Thông tin chung

Tác giả: Ludwig van Beethoven.
Tác phẩm: Giao hưởng số 9 giọng Rê thứ
Thời gian sáng tác: Năm 1822-1824.
Công diễn lần đầu: Ngày 7/5/1824 tại Theater am Kärntnertor, Vienna dưới sự chỉ huy của Michael Umlauf, nhà soạn nhạc cũng đứng trên sân khấu. Henriette Sontag, Caroline Unger, Anton Haizinger và Joseph Seipelt là các ca sĩ lĩnh xướng.
Độ dài: Khoảng 70-80 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được đề tặng vua Phổ Frederick William III.
Cấu trúc tác phẩm: gồm 4 chương
Chương I – Allegro ma non troppo, un poco maestoso (Rê thứ)
Chương II – Molto vivace (Rê thứ – Rê trưởng)
Chương III – Adagio molto e cantabile (Si giáng trưởng)
Chương IV – Presto (Rê thứ – Rê trưởng)
Thành phần dàn nhạc: piccolo, 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet (giọng La, Si giáng và Đô), 2 bassoon, contrabassoon, 4 horn (giọng Rê, Si giáng và Mi giáng), 2 trumpet (giọng Rê và Si giáng), 3 trombone (alto, tenor và bass), timpani, bass drum, triangle, cymbals và dàn dây. Ngoài ra còn có bốn ca sĩ soprano, mezzo-soprano/contralto, tenor, bass độc tấu và dàn hợp xướng SATB.

Hoàn cảnh sáng tác

Kể từ năm 1812, sau khi sáng tác Giao hưởng số 8, cuộc sống của Beethoven liên tục rơi vào khủng hoảng, ông hầu như sáng tác rất ít. Nhưng đến năm 1820, như nhà viết tiểu sử Beethoven, Maynard Solomon cho biết: “đã tái tạo lại cuộc đời và hoàn thành công việc của ông”. Lúc đầu, quá trình này diễn ra chậm rãi nhưng sau đó, từ năm 1822, Beethoven làm việc với một năng lượng cuồng nhiệt. Trong suốt sự nghiệp của mình, Beethoven là một người nhiệt thành tin tưởng vào các giá trị Khai sáng và đã tìm cách thể hiện niềm tin đó trong nhiều tác phẩm của mình. Ngược dòng thời gian về ba mươi năm trước, khi chàng trai trẻ Beethoven “yêu thích sự tự do hơn tất cả mọi thứ”, lần đầu tiên được tiếp xúc với bài thơ đầy hào hùng An die Freude (Tụng ca niềm vui) của Friedrich Schiller. Trong bài thơ, tự do và niềm vui được liên kết với nhau qua câu thơ kêu gọi “giải cứu khỏi xiềng xích của những tên bạo chúa”, niềm vui cung cấp một hành trình hướng đến sự tốt lành đạo đức cho toàn thể nhân loại. Ở tuổi 22, Beethoven từng phác thảo An die Freude dành cho giọng hát và piano nhưng đã bỏ dở. Nhưng nhà soạn nhạc không bao giờ quên đi sức mạnh trong những vần thơ của Schiller.

