“Khi nói tiếng Tây Ban Nha, tôi trở thành một người phụ nữ; khi hát bằng ngôn ngữ ấy, tôi trở thành một nghệ sĩ và khi giờ phút cuối cùng đến, lời từ biệt của tôi cũng sẽ bằng tiếng Tây Ban Nha.” – Conchita Supervía

Conchita Supervía là một nghệ sĩ sở hữu vẻ đẹp và tài năng phi thường. Bạn bè và đồng nghiệp từng mô tả bà bằng vô vàn phẩm chất rực rỡ: cuốn hút, duyên dáng, rạng rỡ, tràn đầy sức sống, và trên hết, là một ca sĩ opera vĩ đại. Nhưng ánh hào quang ấy lại được xây dựng trên một nền tảng đầy trắc trở: từng trải qua một mối quan hệ tình cảm trước khi kết hôn, là mẹ đơn thân và ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Dẫu vậy, bà vẫn vươn lên trở thành một cá tính nghệ thuật mạnh mẽ, độc đáo không thể nhầm lẫn. Trong suốt những năm đầu thế kỷ 20, Conchita Supervía đã trở thành một trong những giọng mezzo-soprano kiệt xuất, người tiên phong đưa các vở opera Gioachino Rossini trở lại sân khấu với sức sống mới, tinh thần mới và cách diễn giải đầy thuyết phục. Cuộc đời bà, dù ngắn ngủi, nhưng vẫn mang đủ chất liệu để dựng thành một bộ phim đầy cảm hứng về một người phụ nữ đã cống hiến hết mình cho nghệ thuật opera.

Conchita Supervía sinh ngày 9/12/1895 tại Barcelona và có tên thánh là María de la Concepción Supervía Pascual. Mẹ cô, bà Carmen là người Andalusia còn cha, ông Antonio có nguồn gốc Catalan. Ngôi nhà cô bé nằm gần một con suối. Conchita đã trải qua sự kiện mà sau này có ảnh hưởng đến cả cuộc đời mình: cô tìm thấy một con rùa. Từ đó trở đi, con rùa trở thành biểu tượng may mắn gắn bó với Conchita suốt đời. Từ nhỏ, Conchita đã được gửi theo học tại Colegio de las Damas Negras, một tu viện địa phương, nơi có chất lượng giáo dục nổi trội. Tại đây, âm nhạc là một bộ môn quan trọng và sơ Sainte Reine ngay lập tức nhận thấy năng khiếu của Conchita. Bà đã để cô bé tham gia vào tất cả các buổi biểu diễn của trường. Và chính tại một buổi như vậy, nhà phê bình âm nhạc nổi tiếng Rafael Moragas (người sau này trở thành giám đốc nghệ thuật Nhà hát Liceu) đã tình cờ có mặt và trầm trồ thán phục tài năng và vẻ ngoài xinh đẹp rạng rỡ của Conchita. Moragas tiên đoán cô sẽ có một tương lai tươi sáng trong âm nhạc. Nhận thấy tiềm năng của con gái mình, bà Carmen, người có cá tính mạnh mẽ và gắn bó với con gái mình trong suốt đời, đã thuê thầy dạy nhạc, trong đó có những người là giảng viên tại Conservatori Superior de Música del Liceu, một trong những nhạc viện nổi tiếng nhất Tây Ban Nha, về nhà trong các kỳ nghỉ hè để nâng cao trình độ cho Conchita. Trên thực tế, Conchita chưa hề học tại ngôi trường này.

