Thông tin chung
Opera: Der Freischütz, Op. 77 (J. 277)
Tác giả: Carl Maria von Weber.
Kịch bản: Friedrich Kind, dựa theo truyện trong tuyển tập Gespensterbuch (1811) của Johann August Apel và Friedrich Laun.
Thời gian sáng tác: Tháng 7/1817-13/5/1820.
Công diễn lần đầu: Ngày 18/6/1821 tại Schauspielhaus Berlin dưới sự chỉ huy của chính tác giả.
Độ dài: Khoảng 2 giờ 10 phút.
Nhân vật/Loại giọng:
Max, Trợ lý kiểm lâm thứ hai: Tenor
Agathe, Con gái của Kuno: Soprano
Caspar, Trợ lý kiểm lâm thứ nhất: Bass
Ännchen, Chị họ và là bạn thân của Agathe: Soprano
Ottokar, một vị hoàng tử: Baritone
Vị ẩn sĩ: Bass
Kilian, một người nông dân giàu có: Baritone
Kuno, Kiểm lâm trưởng: Bass
Samiel, thợ săn hắc ám: Thoại
Bốn phù dâu: Soprano
Thành phần dàn nhạc: 2 piccolo, 2 flute, 2 oboe, English horn, 2 clarinet (giọng Si giáng), 2 bassoon, 4 horn (giọng Pha và Đô), 2 trumpet (giọng Đô), 3 trombone, timpani và dàn dây. Ngoài sân khấu có clarinet, 2 horn, trumpet, bè violin và cello.
Hoàn cảnh sáng tác
Câu nói của Richard Wagner trước mộ của Weber vào tháng 12/1844 “Một nhà soạn nhạc Đức nhiều hơn bạn đã từng sống” đã vang vọng cho đến tận ngày nay. Weber qua đời tại London và chính Wagner là người dẫn đầu trong chiến dịch đưa hài cốt ông về Dresden, nơi mà Wagner đã đảm nhiệm vị trí kapellmeister vốn trước đó thuộc về Weber. Sự ủng hộ của Wagner đối với opera của Weber nói chung và Der Freischütz (Nhà thiện xạ) là điều dễ hiểu, bởi đây là một tác phẩm đi đầu trong phong trào Lãng mạn và đã đưa opera Đức chuyển sang một bước ngoặt quan trọng mới. Đồng thời, nó phù hợp kỳ lạ với quan điểm thẩm mĩ của Wagner về việc đây chính là những cách tân mà opera cần phải hướng đến.
Weber tình cờ bắt gặp Der Freischütz trong tập Gespensterbuch, những câu chuyện dân gian được Johann Apel và Friedrich Laun sưu tập. Là một nhà soạn nhạc, Weber cũng đồng thời là một nhạc trưởng, phục vụ với tư cách kapellmeister, đầu tiên là tại Prague và sau đó là Dresden, nơi ông đã chỉ huy nhiều vở opera của Luigi Cherubini, Wolfgang Amadeus Mozart và đặc biệt là Fidelio (Ludwig van Beethoven), tác phẩm mà Weber rất yêu mến. Der Freischütz là một vở opera thuộc thể loại Singspiel, nối tiếp truyền thống của Die Entführung aus dem Serail, Die Zauberflöte của Mozart và Fidelio. Weber bắt đầu làm việc với Der Freischütz từ tháng 7/1817 và mất gần ba năm để hoàn thành tác phẩm, vào ngày 13/5/1820. Der Freischütz chỉ là cái tên thứ ba mà Weber nghĩ đến. Ban đầu nhà soạn nhạc định lấy tựa đề là Der Probeschuß (Vụ bắn thử) và sau đó là Die Jägersbraut (Cô dâu của thợ săn).