Năm 1817, Philharmonic Society, London đã đặt hàng Beethoven sáng tác một bản giao hưởng. Beethoven chính thức sáng tác bản Giao hưởng số 9 của mình vào mùa thu năm 1822 và hoàn thành tác phẩm vào tháng 2/1824, với việc sử dụng bốn ca sĩ lĩnh xướng và một dàn hợp xướng để hát lên những lời thơ của Schiller, đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử âm nhạc, một bản giao hưởng có giọng hát. Tuy nhiên, những chất liệu trong bản giao hưởng này có thể tìm thấy trong những sáng tác trước đó của Beethoven. Ông đã suy nghĩ về việc kết hợp giọng hát vào một tác phẩm khí nhạc lớn từ nhiều năm trước và đã thử nghiệm trong Choral Fantasy (1808). Một nét nhạc trong Choral Fantasy cũng được Beethoven đưa vào trong tác phẩm mới của mình. Cùng với đó giai điệu của bài hát Gegenliebe (1795). Cho đến tận mùa hè năm 1823, Beethoven vẫn dự định kết thúc bản giao hưởng bốn chương của mình theo phong cách truyền thống, hoàn toàn chỉ sử dụng nhạc cụ. Và rồi một ngày, theo như Anton Schindler, học trò của Beethoven, mà thông tin không phải lúc nào cũng chính xác, Beethoven đã thốt lên: “Tôi hiểu rồi, tôi hiểu rồi” và nhanh chóng viết ra giấy: “Hãy để chúng ta hát lên những lời của Schiller bất hủ”. Tại sao Beethoven lại quay lại với An die Freude sau 30 năm? Có lẽ đến khoảng thời gian đó, các lý tưởng của cuộc Cách mạng Pháp đã bị Napoléon chà đạp, nhiều cuộc chiến đẫm máu diễn ra trên khắp châu Âu. Ngay tại Áo, những người hoạt động nghệ thuật, nhà báo bị kìm hãm, hạn chế sự tự do ngôn luận. Niềm lạc quan về một thế giới đại đồng đã biến mất. Có lẽ khoảnh khắc này – sự tù túng, chia rẽ – là hoàn hảo để Beethoven lên tiếng bảo vệ những ý tưởng tiến bộ trên một diễn đàn công khai nhất, bằng phương tiện mà ông thành thạo nhất: một bản giao hưởng.

Đến tháng 2/1824, bản Giao hưởng số 9 đã được hoàn thành, Beethoven đã thêm một vài câu vào bài thơ gốc của Schiller. Bất chấp việc phần lớn những tác phẩm của ông được công diễn lần đầu tại Vienna, lần này, Beethoven muốn ra mắt bản giao hưởng này tại Berlin vì cho rằng thị hiếu của khán giả Vienna đã bị những nhà soạn nhạc như Gioachino Rossini thống trị. Cuối cùng, dưới sự khuyên nhủ của bạn bè, những nhà bảo trợ, thậm chí có cả bản thỉnh cầu với nhiều chữ ký từ những nhân vật nổi tiếng tại Vienna, Beethoven cuối cùng đã đồng ý để trình diễn tác phẩm mới này của mình tại đây. Chưa bao giờ có một buổi hoà nhạc nào đồ sộ như vậy, nhạc công được tập hợp từ nhiều dàn nhạc khác nhau, bao gồm những tên tuổi nổi bật nhất của Vienna khi đó. Trong buổi biểu diễn ngày 7/5/1824 tại Theater am Kärntnertor, cùng với bản Giao hưởng số 9, Beethoven cũng giới thiệu bản overture Die weihe des hauses và ba phần Kyrie, Credo và Agnus Dei trong Missa solemnis. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1812, Beethoven mới xuất hiện trở lại trước công chúng. Nhà hát đã chật kín khán giả.

Tuy Michael Umlauf, kapellmeister của nhà hát là nhạc trưởng cho buổi biểu diễn nhưng Beethoven vẫn chia sẻ sân khấu cùng ông. Umlauf từng chứng kiến Beethoven một lần chỉ huy Fidelio, ông hiểu rằng với căn bệnh điếc, Beethoven hoàn toàn không thể nghe thấy dàn nhạc và bất lực trong công việc của một nhạc trưởng. Vì vậy, ông hướng dẫn dàn nhạc và dàn hợp xướng bỏ qua những chỉ dẫn của Beethoven. Sau khi kết thúc bản Giao hưởng số 9, những tiếng vỗ tay của khán giả vang lên, Beethoven vẫn cặm cụi chỉ huy dàn nhạc. Giọng alto Caroline Unger đã phải bước tới, xoay nhà soạn nhạc lại để ông có thể đón nhận tình cảm của khán giả. Báo Theatre-Zeitung đã tường thuật lại: “Công chúng đã đón nhận vị anh hùng âm nhạc với sự tôn trọng và cảm thông cao nhất, lắng nghe những sáng tạo tuyệt vời, khổng lồ của ông với sự chú ý sâu sắc nhất và bùng nổ trong tràng pháo tay tưng bừng, thường xuyên trong các chương và liên tục mỗi khi chúng kết thúc”. Khán giả đã đứng lên cổ vũ Beethoven tất cả năm lần, ném mũ, khăn tay lên không trung, giơ những cánh tay lên, để nhà soạn nhạc, dù không nghe được tiếng vỗ tay, hò reo cũng cảm nhận được sự tung hô mình.

