“Nghệ thuật là sự khẳng định của tình yêu. Đó là lý do vì sao chúng ta yêu quý Lawrence Tibbett, tôn vinh ông và sẽ không bao giờ quên ông.” – Francis Robinson
Lawrence Tibbett là một trong những baritone nổi tiếng nhất trong nửa đầu thế kỷ 20 tại Mĩ – một giọng ca mang cá tính rất đặc sắc, hoàn toàn trưởng thành ở trong nước, chưa từng tiếp nhận quá trình đào tạo, thậm chí biểu diễn, tại châu Âu. Từ một cậu bé mồ côi cha lớn lên giữa miền Tây hoang dã của California, ông đã vươn lên để trở thành ngôi sao sáng của Metropolitan Opera, chinh phục khán giả không chỉ bằng chất giọng màu đồng khoẻ khoắn, mà còn bằng khả năng diễn xuất sống động hiếm thấy trên sân khấu opera thời ấy. Trong hơn hai mươi lăm năm sự nghiệp, Tibbett đã thể hiện hơn 70 vai diễn lớn nhỏ, góp phần mở rộng tầm ảnh hưởng của opera tại Mĩ, và là một trong những người tiên phong đưa loại hình nghệ thuật này vượt khỏi nhà hát để lấn sân sang điện ảnh, phát thanh và truyền hình. Nhưng phía sau vầng hào quang sân khấu là một cuộc đời nhiều bi kịch: đổ vỡ hôn nhân, giọng hát bị suy kiệt từ khá sớm và những cơn nghiện rượu khiến sức khoẻ bị huỷ hoại và dẫn đến một kết cục đau lòng. Cuộc đời ông là minh chứng cho vẻ đẹp và cái giá của nghệ thuật – nơi ranh giới giữa đỉnh cao và vực sâu chỉ cách nhau rất mong manh.
Lawrence Mervil Tibbet (chữ t thứ hai được thêm vào do nhầm lẫn của nhân viên Metropolitan Opera khi ký hợp đồng và ông quyết định giữ nguyên cách viết mới) sinh ra trong một gia đình lao động ở Bakersfield, California vào ngày 16/11/1896 khi vùng đất này vẫn là miền Tây hoang dã. Giết người, bạo lực, tình dục, say rượu – đó là những điều xảy ra hàng ngày ở thị trấn nhỏ nơi Lawrence sống thời thơ ấu. Đây là một khu dân nghèo với đủ các thành phần: da trắng, da đen, Mỹ Latinh nên cậu bé không hề có bất cứ định kiến với các chủng tộc khác. Năm 1903, khi Lawrence mới bảy tuổi, ông Will cha cậu, phó cảnh sát trưởng quận Kern đã bị bắn chết khi đụng độ với một tên cướp. Sau cái chết của chồng, bà Frances Ellen, mẹ của Lawrence đã tới Los Angeles, bắt đầu nuôi dưỡng giấc mơ âm nhạc huy hoàng cho cậu con trai út của mình. Năng khiếu ca hát của Lawrence đã được bộc lộ từ rất sớm. Cậu tham gia dàn hợp xướng nhà thờ và trợ giúp gia đình bằng cách hát tại các đám tang. Sau khi tốt nghiệp trung học vào năm 1915, Lawrence thậm chí còn tham gia lưu diễn cùng đoàn kịch cùng Tyrone Power Sr. trong các vở kịch Shakespeare, điều khiến cho cậu sau này trở thành một trong số những ca sĩ hiếm hoi có trình độ diễn xuất ngang tầm với giọng hát.