Tài năng của Conchita đã thu hút sự chú ý của Joan Goula i Soley, một nhân vật lớn trong đời sống âm nhạc xứ Catalonia. Trong giai đoạn này, ông định cư tại Buenos Aires nhưng đến Barcelona để chuẩn bị cho mùa diễn opera sắp tới tại Teatro Colón mới khánh thành năm 1908. Sau khi nghe cô bé hát, Goula quyết định mời Conchita tham gia vào cuộc phiêu lưu vượt đại dương, trong đoàn có cả tenor nổi tiếng Francesc Viñas – người được chính Goula phát hiện. Trước khi lên đường, Conchita đã có buổi biểu diễn của riêng mình tại Barcelona, trong đó có các trích đoạn từ Samson et Dalila (Camille Saint-Saëns) và Aida (Giuseppe Verdi). Cô bé chưa đầy 15 tuổi đã lên tàu biển để tới Argentina vào tháng 9/1910. Năm đó, thế giới (và có lẽ cả Conchita) đều ngước nhìn lên bầu trời, lo lắng về ý nghĩa của ngôi sao chổi Halley rực lửa đang xuất hiện. Dưới ánh sao ấy, một tài năng lớn sắp chào đời, nhưng lúc này vẫn chỉ là cô bé chạy tung tăng trong Teatro Colón, khám phá mọi ngóc ngách, trong khi các chuyên viên hóa trang phải vật lộn để biến cô thành một bà mẹ Mère Marceau trong tác phẩm Bianca de Beaulieu của nhà soạn nhạc người Argentina César Stiattesi. Sau những buổi biểu diễn tại đây trong tháng 10 và 11, Goula, người cũng sở hữu một công ty opera riêng, đã mời cô hát trong những vai nhỏ, bao gồm Zulima trong Los amantes de Teruel (Tomás Bretón, người đồng hành cùng đoàn), nàng tiên cá Circe (Ruperto Chapí) và Lola (Cavalleria Rusticana, Pietro Mascagni). Đó là một trong những khoảnh khắc hạnh phúc nhất trong cuộc đời Supervía – như bà thường kể lại trong các cuộc phỏng vấn nhiều năm sau.

Sau khi trở về Barcelona, dưới sự giúp đỡ của Moragas và người bạn thân của ông, nhà phê bình Josep Maria Pascual, Conchita đã được tham gia trong chương trình biểu diễn thường niên gây quỹ cho Hiệp hội Báo chí Barcelona, tổ chức vào ngày 19/12/1910 tại Teatre Principal, Barcelona, quy tụ hầu hết các ngôi sao opera tại Tây Ban Nha thời bấy giờ. Với aria O aprile fiorero (phiên bản tiếng Ý của Printemps qui commence) trích từ Samson et Dalila, Conchita đã thu hút được sự chú ý. La Vanguardia, một trong những nhật báo lớn nhất Tây Ban Nha, khi đưa tin về buổi diễn đã viết: “Giọng hát của cô bé đẹp, rộng rãi, được kiểm soát hoàn hảo đã chinh phục khán giả ngay từ giây phút đầu tiên, khiến họ dành cho cô bé những tràng pháo tay nồng nhiệt”. Nhận thức được Tây Ban Nha không phải mảnh đất lý tưởng để con gái mình phát triển, tài năng của Conchita phải được dạy dỗ và toả sáng ở cái nôi của nghệ thuật opera, bà Carmen đã quyết định đưa cô con gái của mình tới Rome. Với thư giới thiệu của Goula, Conchita đã được giảng viên Alfredo Martino nhận làm học sinh. Nhận thấy tài năng to lớn của cô, Martino đã giới thiệu Conchita tới tất cả những ông bầu nghệ thuật nổi tiếng nhất Rome. Và Conchita nhanh chóng nhận được những lời mời cộng tác. Ngày 15/4/1911, cô có buổi ra mắt khán giả Ý với vai Casilda (Ruy Blas, Filippo Marchetti) tại Lecce, diễn cùng soprano Rosalia Garitano (người từng hát cùng cô ở Buenos Aires) và tenor trẻ Bernardo de Muro, một học sinh khác của Martino. Cô đồng thời cũng đảm nhận một vai diễn sẽ trở thành biểu tượng trong sự nghiệp mình: Carmen (Carmen, Georges Bizet). Dù nghe có vẻ khó tin, nhưng khi ấy Conchita chỉ mới 15 tuổi – sự trẻ trung ấy rốt cuộc lại trở thành lợi thế khiến công chúng yêu mến. La Provincia de Lecce viết vào ngày 28/5: “Cô đã khẳng định những tố chất hiếm thấy qua vai Carmen; đó là một Carmen ngọt ngào, trẻ trung, tươi mới, đầy tự tin, truyền tải qua ánh mắt và cử chỉ. Tất cả cảm xúc giằng xé của người phụ nữ gypsy đam mê và lầm lạc khiến người khác say mê đến phạm tội”. Đây là lần đầu công chúng ghi nhận đặc điểm nổi bật của Supervía: cá tính mạnh mẽ, bản năng sân khấu thiên phú có thể thu hút trọn vẹn sự chú ý từ khán giả.

