“Khi bạn tin vào một điều nào đó, bạn có thể dịch chuyển cả núi.” – Isaac Stern

Isaac Stern được coi là một trong những nghệ sĩ violin vĩ đại nhất thế kỉ 20 cùng với những tên tuổi lớn khác như David Oistrakh, Jascha Heifetz, Yehudi Menuhin hay Nathan Milstein. Nổi tiếng với âm sắc ấm áp, giàu biểu cảm và kỹ thuật chính xác, Stern đã mang đến chiều sâu cảm xúc vô song trong rất nhiều tác phẩm. Các buổi biểu diễn của ông cùng vô số dàn nhạc và nhạc trưởng hàng đầu đã chinh phục khán giả trên toàn thế giới, và với vai trò là một người tận tâm ủng hộ giáo dục âm nhạc, ông đã dìu dắt nhiều nghệ sĩ đàn dây thế hệ sau. Nhưng ảnh hưởng của ông còn vượt xa hơn thế rất nhiều. Vào những năm 1960, ông đã thành công trong việc lãnh đạo một chiến dịch nhằm giải cứu Carnegie Hall khỏi bị phá dỡ, qua đó bảo đảm vị thế của nó như một công trình biểu tượng văn hóa. Sự cống hiến của Stern cho nghệ thuật, cùng với khối lượng lớn các bản thu âm và những chuyến lưu diễn khắp thế giới, đã củng cố vị thế của ông như một biểu tượng văn hóa, với tầm ảnh hưởng thật khó có thể đong đếm được. Đã có rất nhiều bài báo khen ngợi ông, vô vàn mĩ từ dành tặng ông nhưng Stern chỉ coi mình là “một người chơi đàn violin”, đơn giản và bình dị.

Isaac Stern sinh ngày 21/7/1920 tại Kremenets, Ba Lan (nay thuộc Ukraine) trong một gia đình Do Thái nhưng không theo đạo: “Gia đình Do Thái truyền thống không tồn tại đối với chúng tôi”. Ông cho biết: “cha tôi, Solomon là một người nghiêm nghị, sinh ra ở Kiev. Có những bức ảnh chụp ông khi còn trẻ, bảnh bao với bộ râu dê, đi đôi ủng cao, mặc chiếc áo lụa mở cổ và cầm giá vẽ cùng cây cọ. Ông xuất thân từ tầng lớp trung lưu khá giả, cũng như mẹ tôi, Clara, người kém ông bảy tuổi”. Trong tuần lễ Isaac chào đời, mẹ cậu nhận được học bổng thanh nhạc tại Nhạc viện Saint Petersburg. Tuy nhiên, cuộc nội chiến Nga nổ ra và cả gia đình đã di cư tới Mĩ: “Sau nhiều tháng rong ruổi qua Siberia và Thái Bình Dương, chúng tôi đến San Francisco, nơi anh trai của mẹ tôi đã định cư vài năm trước đó. Lúc đó tôi mới mười tháng tuổi”. Tuổi thơ Isaac lớn lên cùng với âm nhạc khi ông Solomon đệm piano cho bà Clara hát. Nhạc cụ đầu tiên của cậu là piano chứ không phải violin: “Tôi không hề trở về nhà sau một buổi hoà nhạc và nài nỉ xin một cây đàn violin. Tôi cũng không bắt đầu, khi mới năm hay sáu tuổi, chơi những giai điệu trên đàn piano. Không có gì cả; không có gì bí ẩn hay lãng mạn đến thế”. Mọi thứ đến với Isaac thật đơn giản: “Bạn tôi, Nathan Koblick, đang chơi violin; vì vậy tôi cũng muốn chơi violin”. Không ai còn nhớ người thầy violin đầu tiên của nghệ sĩ vĩ đại là ai và ông có được cây đàn violin đầu tiên như thế nào. Những gì còn lại trong ký ức của Stern là: “Những giáo viên đó, không ai trong số họ thực sự hiệu quả, đều nhận thấy tôi đang tiến bộ vượt quá khả năng dạy dỗ của họ, với tốc độ nhanh hơn họ có thể theo kịp. Tôi nhất quyết tiếp tục học violin, không phải vì tôi nghĩ mình có năng khiếu âm nhạc mà vì Nathan Koblick vẫn đang chơi”. Rõ ràng, những người say mê violin trên thế giới nợ Koblick một lời cảm ơn chân thành.