Khi Thế chiến thứ nhất nổ ra, năm 1917, Tibbett lúc này 20 tuổi đã tham gia quân đội trong lực lượng Hải quân Thương mại Mĩ với thời hạn hai năm, từng đi đến những nơi xa xôi như Nhật Bản, Nga và Trung Quốc. Trở về, Tibbett gặp lại cô gái Grace Mackay Smith, người trước đây từng thuê phòng trong nhà anh. Lúc này Tibbett đã sở hữu một vẻ ngoài rất đẹp trai, cao gần 1m9, thân hình cao lớn, vạm vỡ, giọng nói trầm ấm hết sức thút quyến rũ và một nụ cười quyến rũ khiến rất nhiều cô gái yêu anh say đắm. Anh kết hôn với Grace vào ngày 19/5/1919 chỉ ba ngày sau khi Tibbett rời quân ngũ. Họ sống trong một ngôi nhà nhỏ ven sườn đồi ở La Crescenta với một khung cảnh rất thơ mộng. Trên thực tế, Grace là người ủng hộ hết mực chồng mình trong việc anh trở thành ca sĩ chuyên nghiệp. Tibbett vẫn kiếm sống bằng cách ca hát và thậm chí đã có những vai diễn opera đầu tiên của mình ở đây. Ngoài ra anh học thanh nhạc với thầy giáo Basil Ruysdael, một giọng bass-baritone danh tiếng, từng nhiều năm hát tại Metropolitan Opera. Nhưng bản thân Tibbett lúc này rất hoang mang. Anh biết mình có giọng hát nhưng không chắc có thể làm được gì với nó. Anh không biết làm thế nào để có được sự đào tạo cần thiết, anh thiếu mục đích, động lực và tất nhiên: tiền bạc. Khi họ có với nhau hai đứa con trai sinh đôi, cuộc sống ngày càng khó khăn hơn. Tibbett muốn tạm thời dừng việc học hát để tiết kiệm tiền và dành thời gian kiếm một công việc bất kỳ miễn là có thêm thu nhập cho gia đình nhưng chính Grace đã ngăn cản. Grace không muốn như vậy – và đó là cách Tibbett trở thành một ca sĩ danh tiếng. Theo một bạn chung: “Grace có lòng dũng cảm và sự quyết liệt của một người phụ nữ tiên phong”. Grace cảm nhận được tương lai đang chờ đợi người chồng trẻ của mình, nhiều hơn chính bản thân Tibbett. Grace khăng khăng bắt chồng mình đến New York, kiếm một công việc ban đêm và học nhạc vào ban ngày, trong khi mình ở lại Los Angeles, tự nuôi sống bản thân và cặp song sinh bằng nghề tốc ký. Tibbett đã lên đường sau khi vay tiền của bố vợ, một số bạn bè, người thân với cam kết: “Nếu tôi không trở thành ca sĩ, đừng lo, tôi sẽ kiếm một công việc ổn định và trả lại cho mọi người”.
Tại New York, Tibbett bắt đầu các bài học thanh nhạc với Frank La Forge, một nghệ sĩ piano, giảng viên thanh nhạc tài năng, từng hướng dẫn cho Marian Anderson và có sự tác lâu dài với Lily Pons. Được làm việc cùng với một người nhiều kinh nghiệm và mối quan hệ như La Forge là một may mắn đối với ông. Các tuyển trạch viên của Metropolitan Opera đã tiếp xúc và ký hợp đồng làm việc với Tibbett vào năm 1923, chính thời điểm này, chữ t được thêm vào và nước Mĩ ít lâu sau sẽ có được baritone vĩ đại đầu tiên của đất nước mình. Màn ra mắt của Tibbett tại nhà hát là Lavitsky, một vai diễn rất nhỏ trong Boris Godunov (Modest Mussorgsky) vào ngày 24/11/1923 với Feodor Chaliapin đóng vai chính. Mặc dù đã đôi lần được đảm nhiệm các vai thứ như Valentin (Faust, Charles Gounod) nhưng chủ yếu Tibbett phải chấp nhận những vai rất nhỏ, làm nền cho những ngôi sao như Giuseppe de Luca, Beniamino Gigli hay Giovanni Martinelli toả sáng. Phải đến hơn một năm sau, Tibbett mới có được cơ hội của mình. Ông đã nhanh chóng giành lấy và từ đó, cuộc đời Tibbett thay đổi mãi mãi và nền opera Mĩ cũng có được mốc son mới trong lịch sử ngắn ngủi của mình.