Sau vai chính trong Mignon (Ambroise Thomas) tại Teatro Nuova Fenice, Osimo, Supervía trở về quê nhà nghỉ hè. Và tất cả là sự sắp xếp kỳ diệu của số phận. Richard Strauss đang tìm kiếm một mezzo-soprano cho vai Octavian trong lần ra mắt Der Rosenkavalier tại Rome. Ông nhờ soprano Hariclea Darclée, người sẽ hát trong Marschallin tìm kiếm người phù hợp. Darclée trong lúc ghé thăm Barcelona đã hỏi ý kiến Pascual về việc này. Nghĩ ngay đến Supervía, lúc này cũng đang ở thành phố, ông đã giới thiệu hai người với nhau. Sau khi nghe người đồng nghiệp trẻ tuổi hát trong hai giờ, Darclée đã hoàn toàn bị chinh phục. Và ngày 14/11/1911, tại Teatro Costanzi, Rome, Supervía đã có màn ra mắt hoàn hảo trong Octavian. Đây có lẽ là lần duy nhất trong lịch sử, Octavian được một ca sĩ có tuổi đời thấp hơn nhân vật thể hiện. Supervía mới chỉ 16 tuổi trong khi Octavian là 17. Với danh tiếng ngày một vươn xa, Supervía tiếp tục được mời diễn trong Adalgisa (Norma, Vincenzo Bellini) và Ortrud (Lohengrin, Richard Wagner). Năm 1912 đánh dấu một bước ngoặt khi lần đầu Supervía hát tại Liceu, nhà hát quê hương. Ngày 10/4, cô hát trong Dalila. Công chúng, những người biết rõ tuổi đời của cô, đến xem với tâm thế tò mò không biết Supervía sẽ xử lý một vai quan trọng về cả thanh nhạc lẫn diễn xuất ra sao. Nhưng ngay từ lần xuất hiện đầu tiên, khán phòng bùng nổ. Nhà phê bình của La Veu de Catalunya viết ngày 12/4: “Tôi đến để nghe một cô bé hát và rời đi với tình yêu một người phụ nữ”. Còn tạp chí Papitu ngày 17/4 bình luận: “Cô ấy có một giọng hát rực rỡ, dễ mến, kịch tính, diễn xuất rất nghệ thuật. Tóm lại: 16 tuổi, với 32 năm kinh nghiệm sân khấu”. Một hiện tượng mang tên Supervía đã ra đời và Liceu sẽ mãi mãi yêu quý Supervía.

Cuộc Thế chiến thứ nhất nổ ra, Supervía ở lại Barcelona và gắn bó với Liceu trong nhiều vở diễn, trong đó đặc biệt phải nhắc đến Rosina (Il barbiere di Siviglia, Rossini). Cô đã vai này trở về với giọng mezzo-soprano như Rossini yêu cầu, thay vì để các soprano đảm nhận theo thói quen đương thời. Tháng 11/1915, cô tới Mĩ theo lời mời của Cleofonte Campanini, giám đốc âm nhạc của Chicago Grand Opera Company. Tại đây, cô đã hát trong Werther, La Navarraise (đều của Jules Massenet), Mignon và Carmen. Supervía trở lại châu Âu tháng 1/1916, khi lục địa còn chìm trong chiến tranh. Cô đến Ý, tham gia một số buổi diễn từ thiện, và tại đây, cô gặp Francesco Santamaria, một luật sư xứ Naples đang phục vụ trong quân đội. Cô đã đem lòng yêu anh say đắm. Tháng 10/1918, Supervía sinh con trai Giorgio, kết quả của mối tình với Santamaria. Trên thực tế, hai người bọn họ chưa bao giờ kết hôn. Quan hệ hai người bị ảnh hưởng vì Santamaria không muốn trở thành “chồng của một ca sĩ nổi tiếng” và quan hệ tồi tệ giữa anh với bà Carmen. Carmen tìm mọi cách để thuyết phục Supervía trở lại với sự nghiệp sân khấu và bà đã thành công. Sau khi Giorgio chào đời, Supervía hoạt động nghệ thuật ít hơn. Năm 1921, bà biểu diễn tại nhiều thành phố của Ý, nổi bật là lần đầu hát vai Angelina trong La Cenerentola (Rossini) – vai diễn sẽ còn mãi gắn liền với tên tuổi Supervía.