Một người giàu có thán phục trước tài năng chơi nhạc của cậu bé đã tài trợ tiền để Isaac có thể theo học violin tại Nhạc viện San Francisco khi cậu lên 8 tuổi với Robert Pollak, người được coi là “người thầy âm nhạc tử tế đầu tiên”. Isaac nhanh chóng thể hiện tài năng và trở thành concertmaster của dàn nhạc nhạc viện. Cậu đã có lần biểu diễn cùng nhà soạn nhạc Ernest Bloch: “Một trong những bản nhạc ông chỉ huy, với tôi là concertmaster, là bản Concerto Grosso của ông. Tôi mặc quần đùi và khi ngồi, chân tôi không chạm sàn”. Khi 10 tuổi, Isaac nhận ra cậu có thể làm nhiều thứ với violin mà không cần học từ bất cứ thầy giáo nào: “Tôi di chuyển cây vĩ theo những cách mới; cảm nhận ngón tay mình trên các dây đàn; tạo ra những sắc thái âm thanh khác nhau”. Ngày 28/4/1931, cậu bé đã có chương trình biểu diễn đầu tiên của mình. Ngoài Pollak, trong thời gian này, Isaac còn theo học Louis Persinger, người từng là thầy của Menuhin và Ruggiero Ricci. Tuy nhiên, Naoum Blinder, concertmaster của San Francisco Symphony, thầy giáo của Isaac trong những năm 1932-1935 mới là người được cậu kính trọng và có ảnh hưởng lớn nhất: “Ông đã dạy tôi cách như thế nào để tự học và đó là điều quan trọng nhất mà một người thầy có thể truyền đạt lại cho học sinh của mình”. Ngày 18/2/1936, Stern lần đầu tiên biểu diễn cùng dàn nhạc khi chơi Concerto violin số 3 của Camille Saint-Saëns dưới sự chỉ huy của Pierre Monteux và San Francisco Symphony. Sau đó là sự xuất hiện cùng Otto Klemperer và Los Angeles Philharmonic trong Concerto violin của Pyotr Ilyich Tchaikovsky.

Năm 17 tuổi, Stern có màn ra mắt khán giả New York trong một chương trình tại Toà thị chính. Dù rằng nổi tiếng từ khá sớm nhưng Stern chưa bao giờ được coi là thần đồng như Menuhin. Các bài bình luận chỉ dừng ở mức coi chàng trai trẻ là một tài năng triển vọng. Olin Downes viết trên New York Times, đã ca ngợi “mức độ kỹ thuật và lối chơi đầy nhiệt huyết, thẳng thắn” của anh, nhưng phàn nàn “anh ấn vĩ quá mạnh và rung quá ít”, và rằng anh thường xuyên có âm sắc gắt ở các quãng cao. Năm 1984, Stern chia sẻ với Times: “Khi những bài phê bình được đăng, tôi đã bị sốc. Tôi nhớ mình đã lên một trong những chiếc xe buýt hai tầng ở New York và ngồi trên đó suốt năm tiếng, nghĩ về tương lai của mình. Liệu tôi có nên nhận một công việc an toàn làm concertmaster của một dàn nhạc? Tôi đã có lời mời. Tôi không biết phải làm gì. Cuối cùng tôi tự nhủ: Mặc kệ, tôi muốn chơi!”