Phân tích

Chương I

Chương I được viết ở hình thức sonata nhưng không có phần trình bày. Nó được bắt đầu với quãng năm (hai nốt nhạc La-Mi) chơi pianissimo trên dàn dây tremolo, dần dần được xây dựng thành chủ đề chính của chương nhạc ở giọng Rê trưởng với nốt Mi mất đi, nhường chỗ cho nốt Rê trên bassoon và horn. Âm nhạc ngày càng trở nên mạnh mẽ và căng thẳng hơn, đẩy tới một cao trào fortissimo tuyệt vời. Trong phần tái hiện, chủ đề chính trở lại, vẫn được chơi fortissimo nhưng đã chuyển sang giọng Rê trưởng thay vì Rê thứ. Chương nhạc kết thúc trong một coda đồ sộ, chiếm thời lượng tới ¼ chương nhạc, giống như trong các bản giao hưởng số 3 và 5.

Chương II

Beethoven để chương II là một scherzo, thay vì chương III như thông lệ. Đây là lần đầu tiên trong các bản giao hưởng, Beethoven thực hiện điều này dù ông đã làm như vậy trước đó trong Sonata piano “Hammerklavier” hay Trio piano “Archduke”. Nhìn bề ngoài, chương nhạc có hình thức ba đoạn thông thường (ABA, tương ứng với scherzo-trio-scherzo) nhưng trong chính phần scherzo lại ẩn chứa một hình thức sonata hoàn chỉnh. Trong phần scherzo này, nhân tố đầu tiên của phần trình bày (tuyên bố nhóm chủ đề chính) là một fugue ở giọng Rê thứ. Chủ đề thứ hai lại ở giọng khác thường Đô trưởng. Phần trình bày này được lặp lại trước một phần phát triển ngắn, nơi Beethoven khám phá những ý tưởng khác. Phần tái hiện lặp lại các chủ đề được nghe trong phần đầu chương nhạc, được bổ sung các giai điệu của phần phát triển, bao gồm cả một đoạn timpani ngắn. Một phần phát triển mới dẫn đến sự lặp lại của phần tái hiện và kết thúc phần scherzo trong một codetta ngắn. Phần trio tương phản ở giọng Rê trưởng, được bắt đầu với tiếng trombone. Và sau đó phần scherzo được tái hiện, nhưng bỏ qua toàn bộ những phần lặp lại, trước khi phần trio một lần nữa xuất hiện ngắn gọn và kết thúc chương nhạc trong một coda.

Chương III

Chương III được viết ở giọng Si giáng trưởng, một giọng xa so với giọng chủ Rê thứ, cách một quãng sáu thứ. Chương nhạc có hình thức một biến tấu kép với mỗi trong số hai biến tấu được phát triển ngày càng phức tạp hơn về nhịp điệu và giai điệu. Biến tấu đầu tiên, giống như chủ đề, ở nhịp 4/4 và biến tấu thứ hai ở nhịp 12/8. Các biến tấu này được chia tách bằng một đoạn chen ở nhịp 3/4, ban đầu ở giọng Rê trưởng, sau đó là Son trưởng, Mi giáng trưởng và cuối cùng là Si trưởng.

