Thông tin chung
Tác giả: Franz Schubert.
Tác phẩm: Ngũ tấu piano “Cá hồi” giọng La trưởng, D. 667
Thời gian sáng tác: Năm 1819.
Độ dài: Khoảng 40 phút.
Cấu trúc tác phẩm: gồm 5 chương
Chương I – Allegro vivace (La trưởng)
Chương II – Andante (Pha trưởng)
Chương III – Scherzo: Presto (La trưởng)
Chương IV – Andantino – Allegretto (Rê trưởng)
Chương V – Allegro giusto (La trưởng)
Thành phần ngũ tấu: piano, violin, viola, cello, double bass.
Hoàn cảnh sáng tác
Franz Schubert đã dành mùa hè năm 1819 tại thị trấn Steyr đẹp như tranh ở thượng Áo, cách Vienna hơn 140km, nép mình trong dãy Alps, cùng với những người bạn của mình là Albert Stadler và Johann Michael Vogl. Không lâu sau, Stadler và Vogl đã giới thiệu nhà soạn nhạc trẻ với Sylvester Paumgartner, một doanh nhân địa phương và nghệ sĩ cello nghiệp dư, người có phòng khách là một trong những trung tâm hoạt động âm nhạc chính của thị trấn. Chỉ riêng sự hùng vĩ của vùng nông thôn miền núi cũng khiến Schubert choáng ngợp. Hơn thế nữa, tại phòng khách của Paumgartner, Schubert đã nhanh chóng trở thành trung tâm của sự chú ý. Đó có lẽ là mùa hè phong phú và hấp dẫn nhất trong cuộc đời của nhà soạn nhạc. Trong một bức thư gửi anh trai mình, Schubert viết: “Trong ngôi nhà nơi em ở có tám cô gái, hầu hết tất cả đều xinh xắn. Trong đó có một người chơi piano giỏi và hát nhiều bài hát của em”. Paumgartner là người hâm mộ Schubert nhiệt thành. Trong thư viện lớn của Paumgartner luôn có những bài hát của Schubert. Và chính Paumgartner là người đã gợi ý nhà soạn nhạc sáng tác một ngũ tấu dành cho piano, có thể chứa đựng giai điệu và các biến tấu của bài hát “Die Forelle” được sáng tác vào đầu năm 1817. Paumgartner cũng đưa ra đề xuất rằng, cấu trúc của nó có thể mô phỏng theo bản quintet piano của Hummel (được sắp xếp lại từ septet piano giọng Rê thứ của ông). Schubert bắt đầu làm việc với ngũ tấu khi vẫn còn ở Steyr và hoàn thành nó vào mùa thu năm đó ở Vienna.
Hummel đã sáng tác Septet piano số 1 của mình vào năm 1816 cho các nhạc cụ piano, flute, oboe, horn, viola, cello và double bass. Và sau đó, chính ông đã chuyển soạn lại tác phẩm này thành một quintet piano với sự tham gia của piano, violin, viola, cello và double bass. Đó cũng chính là thành phần nhạc cụ mà Schubert đã sắp xếp cho piano ngũ tấu “Trout” (Cá hồi) của mình. “Die Forelle” là một ca khúc dành cho piano và giọng hát ở giọng Rê giáng trưởng được Schubert sáng tác dựa trên bài thơ của Christian Friedrich Daniel Schubart. Sau khi hoàn thành, Schubert còn sáng tác thêm năm phiên bản của ca khúc, với những chỉnh sửa rất nhỏ sau mỗi lần. Nó đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng ngay sau khi ra đời, điều này lý giải việc Paumgartner muốn có một ngũ tấu piano được Schubert sáng tác dựa trên tác phẩm này.
Khác với tác phẩm của Hummel có 4 chương theo truyền thống, “Trout” của Schubert có năm chương nhạc. Toàn bộ bản nhạc mang một không khí vui tươi và trữ tình. Schubert đã sắp xếp khéo léo để toàn bộ các nhạc cụ toả sáng, kể cả những nhạc cụ bè trầm. Không một đám mây đen nào làm tối các trang nhạc. Về bản chất, bản nhạc là bốn mươi phút của niềm vui tuyệt đối, không thể kiềm chế và những giai điệu tuyệt vời. Mùa hè của những chuyến dã ngoại, tiệc tùng và hoà nhạc ngẫu hứng tại Steyr đã được Schubert truyền tải trọn vẹn trong “Trout”. Việc xuất hiện double bass thay cho violin 2 trong piano quintet truyền thống làm tăng sức mạnh của bè trầm với độ vang lớn hơn, tạo điều kiện cho Schubert tập trung phần piano vào âm vực giữa và cao của nhạc cụ, tạo ra một kết cấu trong suốt, rộng rãi hơn. Các chùm ba đi lên, được lấy từ phần đệm trong bài hát “Die Forelle” được sử dụng như một motif thống nhất trong toàn bộ tác phẩm, xuất hiện trong bốn chương nhạc (ngoại trừ chương Scherzo).