. Năm 1939, ông bầu đầy quyền lực Sol Hurok trở thành người đại diện cho Stern và đã biến anh trở thành một trong những nghệ sĩ bận rộn nhất thế giới. Stern luôn coi Hurok như người cha thứ hai của mình. Phải đến buổi biểu diễn đầu tiên của Stern tại Carnegie Hall vào ngày 8/1/1943, tài năng của Stern mới được công nhận. Virgil Thomson đã ca ngợi trên New York Herald Tribune: “một trong những nghệ sĩ violin bậc thầy của thế giới”. Nghệ sĩ piano đệm cho Stern trong đêm hôm đó là Alexander Zakin, sau này trở thành cộng sự thân thiết nhất của anh, hợp tác cho đến năm 1977. Trong Thế chiến thứ hai, Stern bị từ chối nghĩa vụ quân sự vì bàn chân bẹt. Sau đó, anh gia nhập Tổ chức Dịch vụ Thống nhất và biểu diễn cho quân đội Mĩ. Chiến tranh kết thúc, Stern liên tục biểu diễn, lên tới 120 buổi/năm, tại Mĩ, châu Âu và Nam Mĩ. Tuy nhiên, sau này, Hurok cho biết ông ước gì mình có thể kiềm chế được ham muốn được liên tục xuất hiện trên sân khấu của Stern, cũng như sở thích tham gia vào các hoạt động âm nhạc và chính trị: “Stern là người không biết nghỉ ngơi. Tôi đã cầu xin cậu ấy đừng chơi nhiều nữa. Tôi nói với ông ấy: “càng chơi ít, cậu càng chơi được lâu”. Điều đó chẳng có ích gì. Khi không chơi violin, cậu ấy chỉ nghe điện thoại. Tôi muốn loại bỏ điện thoại. Nó sẽ kéo dài thêm 10 năm tuổi thọ cho cậu ấy”.

Năm 1944, Stern có bản thu âm đầu tiên của mình, cùng với hãng Columbia. Nhiều đĩa nhạc của Stern từ cuối thập niên 1940 vẫn còn được lưu hành, và chúng cho thấy một cách mạnh mẽ lý do vì sao ông đã làm cả thế giới âm nhạc chấn động. Điều lập tức gây ấn tượng là sức mạnh phi thường của ông, một cường độ không ngừng nghỉ bắt nguồn từ niềm vui thuần túy trong việc tạo ra âm nhạc, hiện ra ngay từ những âm thanh đầu tiên. Đây là lối chơi tươi mới, không cầu kỳ, tuôn chảy tự nhiên như hơi thở. Nhịp điệu mạnh mẽ không thể cưỡng lại, tạo nên một nguồn năng lượng tiềm ẩn, rung động ngay cả trong những đoạn trữ tình. Cách ông tiếp cận nhạc cụ thì rộng mở và táo bạo, đặc trưng với cách phát âm rõ ràng, sắc nét và những cú kéo vĩ mạnh mẽ. Âm thanh thì dữ dội và đầy đặn đến mức đáng sợ, nhưng vẫn tập trung rõ nét nhờ rung nhanh và hẹp. Bản thân kỹ thuật không phải điều Stern quan tâm nhiều: “Kỹ thuật là thứ phải được coi như hiển nhiên. Kỹ thuật nghĩa là khả năng chơi các nốt nhanh và chính xác. Kỹ thuật quyết định bạn sẽ tiến xa đến đâu, nhưng kỹ thuật và gu thẩm mỹ kết hợp chỉ mới là điều kiện cần để làm ra âm nhạc”. Điều thực sự quan trọng với ông là quan điểm về âm nhạc, là khát vọng “dùng violin để tạo ra âm nhạc, chứ không dùng âm nhạc chỉ để chơi violin”.