Ngày 2/2/1925, Metropolitan Opera công diễn Falstaff (Giuseppe Verdi) với baritone lừng danh Antonio Scotti trong vai chính, nhạc trưởng là Tullio Serafin. Giọng ca người Tây Ban Nha Vincente Ballester được giao vai Ford nhưng ông đã bị ốm và phải nhường lại cho Tibbett. Cuối màn II có cảnh giữa Ford và Falstaff, trong đó Ford tin rằng vợ mình đang có âm mưu ngoại tình, và khi ở một mình trên sân khấu, ông hát đoạn độc thoại đầy nghi hoặc và ghen tuông “È sogno o realto?”. Nhà phê bình âm nhạc Olin Downes đã tường thuật lại trên New York Times: “Tibbett đã thể hiện cảnh này với chất lượng giọng hát và khả năng diễn xuất khiến cho nó trở thành một trong những điểm nhấn cao trào nhất của buổi tối và là một trong những màn trình diễn cá nhân mạnh mẽ nhất. Khi màn nhung khép lại, cả khán phòng nổ ra những tràng pháo tay kéo dài. Đáp lại, các nghệ sĩ chính lần lượt ra sân khấu cúi chào. Cuối cùng, Tibbett và Scotti cùng nhau bước ra và nhận được những tràng pháo tay nồng nhiệt”. Khi dàn nhạc bắt đầu chơi cảnh tiếp theo của màn hai, khán giả bất ngờ đồng thanh hô vang một cái tên đến lúc đó vẫn còn rất lạ lẫm: “Tibbett! Tibbett! Tibbett!” Khán giả nhất quyết muốn Tibbett ra chào một mình. Serafin người không quen với việc bất kỳ ai cúi chào một mình giữa một tiết mục, vẫn tiếp tục, nhưng điều này chỉ khiến đám đông tức giận hơn, họ huýt sáo, la hét, dậm chân. Cuối cùng, Serafin đành phải cử một nhạc công của dàn nhạc vào hậu trường để đưa Tibbett ra, cúi chào khán giả và buổi biểu diễn mới có thể tiếp tục. Vở opera gián đoạn gần 20 phút, điều hiếm có trong lịch sử nhà hát.
Buổi biểu diễn này đánh dấu khởi đầu cho sự thăng tiến của Tibbett. Tuy nhiên sau đó ông vẫn phải tiếp tục hát trong các vai diễn nhỏ, một phần vì hợp đồng đã ký kết, một phần vì ông chưa kịp học các vai diễn lớn hơn. Năm 1926, Tibbett ký hợp đồng độc quyền để thu âm cho Victor Talking Machine Company (sau là RCA Victor), hãng thu âm hàng đầu của Mỹ, có hiệu lực đến năm 1940. Những vai diễn tại Metropolitan Opera của ông cũng lớn dần lên như Germont (La Traviata, Verdi), Iago (Otello, Verdi) Escamillo (Carmen, Georges Bizet). Ông gắn bó với nhà hát trong 27 năm, với 49 vai và hơn 600 đêm diễn. Tibbett đã trở thành một trong những baritone hàng đầu của Metropolitan Opera. Âm sắc du dương, sức mạnh và những nốt cao ngân vang của Tibbett rất phù hợp với những vai baritone của Verdi. Tibbett sở hữu một giọng hát vang, màu đồng, và đầy biểu cảm về mặt kịch tính – kết hợp giữa sức mạnh rền vang với sự linh hoạt đáng kinh ngạc. Nhưng chính những phẩm chất của Tibbett với tư cách là một diễn viên ca hát đã khiến ông trở thành sự lựa chọn của nhà hát trong một loạt các vở opera đương đại, là đặc điểm thường xuyên trong các mùa diễn dưới thời Giulio Gatti-Casazza (Tổng giám đốc trong giai đoạn 1908-1935). Tibbett đã được chọn vào buổi ra mắt tại nhà hát của I compagnacci (Primo Riccitelli), hay L’heure Espagnole (Maurice Ravel). Tuy nhiên, hai vở opera của Deems Taylor mới đem lại danh tiếng lớn nhất cho Tibbett. Đầu tiên là buổi ra mắt trên phạm vi toàn thế giới của The King’s Henchman vào ngày 17/2/1927 và Peter Ibbetson (17/2/1931). Trong cả hai tác phẩm, Tibbett đã chiến thắng và được công nhận rộng rãi, dẫn đến việc chúng đều được dàn dựng trong vài mùa tiếp theo).