Phân tích
Chương I
Các chùm ba này mở đầu chương I với những nét lượn sóng nhấp nhô trên piano nâng đỡ giai điệu chơi đàn dây chuyển động chậm rãi hơn. Các chùm ba này còn xuất hiện liên tục sau đó. Chương nhạc được viết ở hình thức sonata nhưng cách xử lý cấu trúc của Schubert tự do hơn với những nhà soạn nhạc cổ điển trước đó như Joseph Haydn hay Wolfgang Amadeus Mozart. Ngay trong phần giới thiệu, Schubert đã có một sự chuyển giọng đầy táo bạo sang Pha trưởng, thay vì âm át Mi trưởng. Chỉ khi bắt đầu phần trình bày, âm nhạc mới được chuyển về giọng Mi trưởng. Việc đổi giọng bất thường này đã được Schubert sử dụng hợp lý trong toàn bộ chương nhạc, mang một không khí mới mẻ và tươi vui. Chẳng bao lâu sau, viola và cello thiết lập một nhịp đập để tạo lập một nền tảng mạnh mẽ cho những giai điệu rộng rãi của Schubert. Phần tái hiện bất ngờ được Schubert chuyển về hạ át âm và chủ đề thứ hai ở chủ âm mà hầu như không có sự sắp xếp lại nào. Việc “vi phạm” truyền thống Cổ điển này càng thành công tô điểm cho sự thoải mái và tự do của chương nhạc.
Chương II
Chương II xác định và thay đổi một chút các chất liệu âm nhạc du dương. Nó ở dạng hai đoạn đơn giản, mang tính đối xứng, được coi là một hình thức sonata không có phần phát triển. Các giai điệu nhẹ nhàng nổi lên từ violin viola và piano, với các giai điệu đối kháng của cello đã định hình trước một số bản song ca dây đẹp mê hồn của Schubert trong các tác phẩm thính phòng cuối cùng của ông. Phần hai của chương nhạc là phiên bản hoán vị của phần đầu tiên, được Schubert chuyển giọng một cách độc đáo nhưng rồi khép lại với cùng giọng Pha trưởng như khi mở đầu.
Chương III
Chương III là một khúc scherzo bắt đầu nổi bật với một nguồn năng lượng không ngừng nghỉ nhưng ẩn chứa một chút gì đó bất an. Phần trio đã xua tan tâm trạng này bằng cách sử dụng rất nhiều những nhịp điệu thường thấy trong âm nhạc dân gian Áo, điều phổ biến trong những tác phẩm của Schubert. Chương nhạc mang sự thay đổi rõ rệt nhất về cường độ trong toàn bộ tác phẩm.
Chương IV
Chương IV, không nghi ngờ gì là trung tâm của tác phẩm với chủ đề và các biến tấu. Cách tiếp cận của Schubert trong suốt các biến tấu là giữ nguyên chủ đề ít nhiều, tô điểm nó bằng những đường nét trang trí du dương hoặc đặt nó trong một khung cảnh được thay đổi. Schubert đã tập trung vào hoà âm đơn giản của giai điệu mở đầu bài hát (lặp lại dòng đầu tiên để tạo ra dạng hai đoạn), làm cơ sở cho sự gia tăng phức tạp của năm biến tấu sau đó. Chủ đề luân chuyển qua các thành viên khác nhau trong nhóm nhạc với phần đệm xung quanh ngày càng trở nên tích cực. Ba biến tấu đầu tiên tập trung vào giai điệu. Biến tấu thứ tư bất ngờ chuyển sang giọng thứ, cường độ chuyển dần từ fortissimo sang pianissimo thư thái. Biến tấu cuối cùng tập trung vào cây đàn cello đầy cảm động, có lẽ như một lời cảm ơn đặc biệt gửi đến Paumgartner. Ở phần cuối, sự trở lại của giai điệu mở đầu cũng lần đầu tiên gợi nhắc một hồi ức về phần đệm piano từ bài hát, với những hình gợn sóng đặc trưng của nó. Âm nhạc khép lại một cách lặng lẽ như khi nó bắt đầu.
Chương V
Chương cuối đơn giản và thú vị với những nốt nhạc đảo phách, có hình thức hai đoạn đối xứng, giống như chương II. Một lần nữa Schubert xây dựng hiệu ứng chuyển toàn bộ các chất liệu âm nhạc tạo nên chủ đề hai về giọng chủ trong phần kết. Sự phấn khích chi phối toàn bộ chương nhạc, cho đến khi mô hình chùm ba sôi nổi mở đầu tác phẩm quay trở lại để thống nhất và tạo nên một sự tuần hoàn nhất định cho toàn bộ tác phẩm.
Cũng giống như nhiều tác phẩm của Schubert, quintet piano này chưa bao giờ được xuất bản khi nhà soạn nhạc còn sống. Ông đã cố gắng gửi tác phẩm cho một số nhà xuất bản nhưng chỉ nhận về những lời từ chối. Peters của Leipzig đã trả lời bức thư của Schubert với tuyên bố rằng họ chỉ muốn tiến hành kinh doanh với các nhà soạn nhạc “quen thuộc”, chẳng hạn như Louis Spohr Spohr và Johann Nepomuk Hummel. “Trout” chỉ được xuất bản vào năm 1829. Thật đáng tiếc, lúc này nhà soạn nhạc đã qua đời một năm trước đó. Ngày nay, “Trout” đã trở thành một trong những tác phẩm thính phòng được yêu mến và dễ nhận biết nhất từng được viết, bởi vì, mặc dù dài nhưng hiếm khi có một khoảnh khắc nào đó mà không có thứ gì đó sôi động tuyệt vời để thưởng thức. “Trout” cung cấp cho chúng ta sự sâu sắc của âm nhạc thính phòng tuyệt vời nhất của Schubert, mang trong mình một ngọn lửa trìu mến, phản ánh một trong những mùa hè hạnh phúc nhất trong cuộc đời đầy rẫy bất hạnh của nhà soạn nhạc. Đúng như những gì Schumann đã nhận xét: “Không có âm nhạc nào ngoại trừ của Schubert là đáng chú ý về mặt tâm lý đối với sự phát triển và liên kết của các ý tưởng và ấn tượng về sự chuyển đổi logic mà nó truyền tải”.
Cobeo