Vào thời đó, sự nhạy cảm bẩm sinh của Stern với phong cách âm nhạc và bối cảnh lịch sử là điều hiếm có. Trong tiết mục Cổ điển, sự nhấn nhá gọn gàng, chính xác và phong thái thẳng thắn của ông cho phép âm nhạc tự cất tiếng. Với các tác phẩm lãng mạn, ông tránh lối chơi portamento (luyến láy) và rubato (buông lơi nhịp điệu) cá nhân. Với Stern, ý nghĩa của chủ nghĩa Lãng mạn nằm ở khí chất sôi nổi và cách diễn đạt mạnh mẽ, chứ không ở những màn phô diễn cảm xúc ủy mị. Nếu như ở Heifetz là một nền tảng kĩ thuật đầy kích thích; Oistrakh là sự chuẩn mực đáng khâm phục; Menuhin tinh tế và tài hoa; Milstein là một tổng thể hài hoà với Stern, ông tiếp cận tác phẩm một cách trực diện hơn. Ông nói: “Ngày nay, nghệ sĩ nghiêm túc cố gắng trình bày nghệ thuật của mình theo cách đơn giản nhất có thể. Chúng ta quan tâm nhiều hơn đến việc diễn giải trung thực các tác phẩm quy mô lớn. Nghệ sĩ đương đại bày tỏ cảm xúc của mình thông qua âm nhạc, thay vì lọc âm nhạc qua cảm xúc của mình”. Sự đồng cảm của Stern với âm nhạc thế kỷ 20 là rất lớn: ông đã trình diễn lần đầu tại Mỹ các tác phẩm của Béla Bartók, Paul Hindemith, William Schuman, Leonard Bernstein và nhiều tên tuổi khác. Thực tế, mọi sở thích của ông đều dựa trên những cân nhắc thuần túy âm nhạc; các tác phẩm chỉ đơn thuần là phương tiện trình diễn kỹ thuật hầu như không hấp dẫn ông: “Điều mang lại cho tôi hạnh phúc và sự mãn nguyện là chơi những loại nhạc có thể giải quyết mọi vấn đề của con người: Bach, Mozart, Beethoven”. Mối quan tâm của Stern với các giá trị âm nhạc còn thể hiện ở tình yêu ông dành cho âm nhạc thính phòng, điều không quá phổ biến đối với những nghệ sĩ lớn vào thời điểm đó. Trong giai đoạn đầu sự nghiệp, ông từng chơi cùng Pablo Casals, bên cạnh mối hợp tác song tấu với Zakin. Từ 1961-1984, Stern cùng Eugene Istomin và Leonard Rose đã lập nên một trong những nhóm tam tấu piano có ảnh hưởng nhất thế kỷ; họ lưu diễn rộng rãi và thu âm, trong đó có toàn bộ các trio của Ludwig van Beethoven và Johannes Brahms. Ở giai đoạn sau, Stern thường mời các học trò trẻ của mình tham gia những buổi trình diễn âm nhạc thính phòng, từ duet cho đến octet.

Đến năm 1950, Stern đã khẳng định mình là một trong những tên tuổi nổi bật và là nghệ sĩ violin đầu tiên được đào tạo tại Mĩ giành được sự kính trọng lớn đến như vậy trên khắp thế giới. Năm 1951, ông là nghệ sĩ đầu tiên của Mĩ đến biểu diễn tại Liên Xô. Tuy nhiên, sau đó, Stern đã từ chối quay trở lại đây để phản đối chính quyền Xô viết hạn chế việc các tài năng trong nước tự do xuất cảnh. Stern luôn thẳng thắn nói về những gì ông coi là sự giao thoa cần thiết giữa nghệ thuật và chính trị. Ngay từ khi còn chưa thực sự nổi tiếng, Stern luôn yêu cầu Chính phủ phải có sự hỗ trợ xứng đáng cho nghệ thuật. Stern có một tình cảm đặc biệt với Carnegie Hall. Con gái ông, Rabbi Shira Stern từng chia sẻ với New York Jewish Week rằng “Carnegie Hall là một phần trong DNA của ông”. Cuối những năm 1950, nhà hát đã xuống cấp và sắp bị phá bỏ. Trung tâm biểu diễn Nghệ thuật Lincoln đang