Trong thời gian này, Supervía nhận ra rằng chất giọng của mình không phù hợp với những vai mezzo-soprano đòi hỏi sức mạnh như Amneris, Eboli hay Azucena mà nó hoàn toàn tương thích với những gì đòi hỏi tính linh hoạt, kỹ năng chạy nốt hoa mĩ và quyến rũ – những tố chất hoàn hảo đưa bà đến hành trình chinh phục những vở opera của Rossini, vốn rất ít được trình diễn trong giai đoạn này. Ngày 7/2/1925, một cột mốc nữa đã đến với Supervía. Bà lần đầu ra mắt tại La Scala với vai Hänsel trong Hänsel und Gretel (Engelbert Humperdinck). Tại đây, Supervía đã gặp nhạc trưởng Vittorio Gui – người có vai trò quyết định đưa bà đến công cuộc phục hưng Rossini. Ngày 26/11/1925, dưới sự chỉ huy của Gui, Supervía đã có được thành công vang dội trong Isabella (L’Italiana in Algeri, Rossini) tại Teatro Regio di Torino. Cùng với La Cenerentola, bà đã mang “hai viên ngọc” này đi khắp châu Âu. Cũng giống như nhiều ca sĩ khác, Supervía rất mê tín. Bà có thói quen sưu tập, búp bê, các con voi và đặc biệt là rùa – loài vật được coi biểu tượng may mắn của Supervía được chế tác từ các nguyên liệu đắt tiền như ngà voi, ngọc bích hay pha lê. Bà luôn đeo một cây trâm bạc hình con rùa có vỏ là viên kim cương to, kể cả khi trang phục của nhân vật không cho phép thì bà cũng cố gắng ẩn nó đi chứ không bao giờ tháo ra.Biện minh cho sở thích này, Supervía cho biết: “Voi và rùa là những loài động vật nặng nề, chậm chạp, tự tin, không khiến ai nghi ngờ nhưng luôn đến được nơi chúng muốn đến”. Vì lý do đó, Supervía đã sáng lập một hội đặc biệt gọi là Hội Rùa mà bà là hội trưởng. Trong các chuyến lưu diễn khắp thế giới, bà thường tặng bạn diễn, các nhà phê bình âm nhạc và những người hâm mộ đặc biệt của mình những chú rùa nhỏ xinh quý giá, được một thợ kim hoàn ở Milan chế tác riêng cho bà. Những chú rùa đó chủ yếu được làm bằng bạc và vàng – để dành cho các nhân vật cao cấp.

Trong những năm cuối thập niên 20, Supervía mở rộng sang các chương trình hoà nhạc. Tại đó, bà hát các trích đoạn trong opera, zarzuela và các ca khúc xứ Calatonia. Supervía cũng mở rộng danh mục biểu diễn của mình bằng các vai trong L’heure espagnole (Maurice Ravel), một vài vở của Wolfgang Amadeus Mozart (Così fan tutte, Le nozze di Figaro) nhưng vẫn trung thành với Rossini. Supervía mở đầu năm 1930 bằng một chiến thắng vang dội tại Opéra Comique Paris trong Carmen, được ngợi khen là Carmen có cá tính nổi bật nhất trên sân khấu này. Ngày 28/3/1930, Supervía lần đầu ra mắt khán giả London, thành phố sẽ gắn liền với cuộc đời bà trong những năm sau này, bằng một chương trình hoà nhạc tại Queen’s Hall. Tại đây, bà quen doanh nhân trong ngành gỗ Benjamin Rubenstein và kết hôn với ông vào năm 1931, gia nhập giới thượng lưu Anh. Để có thể tổ chức đám cưới, bà đã phải cải từ đạo Thiên Chúa sang Do Thái. Năm 1932, Supervía quay trở lại nước Mĩ, biểu diễn tại New York và Chicago. Mặc dù đã có những đàm phán nhưng bà chưa một lần hát tại Metropolitan Opera, điều mà nhà âm nhạc học Robert Tuggle gọi là “một trong những sai lầm lịch sử nghiêm trọng nhất của nhà hát này”.