Âm nhạc của Weber trong Der Freischütz là rất sáng tạo. Đây không phải là tác phẩm về một vị vua hay thần thánh nào đó. Đó là một câu chuyện, cho dù có nhuốm màu sắc siêu nhiên nhưng vẫn là về đồng quê giản dị. Ông đã sử dụng rất nhiều chất liệu âm nhạc dân gian trong vở opera của mình. Theo chính Weber, Der Freischütz đượ tiếp cận dưới hai yếu tố chính: cuộc sống săn bắn và sức mạnh ma quỷ được nhân cách hoá. Cuộc sống săn bắn được miêu tả một cách dễ dàng qua horn nhưng sức mạnh ma quỷ được nhân cách hoá mới làm nổi bật lên những cách tân đáng trân trọng của Weber. Ông đã sử dụng hợp âm bảy giảm để miêu tả sự xuất hiện của Samiel, vị thợ săn hắc ám, được ghi nhận là “hợp âm quan trọng nhất trong opera lãng mạn cho đến khi xuất hiện hợp âm Tristan của Wagner”. Ngoài ra Weber đã sử dụng leitmotiv một cách rộng rãi, một điều quá phù hợp với phong cách sáng tác của Wagner. Nikolaus Harnoncourt đã nhận xét: “Overture gần giống như một mỏ đá, một mỏ tuyệt vời của vật liệu dạng khối mà từ đó các mạch của âm nhạc kéo dài đến tận màn cuối cùng”. Bên cạnh đó, không chỉ bó mình trong phạm vi âm nhạc, Weber còn tham gia trong việc thiết kế sân khấu, ánh sáng và đề nghị các ca sĩ diễn xuất cho phù hợp với kịch bản. Weber nỗ lực hướng tới cái mà ông mô tả là “một tác phẩm nghệ thuật tự thân, trong đó mọi đặc điểm và đóng góp của các nghệ thuật liên quan được đúc kết lại với nhau theo một cách nhất định và hòa tan, để tạo thành một thế giới mới” – về cơ bản là tiền thân của Gesamtkunstwerk (Tác phẩm nghệ thuật tổng thể) của Wagner.
Der Freischütz được công diễn lần đầu vào ngày 18/6/1821 tại Schauspielhaus Berlin dưới sự chỉ huy của chính tác giả. Đây cũng là một điểm đáng chú ý khi lúc này Gaspare Spontini đang là nhà soạn nhạc cung đình tại Berlin trong khi Weber không thích opera Ý với những đòi hỏi khắt khe về kỹ thuật thanh nhạc và đang nỗ lực thoát khỏi nó. Weber đã phải nỗ lực rất nhiều trong việc thuyết phục quốc vương Friedrich Wilhelm III để có thể có được nhiều buổi tập luyện. Và sự xuất hiện của Der Freischütz đã mang đến những luồng gió mới. Khán giả trong buổi ra mắt có sự tham gia của Ernst Theodor Amadeus Hoffmann, Heinrich Heine và cậu bé 12 tuổi Felix Mendelssohn. Hoffmann không có cảm tình với những truyện trong Gespensterbuch và kịch bản của Kind nhưng đặc biệt ấn tượng với Der Freischütz. Hoffmann nhận xét: “Nếu đóng góp của Kind được chôn cùng chúng (Gespensterbuch), hậu thế sẽ không có gì phải thương tiếc; nhưng hơi thở bất diệt của cuộc sống mà Weber đã thổi vào những nhân vật tuyệt vời chắc chắn sẽ bảo vệ ông ấy khỏi sự lãng quên… Der Freischütz là vở opera quan trọng nhất của Đức kể từ thời Mozart”. Danh tiếng của Der Freischütz ngày một vang xa, được biểu diễn trên khắp châu Âu và thậm chí là Mỹ. Năm 1841, Hector Berlioz, người rất ngưỡng mộ Weber đã dàn dựng tác phẩm tại Paris. Tuy nhiên, do yêu cầu cho mọi vở opera tại Pháp vào thời điểm đó, phải có một trích đoạn dành cho ballet trong màn II, Berlioz đã phối khí cho dàn nhạc bản rondo dành cho piano Aufforderung zum Tanz (Lời mời khiêu vũ) của Weber. Pyotr Ilyich Tchaikovsky cũng rất tán thưởng Der Freischütz, gọi đó là “tính ngẫu hứng cho nguồn cảm hứng” đã chỉ trích nặng nề hành động của Berlioz, coi đó là “vô vị và ngớ ngẩn”.
Vở opera mở đầu bằng một overture mô tả một cách sinh động hai yếu tố trung tâm trong vở opera: cuộc sống săn bắn và sức mạnh ma quỷ được nhân cách hoá. Cái đầu tiên được thể hiện bằng âm thanh của bốn chiếc horn và cái sau trên âm vực thấp của dàn dây, bassoon và clarinet với tiếng timpani bí ẩn. Phần mở đầu chậm rãi như một bản thơ giao hưởng thu nhỏ, thiết lập tâm trạng cho toàn bộ vở opera. Phần allegro sau đó là sự tích hợp nhiều giai điệu trong các trích đoạn quan trọng sẽ xuất hiện sau đó (chính là các leitmotiv). Overture này là một minh chứng hùng hồn cho thấy kỹ năng phối khí của Weber xuất sắc như thế nào và một khúc overture có thể tóm tắt câu chuyện của một vở opera tuyệt vời ra sao.
Tóm tắt nội dung
Thời gian: Ngay sau Cuộc chiến tranh 30 năm (1618-1648).
Địa điểm: Xứ Bohemia.
