“Âm nhạc thoát qua các ngón tay. Đừng bao giờ chơi chỉ vì muốn chơi hay. Đừng bao giờ cố gắng đạt được sự diễn giải hoặc biểu diễn kỹ thuật; điều này ngăn cản chúng ta lắng nghe những gì âm nhạc muốn nói với bản thân mình.” – Samson François
Với Samson François, bạn phải đối mặt với sự tranh cãi. Điều này đến từ sự không nhất quán trong các màn trình diễn của ông. Chúng trải dài từ tuyệt vời với sự tự do trong trí tưởng tượng và hoàn hảo về mặt kỹ thuật cho đến sự hỗn loạn và thiếu tập trung và có lẽ đáng tiếc nhất, là tầm thường và nhạt nhẽo. François được miêu tả là “một thiên tài sáng tạo nhạy bén được biết đến với sự thái quá, cái tôi, những đỉnh cao cảm xúc và những điểm thấp tàn khốc”. Là một nghệ sĩ piano, ông không bao giờ đưa ra cách diễn giải giống nhau cho bất kỳ tác phẩm nào, kể cả trong thời đại thu âm. Đôi khi ông chơi tệ, nhưng khi tinh thần và thể trạng ở vào thời điểm sung mãn nhất, đó là những màn trình diễn chói sáng, táo bạo và đầy cảm xúc. Nhìn vào cuộc sống riêng tư của François, ta có thể hiểu được phần nào lí do dẫn đến sự thiếu đồng nhất ở ông. Bị cuốn vào một cuộc sống xa hoa với nhiều sở thích tổn hại sức khoẻ, đam mê nhạc jazz, phong cách chơi piano của ông mang nhiều tính bản năng, phóng khoáng và không bị ràng buộc, như François đã từng nói: “Phải làm sao để người ta không bao giờ có cảm giác bị buộc phải chơi nốt tiếp theo”. Bay bổng, đầy chất thơ, hời hợt, lộn xộn, lập dị tất cả những điều đó đã tạo nên François. một trong những nghệ sĩ piano có ảnh hưởng nhất nước Pháp kể từ sau Thế chiến thứ hai.
Samson Pascal François sinh ngày 18/5/1924 tại Frankfurt, Đức khi cha của cậu đang công tác trong lãnh sự quán Pháp. Bà Ross, mẹ của cậu đã chọn cái tên Samson với hàm nghĩa “sức mạnh” và Pascal là “trí tuệ”. Vì công việc của mình, cha Samson đã di chuyển khắp châu Âu. Như François cho biết, ông đã làm quen với cây đàn piano từ khi lên hai tuổi, khi gia đình chuyển tới Ý, sự việc đến nay vẫn còn gây nghi ngờ. François đã kể lại nhiều phiên bản khác nhau về những năm tháng đầu đời của mình vì vậy không phải lúc nào cũng dễ để phân biệt được đâu là thật và đâu là không chính xác. Thật vậy, khi bị một người bạn khiển trách vì những lời tô vẽ của mình, François đã trả lời: “Tôi không nói dối, tôi đang sống theo trí tưởng tượng của mình”.