Trái ngược với hào quang ngày một rực rỡ trên sân khấu, đời sống hôn nhân của Tibbett lại dần chìm trong khoảng cách và rạn nứt. Mối quan hệ của ông với Grace mỗi lúc một xa cách. Sự đối lập ấy không phải không được báo trước. Trong khi Tibbett sống hết mình với nghệ thuật, trở thành một ngôi sao được cả nước tung hô, bận rộn với ca hát và các mối giao thiệp xã hội, thì Grace lại là một người trầm lặng, hướng nội và gắn bó sâu sắc với gia đình. Cô từng làm thơ (đã đạt được những thành công nhất định), từng ủng hộ chồng bằng cả tinh thần lẫn vật chất trong những năm khốn khó, nhưng khi Tibbett dần thuộc về một thế giới của danh vọng và sự náo nhiệt thì Grace lại thấy mình lạc lõng. Những khác biệt trong lối khiến hai người ngày càng khó tìm thấy tiếng nói chung. Với sự nổi tiếng của mình, Tibbett dễ dàng tạo lập được các mối quan hệ lãng mạn. Từ năm 1927, ông cặp kè với Jane Marston Burgard, một phụ nữ thượng lưu cũng đang ở hồi kết trong cuộc hôn nhân đầu tiên của mình.
Từ năm 1930, với vẻ ngoài điển trai và giọng nói cuốn hút, như một lẽ đương nhiên, Tibbett dấn thân sang Hollywood và là một nam diễn viên chính hoàn hảo cho những bộ phim ca nhạc lãng mạn. Tác phẩm đầu tiên ông tham gia là The Rogue Song. Đây là phim nói đầu tiên được quay toàn bộ bằng màu của MGM. Ngay lập tức tác phẩm này là một thành công mới của Tibbett. Ông có được đề cử Oscar dành cho diễn viên chính. Điều này dẫn đến việc Tibbett tiếp tục được mời tham gia trong năm bộ phim sau đó và đưa tên tuổi của ông tiếp cận với một khối lượng đông đảo khán giả đại chúng. Đây là một tương tác mang tính tương hỗ rất tích cực. Tibbett được thêm nhiều người biết đến, qua đó, số lượng khán giả opera cũng tăng theo, đưa tên tuổi ông thành một biểu tượng trong nền văn hoá Mĩ đương đại. Với vinh quang nối tiếp vinh quang, Tibbett đã ly hôn Grace vào tháng 9/1931. Frances Ellen, mẹ Tibbett, người rất quan trọng trong cuộc đời ông đã đồng ý ở cùng Grace và các đứa cháu nội đã mất vì bệnh viêm phổi chỉ hai tuần sau khi đón họ về. Điều này đã gây ra tác động không nhỏ đối với Tibbett. Ông kết hôn với Jane vào đầu năm 1932. Họ có chung với nhau một cậu con trai, Michael.
Từ những lần biểu diễn ngoài lĩnh vực opera mang lại thu nhập cao và thường xuyên, Tibbett dần trở thành người đấu tranh cho quyền lợi của các nghệ sĩ opera – những người bị ràng buộc trong hợp đồng với Metropolitan Opera rằng họ phải trích hoa hồng cho nhà hát khi tham gia các chương trình phát thanh hay đóng phim và mọi buổi hoà nhạc đều phải được đặt lịch thông qua một đại lý nội bộ của nhà hát. Những điều khoản này đã tồn tại trong hợp đồng của Metropolitan Opera từ cuối thế kỷ 19 và mang lại nguồn thu lớn cho nhà hát. Tuy nhiên, Tibbett là người hành động. Năm 1936, cùng với Jascha Heifetz, ông đã thành lập Hiệp hội Nghệ sĩ Âm nhạc Mĩ (AGMA). Ban đầu, tổ chức này thu hút các nghệ sĩ biểu diễn độc lập, trong đó có những tên tuổi lớn như Kirsten Flagstad hay Lauritz Melchior. Về sau, AGMA đã mở rộng để đại diện cho nhiều nghệ sĩ của Metropolitan Opera. Và ngày nay, đây là tổ chức thương lượng tập thể cho dàn hợp xướng, vũ công, quản lý sân khấu, đạo diễn sân khấu, diễn viên cũng như các ca sĩ độc diễn của nhà hát. Ông làm chủ tịch của AGMA trong 17 năm. Có lẽ hiếm có ca sĩ opera nào trong lịch sử nước Mĩ lại có thể đạt được thành tựu trong nhiều lĩnh vực như Tibbett.