Màn I
Trong cuộc thi bắn súng, Max, vị trợ lý kiểm lâm thứ hai đã thua Kilian, một nông dân và Kilian đã được phong tặng danh hiệu “Vua thiện xạ” (“Viktoria! Der Meister soll leben”). Kilian chế nhạo Max (“Schau der Herr mich an als König”). Max muốn cưới Agathe, con gái của vị kiểm lâm trưởng Kuno. Để có thể kết hôn với Agathe và thay thế Kuno làm kiểm lâm trưởng, Max phải giành chiến thắng trong cuộc thi bắn súng vào ngày hôm sau dưới sự chứng kiến của hoàng tử Ottokar. Vì Max đang gặp xui xẻo, anh nghĩ về viễn cảnh mất Agathe do thua trong cuộc thi bắn súng (“O diese Sonne”). Còn lại một mình, trong cơn sầu muộn, anh nghĩ về những ngày hạnh phúc trước đó (“Durch die Wälder, durch die Auen”). Kaspar, trợ lý kiểm lâm thứ nhất, chuốc rượu Max (“Hier im ird’schen Jammerthal”). Anh ta từng đem lòng yêu Agathe nhưng cô đã từ chối anh để yêu Max. Nếu cuộc hôn nhân giữa Max và Agathe thành công, Max sẽ trở thành người thừa kế của Kuno. Kaspar muốn trả thù cả ba: đối thủ, người mình đem lòng yêu và cha của cô ta. Anh ta đưa cho Max khẩu súng của mình và Max, bất ngờ với chính bản thân, đã bắn trúng một con đại bàng đang bay ở tít trên cao. Kaspar cho biết khẩu súng đã được nạp viên đạn ma thuật cuối cùng của mình. Kaspar thuyết phục Max đến gặp mình vào lúc nửa đêm tại Wolf’s Glen khủng khiếp để có thể có được bảy viên đạn ma thuật, trong đó sáu viên sẽ trúng đích còn viên thứ bảy thuộc về Hắc ám có thể hướng tới bất cứ đích bắn nào anh hướng tới. Anh ta cảnh báo Max không được nói với bất kỳ ai về câu chuyện này. Còn lại một mình, Kaspar tự hào về sự quỷ quyệt của mình (“Schweig’! Damit dich niemand warnt”). Để đổi lấy các viên đạn, Max sẽ thay thế Kaspar trao linh hồn của mình cho quỷ dữ.
Màn II
Phòng của Agathe.
Đúng vào lúc Max bắn ra viên đạn ma thuật, một bức tranh tổ tiên Agathe được treo trên tường đã bị rơi xuống và khiến Agathe bị thương nhẹ. Agathe và người chị họ, người bạn thân Ännchen treo lại bức tranh (Duet “Schelm, halt fest!”). Ännchen cố gắng động viên Agathe (“Kommt ein schlanker Bursch gegangen”). Trong khi đó Agathe vẫn băn khoăn, kể về câu chuyện cô gặp gỡ với một vị ẩn sĩ trước đó, người chỉ ra những nguy hiểm mà cô sẽ gặp phải và những bông hoa hồng trắng ông ta trao tặng sẽ bảo vệ cô. Còn lại một mình, Agathe chờ đợi Max và sự thành công của anh (“Wie nahte mir der Schlummer… Leise, leise”). Max đến, thú nhận rằng mình không phải người chiến thắng nhưng anh đã bắn được một con đại bàng. Anh cho biết vào lúc đêm tối mình phải tới Wolf’s Glen ( “Wie? Was? Entsetzen!”).
Wolf’s Glen vào ban đêm.
Khi tiếng chuông điểm 12 giờ đêm, Kaspar kêu gọi Samiel, thợ săn Hắc ám để đúc bảy viên đạn. Kaspar đề nghị lấy linh hồn của Max để chuộc về linh hồn của mình và viên đạn thứ bảy sẽ được Max bắn ra và giết chết Agathe. Samiel đồng ý một cách mơ hồ: “Vì vậy, có thể là – Bên cổng địa ngục! Ngày mai anh ta hoặc anh!”. Khi Max tới, linh hồn của mẹ anh hiện ra, đề nghị anh từ bỏ. Nhưng Samiel nhắc tới Agathe, báo rằng dường như cô đang tuyệt vọng. Max đã quyết định. Những tiếng ồn ma quỷ xuất hiện, quá trình đúc những viên đạn bắt đầu.
Màn III
Cuộc gặp gỡ của những tay thiện xạ.
Sau khi Kaspar và Max phân chia những viên đạn, mỗi người trong số họ đều sử dụng ba viên trong cuộc đi săn vào buổi sáng. Như vậy chỉ còn Max giữ viên đạn thứ bảy, viên đạn hắc ám.