Trở lại châu Âu, Supervía đã có một chuyến ghé thăm ngắn đến Barcelona để tham dự một sự kiện vô cùng đặc biệt đối với bà: ngày 2/11, Colegio de las Damas Negras đã tổ chức một buổi lễ nhỏ nhằm kỷ niệm 50 năm giảng dạy âm nhạc của sơ Sainte Reine – chính là người đã phát hiện ra tài năng của bà. Supervía đã có mặt tại đó và bà biểu diễn tại sân khấu nơi bà lần đầu tiên bước lên hát trong cuộc đời mình. Năm 1933, bà trở lại Mĩ lần cuối cùng, thực hiện chuyến lưu diễn tại nhiều thành phố với người bạn diễn thân thiết, nghệ sĩ piano Ivor Newton. Newton sau này đã thuật lại rất nhiều kỷ niệm về người bạn vĩ đại của mình. Supervía cũng tới Canada và Cu Ba. Trở về châu Âu, Supervía hát tại Paris và Florence. Đó là những chuyến đi xa cuối cùng của bà, người đã bắt đầu ổn định cuộc sống của mình tại London. Trong những năm sau, Supervía không bao giờ rời khỏi nước Anh nữa. Bà bận rộn với các chương trình tại Royal Albert Hall, Aeolian Hall, London Symphony Hall và tham gia các lễ hội âm nhạc như PROMS.

Năm 1934, một cuộc tranh cãi lớn nổ ra xung quanh lần ra mắt được trông đợi của Supervía tại Royal Opera House, Covent Garden. Nhà hát đề xuất hai vở: La Cenerentola và Carmen, nhưng không báo trước rằng cả hai sẽ được diễn trong cùng một thời gian. Supervía lập tức phản hồi rằng bà không thể đồng thời tập luyện hai tác phẩm đòi hỏi những kỹ thuật thanh nhạc quá khác biệt và bà từ chối. Sau một cuộc tranh luận căng thẳng kéo dài, với những phát ngôn công khai từ cả hai phía trên báo chí, cuối cùng người ta thống nhất rằng hai vở sẽ được diễn vào hai năm khác nhau. Vậy là ngày 14/6/1934, Supervía chính thức ra mắt tại Covent Garden với La Cenerentola. Bà đạt được một chiến thắng rực rỡ, đến mức được khán giả yêu cầu hát lại trích đoạn “Non più mesta”. Sau một chuyến lưu diễn dài ngày trên khắp nước Anh, Supervía trở về London để tham gia trong Carmen. Nhưng một vấn đề nữa lại nảy sinh. Bà kiên quyết không hát các đoạn recitativo (được thêm vào sau khi nhà soạn nhạc qua đời), mà muốn khôi phục lại các đoạn hội thoại nói như nguyên gốc, điều không được nhạc trưởng Thomas Beecham, người hiện tại rất có uy tín trong đời sống âm nhạc nước Anh, tán thành. Beecham giận dữ: “Không có thứ gì trên đời có thể khiến tôi chỉ huy vở opera này vào tối mai”. Geoffrey Toye, giám đốc điều hành của Covent Garden cố gắng hoà giải còn Supervía thì vẫn bình thản: “Không có gì đâu. Bạn nên thấy những cảnh tôi từng chịu đựng trong các buổi tập ở nhà hát opera Ý!”. Beecham cuối cùng vẫn phải chấp nhận, điều chưa ai từng chứng kiến trước đó.