Ngày 26/1/1937, một sự việc nghiêm trọng đã xảy ra tại Metropolitan Opera. Trong quá trình tập luyện cho vở opera mới Caponsacchi (Richard Hageman), Tibbett với đạo cụ là một con dao đã vô tình tạo nên vết cắt giữa ngón cái và ngón trỏ bàn tay trái của giọng bass Joseph Sterzini. Bản thân Sterzini cũng coi thường vết thương này, chỉ nhờ bác sĩ của nhà hát băng bó để tiếp tục tập luyện. Nhưng sau đó bác sĩ phát hiện Sterzini bị đứt mạch máu nên vội đưa ông vào bệnh viện. Chỉ năm tiếng sau, Sterzini qua đời. Nguyên nhân cái chết được pháp y kết luận: “Nguyên nhân góp phần: tử vong đột ngột sau một vết đâm tai nạn ở bàn tay trái, làm đứt các mạch máu thuộc cung lòng bàn tay sâu. Nói cách khác, ông ấy mắc bệnh tim mạn tính với tình trạng xơ cứng mạch máu. Ông có thể đã qua đời một cách tự nhiên bất cứ lúc nào. Cú sốc sau vết thương, cùng với việc gây mê để xử lý vết thương, có thể đã hoặc không dẫn đến cơn đau tim”. Tibbett không hề biết về sự việc này, vẫn đi biểu diễn tối hôm đó đã bàng hoàng khi được cảnh sát mời đến để làm rõ sự việc. Mặc dù sau đó được minh oan nhưng ông vẫn day dứt: “Theo một nghĩa nào đó, tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi biết rằng vết thương không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra cái chết. Nhưng sự nhẹ nhõm đó chẳng là gì so với nỗi xót xa và bi kịch mà gia đình ông ấy phải gánh chịu. Tôi vô cùng đau buồn và suy sụp. Tôi không biết nói gì nữa”. Tibbett sau đó đã giúp đỡ người vợ goá và gia đình của Sterzini rất nhiều. Mặc dù vậy, mối quan hệ của Tibbett với các thành viên khác của dàn hợp xướng đã rất khó để trở nên tốt đẹp như xưa. Thời điểm này, Tibbett bắt đầu quen thuộc với những bữa tiệc xa hoa và quen thuộc với bia rượu. Với sự kiện này, ông càng uống nhiều hơn và không bao giờ dừng lại.
Đầu mùa thu năm 1937, cùng Jane, Tibbett sang châu Âu, thực hiện chuyến lưu diễn đầu tiên của mình bên ngoài nước Mĩ. Ông biểu diễn opera, xen kẽ với các chương trình hoà nhạc và sự đón nhận của cựu lục địa với một ngôi sao đến từ nước Mĩ là rất đáng ghi nhận. Tại Anh, Tibbett cũng thay mặt AGMA cố gắng thúc đẩy để tạo mối quan hệ tốt đẹp với các nghệ sĩ biểu diễn tại đây. Hai vợ chồng phải trở về Mĩ một lần giữa chuyến lưu diễn khi nhận được tin Michael mắc bệnh bại liệt, đúng thời điểm nước Mĩ đang có dịch nghiêm trọng. Khi tình trạng của Michael ổn định và có người chăm sóc cẩn thận, họ lại tiếp tục lưu diễn nhưng những cuộc tranh cãi nghiêm trọng đã bắt đầu nổ ra.