Nhưng có một điều là xác thực, 6 tuổi, cậu bé đã có buổi biểu diễn đầu tiên của mình trong một concerto piano của Wolfgang Amadeus Mozart dưới sự chỉ huy của Pietro Mascagni, chính là thầy giáo chính thức đầu tiên và là người đánh giá rất cao khả năng âm nhạc của Samson. Như những người du mục, một lần nữa gia đình François lại di chuyển, lần này là tới Belgrad, Serbia nơi Samson được học piano dưới sự hướng dẫn của Cyril Licar, người đã giới thiệu cho cậu học trò của mình các tác phẩm của Béla Bartók. Samson đã giành được giải nhất trong một cuộc thi piano tại đây với bản Rhapsody Hungary số 11 của Franz Liszt trước khi gia đình cậu chuyển về Pháp sinh sống. Năm 1932, Samson theo học tại Nhạc viện Nice và một lần nữa trở thành người xuất sắc nhất tại đây và thu hút được sự chú ý của Alfred Cortot. Năm 1935, nghệ sĩ piano lỗi lạc này đã thuyết phục gia đình cho Samson tới Paris để học piano cùng Yvonne Lefébure tại École Normale de Musique, một trong những trường nhạc hàng đầu Paris mà Cortot là người đồng sáng lập. Bản thân Cortot cũng tham gia dạy Samson nhưng ông thú nhận: “Cậu ta rất khó để dẫn dắt. Tôi chỉ có thể khiến cậu ta làm việc bằng cách gợi lên các hình ảnh”. Nadia Boulanger dạy Samson môn hoà thanh. Từ năm 1938, Samson chuyển đến học tập tại Nhạc viện Paris với một nghệ sĩ lỗi lạc khác là Marguerite Long. Long nhận ra tiềm năng to lớn của Samson nhưng cũng không kiên nhẫn nổi với tính khí ngang ngược của cậu. Dạy cậu là một nhiệm vụ rất khó khăn, vì Samson khá bướng bỉnh và thiếu kỷ luật. Cậu thường chơi theo bản năng và không thích nghi tốt với kỷ luật luyện tập. Đó là người học trò duy nhất mà Long từng phải đánh đòn và nhiều năm sau, họ gặp lại nhau, François đã nói: “Thưa cô, thật vinh dự, khi là người duy nhất”! Mặc dù vậy, Samson đã có những tiến bộ đáng kinh ngạc và đã có thể kiếm tiền để trang trải cuộc sống bằng cách biểu diễn trước công chúng.
Năm 1943, François giành giải nhất bảng piano trong cuộc thi quốc tế Marguerite Long-Jacques Thibaud lần thứ nhất. Tuy nhiên, sự nghiệp của một nghệ sĩ piano chuyên nghiệp của François chỉ thực sự bắt đầu khi cuộc Thế chiến thứ hai kết thúc. Đã có lần anh chinh phục khán giả Paris trong một chương trình tại Salle Payel với 4 concerto piano liên tục: số 3 của Sergei Prokofiev, số 1 của Liszt, Maurice Ravel và Robert Schumann. François đã tổ chức hàng loạt các buổi hoà nhạc sau đó trên khắp châu Âu. Trong đó có nhiều chương trình được thực hiện dưới sự tổ chức của nhà sản xuất âm nhạc của Emi Classics, người sáng lập Philharmonia Orchestra. Walter Legge, vốn rất ngưỡng mộ tài năng của François. Emi Classics sau này đã thực hiện hầu hết những đĩa nhạc để đời của François. Năm 1947, François lần đầu ra mắt khán giả Mĩ khi biểu diễn bản Concerto piano số 5 của Prokofiev tại Carnegie Hall cùng Leonard Bernstein và có bản thu âm đầu tiên của mình với Scarbo (Gaspard de la nuit, Ravel). Yêu thích cuộc sống biểu diễn và gặp gỡ khán giả, François không ngừng biểu diễn và trở thành một trong những cái tên được săn đón nhất vào những năm 1950. Ông cũng từng thử sức với sáng tác: “Lúc đầu, với tư cách là một nghệ sĩ piano, bạn sẽ vui vẻ khi diễn giải các tác phẩm của người khác. Sau đó, bạn sẽ thấy chán và cuối cùng, nó không còn đủ với bạn nữa. Đó là lúc tôi bắt đầu tự sáng tác”. Các tác phẩm của François bao gồm Magies Noires cho piano độc tấu, một ít nhạc phim, nhạc jazz và một concerto piano. Như ông kể lại: “Nếu bản concerto thành công, mọi người sẽ nói rằng tôi, nói chung, là một nghệ sĩ piano tầm thường và nếu nó tệ, mọi người sẽ nói rằng tôi không phải là một nhà soạn nhạc”.