Phòng của Agathe.
Agathe đang cầu nguyện (“Und ob die Wolke sie verhülle”), những lo âu và nghi ngờ của cô trở lại khi trong giấc mơ, Agathe thấy điềm xấu khi Max bắn chết một con bồ câu trắng. Ännchen cố gắng cổ vũ cô bằng một câu chuyện ma quái (“Einst träumte meiner sel’gen Base”). Các phù dâu mang tới vòng hoa cô dâu (“Wir winden dir den Jungfern-Kranz”) nhưng khi mở ra, đó lại là một vòng hoa tang. Nhớ lại lời của vị ẩn sĩ rằng những bông hồng trắng sẽ bảo vệ cô, Agathe cho tết chúng lại thành vòng hoa dành cho cô dâu.
Thử tài thiện xạ.
Hoàng tử Ottokar đợi Max tại khu lán trại của mình (“Was gleicht wohl auf Erden”). Như một bài kiểm tra, Ottokar ra lệnh cho Max bắn vào một con chim bồ câu. Max nhắm và bắn, đúng lúc đó, Agathe bước đến và ngã xuống như bị trúng đạn (“Schaut, o schaut”). Nhưng vòng hoa cô dâu và hình ảnh vị ẩn sĩ phía sau đã làm chệch hướng viên đạn, chuyển sang hướng về phía Kaspar. Agathe tỉnh lại và Kaspar, nhận thấy hình ảnh vị ẩn sĩ thánh thiện phía sau, biết rằng mình đã thất bại. Samiel nắm lấy Kaspar trong khi anh ta nguyền rủa thiên đường và cả địa ngục. Ottokar ra lệnh ném xác Kaspar vào Wolf’s Glen. Ông ra lệnh cho Max giải thích và anh thú nhận rằng mình đã bắn ra viên đạn ma thuật. Bất chấp lời van xin đến từ Kuno, Agathe, những người thợ săn, nông dân, Ottokar quyết định huỷ bỏ đám cưới và trục xuất Max khỏi đất nước. Vị ẩn sĩ cố gắng xoa dịu hoàng tử (“Wer legt auf ihn so strengen Bann! Ein Fehltritt, ist er solcher Büssung wert?”). Ông thuyết phục hoàng tử giảm hình phạt xuống, chỉ bắt Max chịu án trong vòng một năm và sau đó có thể kết hôn với Agathe. Hoàng tử chấp nhận phán quyết này trong sự vui mừng tột độ của mọi người. Tất cả hát lên lời nguyện cầu cảm tạ.
Cảnh The Wolf’s Glen (Wolfsschlucht) là phần nổi tiếng nhất của vở opera: một sự kết hợp phi thường giữa sức mạnh của nhạc cụ và trang trí sân khấu làm khán giả kinh hoàng. Chúng ta đang ở trong một khe núi cheo leo kỳ lạ, đầy ánh trăng, được bao quanh với những ngọn núi cao; những con cú đậu trên cao; một cơn bão đang hình thành; giọng nói vang lên từ thinh không; và Kaspar đang làm những điều không thể tiết lộ trước với đầu lâu và cánh đại bàng. Hơn hai mươi phút tiếp theo bao gồm việc đúc đạn nổi tiếng, nghi lễ ma thuật hắc ám, chuyến đi của cuộc đi săn hoang dã, mà đỉnh điểm là sự xuất hiện của ma quỷ. Weber thể hiện mình là một bậc thầy của dàn nhạc, người định hướng cho Wagner hay Nikolai Rimsky-Korsakov. Từ hố nhạc, Weber tạo ra những con chim đêm, lợn rừng đen, tiếng bánh xe nghiến trên đường, chiếc roi vung lên, vó ngựa và những cơn bão sấm sét.
Wilhelm Furtwängler đã mô tả Der Freischütz là “một khoảnh khắc tuyệt vời đối với nhân loại”. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính những tác động của vở opera này lên Wagner đã quyết định hướng đi của opera Lãng mạn Đức. Từ Agathe, ta thấy được hình bóng của những Eva, Elisabeth hay Lisa; ở Max là Siegfried; ác nhân Kaspar là chân dung của Alberich và Hagen còn vị ẩn sĩ thánh thiện, người sắp đặt mọi thứ đúng vào thời điểm cuối cùng là hình mẫu cho Gurnemanz. Trên hết tất cả, sự dàn dựng đầy trí tưởng tượng của Weber đã mở ra một thế giới thần thánh của Wagner, tạo nên một truyền thống opera Đức vĩ đại, thoát ra khỏi những khuôn mẫu của opera Ý trước đó.
Cobeo