Chương IV

Sự vĩ đại của bản Giao hưởng số 9 tập trung trong chương IV, có hình thức chủ đề chính và các biến tấu, được bắt đầu bằng một giới thiệu có chất liệu âm nhạc đến từ ba chương nhạc trước đó, lần lượt bị dàn nhạc nổi lên cắt đứt. Và rồi chủ đề chính kỳ diệu của “Ode to Joy” xuất hiện trên bè trầm của dàn dây với cello và double bass. Chủ đề này được biến tấu ba lần, qua các nhạc cụ khác nhau và rồi cả dàn nhạc trước khi giọng hát con người lần đầu tiên xuất hiện trong một bản giao hưởng, giọng Bass cất lên do chính Beethoven viết: O Freunde, nicht diese Töne!’ Sondern laßt uns angenehmere anstimmen, und freudenvollere (Hỡi những người bạn, không phải những âm thanh này! Thay vào đó, hãy tạo ra những thứ vui vẻ và nhiệt thành hơn). Và rồi thứ âm nhạc chưa bao giờ từng xuất hiện này cứ thế tuôn trào để rồi đến phần kết, dàn hợp xướng hát những dòng cuối cùng của chủ đề chính, kết thúc bản giao hưởng của Beethoven trong sự hân hoan không gì sánh nổi.

Hầu như tất cả những nhà phê bình đều công nhận bản Giao hưởng số 9 của Beethoven không chỉ là tuyệt tác của nhà soạn nhạc mà còn của cả kho tàng nhạc cổ điển nhân loại. Tuy nhiên, chương IV của tác phẩm cũng phải hứng chịu những lời gièm pha, một trong số đó đến từ Giuseppe Verdi. Ông nhận xét: “Khởi đầu và kết thúc là bản Giao hưởng số 9 của Beethoven, tuyệt vời trong ba chương đầu, rất tệ ở chương cuối cùng. Sẽ không ai có thể tiếp cận sự thăng hoa trong chương đầu tiên, nhưng sẽ là dễ dàng để viết ra những giọng hát tệ hại ở chương cuối. Và được hỗ trợ từ uy quyền của Beethoven, tất cả họ sẽ thét lên: “Đó là cách để làm điều đó””. Bất chấp những lời chỉ trích, bản Giao hưởng số 9 toát ra một sức mạnh siêu phàm, phủ ảnh hưởng to lớn của mình lên những nhà soạn nhạc thế hệ sau đó. Franz Schubert, đã trích dẫn ngắn gọn Ode to Joy trong bản Giao hưởng số 9 của mình. Bản Giao hưởng số 1 của Johannes Brahms, đôi khi còn bị gọi là bản giao hưởng số 10 của Beethoven vì chương cuối có sử dụng lại chủ đề trong Ode to Joy, được Brahms thản nhiên cho biết: “Bất kỳ kẻ ngu ngốc nào cũng nhận thấy điều đó”. Felix Mendelssohn, Gustav Mahler, Dmitri Shostakovich và nhiều nhà soạn nhạc khác cũng đưa giọng hát vào trong các bản giao hưởng của mình. Anton Bruckner hầu như luôn mở đầu các bản giao hưởng của mình theo cùng một cách như Beethoven đã làm, với những tiếng tremolo réo rắt của dàn dây. Còn theo Richard Wagner, Beethoven chính là người chỉ dẫn “âm nhạc hướng đến tương lai” với tập hợp các giai điệu và giọng ca trong các vở opera của mình.

Chủ đề Ode to Joy ngày nay trở nên rất phổ biến trong văn hoá đại chúng. Nó thường xuyên được vang lên ở những lễ hội trang trọng và được Liên minh châu Âu chọn làm quốc ca, bắt đầu từ năm 1985. Bản Giao hưởng số 9 đã trở thành bất tử, một trong những điều kỳ diệu mà con người có thể làm được, mãi mãi đi vào lịch sử như là một biểu tượng của tinh thần tự do, đại đồng và bình đẳng!

Cobeo