Năm 1955, François kết hôn với Josette Bhavsar, nhân viên âm nhạc của Đài phát thanh và truyền hình Pháp, con gái của một thương gia kim cương Ấn Độ. Họ có với nhau cậu con trai Maximilien, người sau này là tác giả một cuốn sách về cha mình, Histoires de mille vies (Những câu chuyện về một nghìn cuộc đời), dựa theo câu nói nổi tiếng của François: “Tôi không chỉ có một mà là một nghìn cuộc đời”. Năm 1956, ông trở thành một trong những nghệ sĩ phương Tây đầu tiên biểu diễn tại Liên Xô. Nhà phê bình Grigory Kogan đã tán dương: “Cách chơi của ông đầy chất thơ và sự quyến rũ; những đoạn nhạc “tuôn trào” một cách tự nhiên và duyên dáng và những câu đoạn nhạc sâu sắc được “nói ra”. Kỹ thuật của nghệ sĩ rất tuyệt vời, tiếng đàn piano của ông ấy nhẹ nhàng và hấp dẫn”. Trọng tâm trong danh mục biểu diễn của François là âm nhạc Lãng mạn của Schumann, Liszt, Frédéric Chopin và trường phái Ấn tượng với Claude Debussy và Ravel. Ông cũng ủng hộ âm nhạc đương thời với Bartók, Prokofiev và Paul Hindemith. Nguyên tắc lựa chọn của François là chỉ chơi những gì mình thích và “không làm bản thân nhàm chán khi biểu diễn piano”. François từng tuyên bố: “Các bản sonata piano của Beethoven làm tôi phát ngán vì sự thiếu hụt về mặt thẩm mỹ” và “đừng nhắc đến Brahms, ngón tay tôi đau nhức khi đụng đến ông ấy”. Về tính cách lập dị này François rất giống với một thiên tài khác là Glenn Gould.
Không phải là một nghệ sĩ yêu thích tập luyện, câu nói quen thuộc của François là “Bạn không cần phải chơi nhiều mới có thể chơi tốt”. “Samson de la nuit (Samson của đêm), biệt danh mà mọi người đặt cho ông, ngoài việc dựa trên Gaspard de la nuit mà François là bậc thầy còn đến từ sự đam mê các cuộc sống về đêm của người nghệ sĩ. Ông yêu thích các câu lạc bộ jazz và thường xuyên ở cả đêm tại đây. Hình ảnh quen thuộc của Samson là một tay cầm ly whisky, tay kia cầm điếu thuốc, mái tóc dài xoã che kín mắt. Ông thậm chí còn sử dụng ma tuý. Chính cuộc sống mang tính bản năng với nhiều thói quen độc hại này đã khiến Bhavsar li dị với ông vào đầu những năm 1960. Mặc dù vậy, sau khi François qua đời, bà đã thành lập một quỹ mang tên ông để tôn vinh những nghệ sĩ piano trẻ. Rõ ràng, phong cách biểu diễn của François đã chịu ảnh hưởng nặng nề từ lối sống thiếu kỷ luật này. Nó phóng túng, tự do và không thể đoán trước. Ông không hề tuân thủ những chỉ dẫn của bản nhạc, mặc sức để trí tưởng tượng cá nhân tung hoành và khiến khán giả có cảm nhận rằng mọi thứ được ông ứng biến tại chỗ. François coi thường mọi nỗ lực phân tích tác phẩm và cho rằng sự chỉ trích đã giết chết tinh thần sáng tạo và tính giải trí. Những diễn giải của ông là sự tái tạo tác phẩm thực sự, nơi những khoảnh khắc thiên tài xen kẽ với những thời điểm gây khó chịu đối với khán giả. Nhưng chính sự không theo khuôn mẫu nào cả đã khiến ông trở nên vô cùng phù hợp với thứ âm nhạc trừu tượng vốn mang trong mình những tư tưởng phá cách truyền thống Lãng mạn cả về hình thức và nội dung. Là người kế thừa của “truyền thống piano Pháp”, âm nhạc của Debussy và Ravel tuôn trào dưới đôi bàn tay ông, bay bổng, thơ mộng, kỳ ảo, nhẹ nhàng và đầy thư giãn. Nhắm mắt lại, chúng ta vẫn có thể thấy được màu sắc của từng nốt nhạc. Với nhiều nhà soạn nhạc khác, kể cả những người ông yêu thích ví dụ như Chopin thì khiến khán giả trải qua nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Có thể là hoàn hảo như Wilhelm Kempff từng thốt lên khi nghe Polonaise-fantaisie: “Không có màn trình diễn tác phẩm này tuyệt vời hơn” nhưng cũng có thể là rất “ồn ào và lộn xộn như mái tóc của ông ấy vậy” trong một bản waltz hoặc mazurka nào đó. Cùng trong một tác phẩm, thậm chí một chương nhạc, François ngay lập tức có thể khiến chúng ta cảm nhận rõ rệt sự thất thường của ông, từ hấp dẫn đầy sức sống đến sự tẻ nhạt vô vị. Alexis Weissenberg nhận xét về người đồng nghiệp của mình “là người tài năng nhưng vô trách nhiệm”.