Cũng trong năm này, Supervía tham gia bộ phim duy nhất trong cuộc đời bà Evensong của đạo diễn người Anh Victor Saville (tác phẩm lấy cảm hứng từ cuộc đời Nellie Melba). Trong phim, bà đã hát một số trích đoạn mà bà chưa từng thể hiện trước đó như Quando me’n vo (La Bohème, Giacomo Puccini), Tus ojillos negros (Manuel de Falla) và Carceleras (Las hijas del Zebedeo, Chapí), tất cả tạo nên một tài liệu quý giá cho thấy năng lực diễn xuất và khả năng truyền tải quyến rũ đặc biệt của Supervía. Đó cũng là những khoảnh khắc âm nhạc cuối cùng trong cuộc đời Supervía, lúc này đã ngoài 40 tuổi. Các bác sĩ đã cảnh báo: “Cô quá lớn tuổi để sinh con lần nữa”. Nhưng trước áp lực từ người chồng thứ hai Rubenstein, bà đã mang thai. Tưởng như mọi chuyện suôn sẻ, cho đến khi Supervía phải nhập viện tại Queen Charlotte’s Hospital, London vào ngày 29/3/1936. Đứa bé đã chết lưu vào ngày 30 tháng 3 và chỉ vài giờ sau, chính bà cũng qua đời vì nhiễm trùng. Supervía và cô con gái của mình được chôn cất bên nhau trong ngôi mộ được kiến trúc sư Edwin Lutyens thiết kế tại nghĩa trang Liberal Jewish Cemetery, Willesden, London. Trên đó được trang trí bằng những chú rùa. Nhà văn nổi tiếng chuyên viết bằng tiếng Calalan Josep Maria de Sagarra đã chia sẻ: “Lụa là, hoa violet, san hô, ngọc trai ánh bạc và niềm hoan lạc – bà chứa đựng tất cả nỗi đau và dư vị của cuộc sống. Bà biết cách thắp lên mùa hè giữa mùa đông và rót hương rượu tươi mới nhất vào những giai điệu cũ kỹ”.

Supervía sở hữu giọng ngực mạnh mẽ kết hợp với quãng cao linh hoạt có thể dễ dàng xử lý các đoạn nhạc hoa mỹ, cùng với đó là khả năng diễn giải có cá tính tuyệt vời và phong cách lôi cuốn. Vào thời kỳ mà các vai chính trong opera của Rossini vốn được dành cho contralto và mezzo-soprano thì sự thiếu vắng chất giọng này vào cuối thế kỷ 19 đã khiến soprano thay thế và áp đặt và thậm chí bóp méo thành những phiên bản mà có lẽ bản thân Rossini không hề mong muốn. Supervía bằng chất giọng độc đáo của mình đã tìm lại bản ngã của chúng, trở thành người tiên phong cho việc đưa Rosina, Angelina hay Isabella trở về thành các vai diễn của mezzo-soprano. Bà đã mở đường cho một loạt các danh ca sau này như Teresa Berganza, Marilyn Horne, Frederica von Stade, Agnes Baltsa và Cecilia Bartoli. Tất nhiên, không phải giọng hát của Supervía không có nhược điểm. Rất nhiều người khó chịu với cách rubato của bà, nó nhanh và hẹp của một cách khác thường. Nó rất khác lạ với kiểu vibrato thường thấy vào thời điểm đó, thường được nghe với phong thái mượt mà hơn. Nhà phê bình Philip Hope-Wallace dè bỉu: “mạnh như tiếng lạch cạch của đá trong ly hoặc tiếng xúc xắc trong hộp”. Tuy nhiên, với những người từng chứng kiến Supervía hát trực tiếp trên sâu khấu đánh giá rằng, micro đã phóng đại tiếng rung của bà trong phòng thu.

Khi Gregor Piatigorsky lần đầu gặp Supervía, ông đã thú nhận rằng: “Tôi đã bị choáng ngợp. Mọi thứ về cô ấy đều tỏa sáng. Không chỉ đồ trang sức và váy áo, mà bản thân cô ấy cũng thực sự toả sáng”. Supervía đã mãi mãi ra đi ở tuổi 41 khi mà giọng hát và chân dung bà vẫn còn “toả sáng”, là ngôi sao bất khả xâm phạm trong địa hạt của riêng mình. Và như lời của cậu con trai Giorgio nghẹn ngào trong lời tiễn biệt: “Mẹ sẽ không chịu đựng nổi cảnh già nua. Chúng ta nên biết ơn vì điều đó. Mẹ sẽ ghét việc đánh mất vẻ ngoài và giọng hát của mình. Mẹ không thể sống trong bóng tối”. Giọng hát của bà sẽ không bao giờ bị mất đi, nó vẫn sẽ toả sáng trong tâm trí những người say mê opera.

Cobeo