verdi, chứa đựng nhiều hàm ý, từ khen ngợi, mỉa mai cho đến chê bai. Đã có rất nhiều bình luận về việc liệu Requiem có phải là một tác phẩm tôn giáo thực sự hay không. Nhưng điều thường bị lãng quên là tôn giáo không chỉ về nói về một mình Đức Chúa, mà còn cả về mối quan hệ giữa con người với Đức Chúa. Trong Requiem, Verdi thương tiếc cho Manzoni nhưng nhưng nó cũng thể hiện mối quan tâm sâu sắc của ông với cái chết, sự hủy diệt, sự tan rã. Nhà phê bình nổi tiếng Donald Francis Tovey đã viết về Requiem: “Để mong đợi Verdi sáng tác bất cứ thứ gì giống như âm nhạc tôn giáo sẽ là điều vô lý về mặt con người. Chúng ta trở nên giáo điều về giới hạn của sự kiên nhẫn thiêng liêng; nhưng chúng ta có thể rất chắc chắn rằng Requiem của Verdi sẽ đứng trước ngai vàng mà không gặp bất lợi gì từ phong cách sân khấu của nó. Khi các dẫn chứng của con người trôi qua, tác phẩm này là một sự chân thành rực lửa”.
Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp
Nguồn:
cso.org
metopera.org
choirs.org.uk