François thừa hưởng kỹ thuật tuyệt vời của Long, cảm nhận tinh tế và màu sắc rực rỡ từ Cortot nhưng trí tưởng tượng là của riêng François, không thể nhầm lẫn với bất kỳ ai khác. Như chính François từng nhận xét về bản thân mình: “Toàn bộ quan niệm của tôi về âm nhạc luôn ít nhiều mang tính tình cảm. Tôi không nghĩ mình là người truyền tải thông điệp, tôi yêu âm nhạc vì tình yêu dành cho nó, đơn giản là vậy và không cần đặt câu hỏi”. Nhưng khi ở trạng thái tốt nhất, chỉ cần ông ngồi xuống bên phím đàn, khán giả dường như đã bị bao trùm trong sự phong phú âm thanh của François. Sự kỳ diệu không thể kéo dài mãi. Vào cuối những năm 1960, những màn trình diễn tệ hại của Samson ngày một tăng dần. Thói quen sinh hoạt về đêm với nhiều thứ giải trí độc hại đã ảnh hưởng nặng nề đến sức khoẻ của ông. Trong một buổi biểu diễn vào năm 1968, ông đã lên cơn đau tim và gục ngã ngay trên sân khấu. Và François qua đời hai năm sau đó, vào ngày 22/10/1970 ở tuổi 46 khi gục ngã vì căn bệnh tim khi đang đi đường đến phòng thu âm. Ông được chôn cất tại nghĩa trang Saint-Ouen (Seine-Saint-Denis), phía bắc Paris.
François mất đi để lại dự án thu toàn bộ các tác phẩm dành cho piano của Debussy với EMI Classics còn dang dở. EMI Classics cũng là nơi lưu trữ những gì tuyệt vời nhất trong tiếng đàn của François. Trọn bộ những bản thu âm của ông đã được tái bản vào năm 2020. Lắng nghe chúng, ta có thể cảm nhận trọn vẹn về một nghệ sĩ thiên tài luôn chuyển động không ngừng, một tinh thần tự do luôn khiến chúng ta bất ngờ từ câu nhạc này tới câu nhạc khác, tạo nên một không khí hồi hộp nhưng cũng đầy mong chờ. Và trong những gì tốt đẹp nhất, đó là vè quyến rũ không thể cưỡng lại, có sức lôi cuốn vô song cho thấy sự đam mê và trí tưởng tượng tuyệt vời của người nghệ sĩ. François là tinh hoa, người có câu chuyện cuộc đời và sự cống hiến giúp ông trở nên độc nhất. Những gì François thể hiện đã tách biệt ông ra khởi đám đông. Đó đơn giản là Samson François, một nghệ sĩ piano không quan tâm đến bất cứ thứ gì ngoài tuyên bố đơn giản của mình: “Tôi chơi theo cách của tôi”.
Cobeo tổng hợp