Tibbett tiếp tục ngự trị ở đỉnh cao danh vọng cho đến hết mùa diễn 1939-1940. Mùa hè năm 1940, lần đầu tiên sau nhiều năm, ông không tổ chức một chương trình hoà nhạc nào vào mùa hè. Tiếp đó ông cũng huỷ toàn bộ các chương trình của mình vào mùa thu. Tháng 9, Tibbett được bác sĩ thông báo rằng ông bị co cứng cơ thanh quản, phải trải qua một đợt điều trị dài ngày nhưng có thể trở lại vào mùa xuân năm sau. Vốn định hình là baritone và Tibbett có một sự lựa chọn vai diễn thông minh, giúp ông toả sáng trên sân khấu. Nhưng trong các bữa tiệc riêng tư, đặc biệt khi có men rượu, Tibbett thường xuyên hát các aria dành cho tenor và nhiều người từng chứng kiến ông hát c2 đầy giọng, điều khiến dây thanh quản của ông không chịu đựng nổi. Vẫn luyến tiếc sân khấu, Tibbett đã vội vàng quay trở lại. Đó là một quyết định rất thiếu khôn ngoan. Ông vẫn kiểm soát được giọng hát nhưng âm lượng đã giảm đi khá nhiều. Nó dần trở nên khô khốc và như bị bóp nghẹt lại. Đó chính là lý do mà hợp đồng thu âm của ông đã bị huỷ bỏ. Cùng thời điểm, Leonard Warren, một baritone người Mĩ đã nổi lên và dần dần thay thế Tibbett tại Metropolitan Opera. Mặc dù Tibbett vẫn còn gắn với nhà hát cho đến năm 1950 nhưng về cơ bản những tháng ngày vinh quang của ông đã kết thúc.
Không còn gắn bó với Metropolitan Opera, Tibbett tìm đến những vở kịch và nhạc kịch Broadway và uống rượu ngày một nhiều hơn. Có lẽ việc giọng hát suy tàn khi chỉ ở độ tuổi ngoài 40 là mất mát lớn nhất cuộc đời ông và rượu là phương thuốc duy nhất khiến ông có thể đối diện với bi kịch đó. Buổi biểu diễn cuối cùng của Tibbett tại Metropolitan Opera diễn ra vào ngày 24/3/1950 trong Ivan Khovansky (Khovanshchina, Mussorgsky). Ông trở thành người dẫn các chương trình phát thanh và truyền hình, vận động cho việc truyền hình hóa opera, giải thích rằng ông muốn thu hút một lớp khán giả mới cho opera – những người có vẻ e ngại trước khung cảnh sang trọng tại những lô ghế vàng của khán phòng. Tibbett làm cho mọi việc trở nên thú vị hơn bằng những trải nghiệm sân khấu của chính bản thân mình. Chứng nghiện rượu khiến bệnh viêm khớp của ông ngày một nặng hơn. Ngày 27/6/1960, Tibbett ngã đập đầu vào bàn tại căn hộ của mình và bất tỉnh. Ông được đưa vào bệnh viện, phải phẫu thuật não nhưng không qua khỏi. Tibbett qua đời vào ngày 15/7/1960 ở tuổi 65. Ông được chôn cất tại Forest Lawn Memorial Park, Glendale, California.
Tibbett không phải là một người cha hay người chồng tốt. Nghề biểu diễn đòi hỏi nghệ sĩ phải đánh đổi bằng sự vị kỷ. Thông thường họ, vì lý do nghề nghiệp, sẽ “kết hôn’” với chính sự nghiệp của mình. Các con trai của Tibbett gần như không có sự gắn bó nào với ông – cũng như chính ông từng không có với người cha cảnh sát của mình. Ông là một hiện tượng không thể lặp lại trong lịch sử opera Mỹ – một nghệ sĩ hoàn toàn được đào tạo ở trong nước, sở hữu chất giọng baritone rực rỡ, khả năng diễn xuất hiếm có và một cá tính mạnh mẽ không ngừng tranh đấu cho bản thân và bạn diễn. Từ ánh hào quang rực rỡ trên sân khấu Metropolitan Opera cho đến những ngày tháng trầm lặng, khắc khoải cuối đời, cuộc đời ông là hành trình của niềm đam mê, sự cháy bỏng với nghệ thuật và cả những bi kịch rất con người. Tibbett không chỉ để lại những âm vang của một giọng ca lớn, mà còn là ký ức về một nghệ sĩ biểu diễn có thể thoải mái hiện diện cả trong nghệ thuật cao cấp lẫn giải trí đại chúng, cho thấy rằng giữa hai thế giới ấy tồn tại một mối liên kết kỳ diệu.
Cobeo