được xây dựng và đơn vị thuê chính của Carnegie Hall, New York Philharmonic, đã có kế hoạch biến nơi đây thành trụ sở mới của mình. Họ đã từ chối lời đề nghị mua lại Carnegie Hall với giá 4 triệu đô la. Không chấp nhận để Carnegie bị phá bỏ, Stern đã đứng ra thành lập Ủy ban Công dân giải cứu Carnegie Hall, bao gồm những nhà từ thiện và hoạt động âm nhạc. Stern đã thành công trong việc thuyết phục dư luận và giới chính trị rằng nhà hát là một di sản văn hoá cần được bảo tồn: “Chỉ vì lý do tình cảm và lòng mộ đạo, phá hủy nó là điều vô lý. Hãy nghĩ đến Tchaikovsky đã chỉ huy buổi khai mạc năm 1891! Hãy nghĩ đến Paderewski và Chaliapin! Nhưng cũng có những lý do thực tế để không phá hủy nó. Giới trẻ đất nước này đang ngày càng đòi hỏi nhiều hơn về âm nhạc và sản sinh ra ngày càng nhiều nhạc sĩ hàng đầu. Làm sao chúng ta dám tước đoạt khỏi họ, âm nhạc và khán giả tương lai, một trong những phòng hoà nhạc vĩ đại nhất thế giới”? Cuối cùng một đạo luật ra đời, cho phép thành phố New York mua lại Carnegie Hall với giá năm triệu đô la. Stern được bầu làm chủ tịch đầu tiên của Tập đoàn Carnegie Hall, đơn vị được thành lập để vận hành nhà hát, ngay khi nó được thành lập vào năm 1960. Ông giữ chức vụ này cho đến khi qua đời vào năm 2001. Trên cương vị chủ tịch, Stern đã biến Carnegie Hall thành một trung tâm giáo dục và đào tạo âm nhạc lớn. Năm 1997, hội trường chính được đặt tên là Isaac Stern Hall để vinh danh ông.

Lần đầu tiên Stern biểu diễn tại Israel vào năm 1949 và có mối quan hệ chặt chẽ với quốc gia này trong suốt cuộc đời. Ông luôn có mặt tại đây trong những thời khắc quan trọng của Israel. Năm 1967, ngay sau cuộc chiến tranh Sáu ngày, Stern và Bernstein cùng Israel Philharmonic đã biểu diễn Concerto violin của Felix Mendelssohn. Trong Chiến tranh Yom Kippur năm 1973, Stern biểu diễn bên giường các bệnh nhân và cho quân đội ở Negev. Đặc biệt, chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, khi quân đội Iraq tấn công tên lửa vào Israel, ông đang chơi tại Jerusalem Theater. Còi báo động vang lên, khán giả hoảng hốt nhưng Stern bình thản bước ra sân khấu, trình tấu âm nhạc của Johann Sebastian Bach và khiến mọi người bình tĩnh trở lại. Tất cả khán giả đeo mặt nạ phòng độc và thưởng thức đến cuối chương trình. Ông tận tuỵ với người dân Israel, đảm nhiệm việc truyền bá âm nhạc – tìm kiếm các nghệ sĩ trẻ; giúp họ xin học bổng du học tại Mỹ (dưới sự bảo trợ của Quỹ Văn hóa Mỹ-Israel, nơi ông làm chủ tịch hội đồng quản trị) và thành lập Trung tâm Âm nhạc Jerusalem. Với nước Đức, Stern luôn tránh biểu diễn, với lý do ông không cảm thấy phù hợp khi chơi nhạc tại quốc gia đã gây ra nạn diệt chủng với người dân Do Thái. Chỉ có đôi chút nhượng bộ vào tháng 4/1999 khi Stern giảng dạy chín ngày tại Cologne và khuyến khích các học viên suy nghĩ không chỉ về kỹ thuật biểu diễn, mà còn về trách nhiệm của một nghệ sĩ “tiếp tục tìm kiếm cái đẹp và tính nhân văn”. Stern cho biết: “Với chuyến thăm này, tôi không tha thứ cho bất cứ điều gì. Nhưng không cho mọi người cơ hội để thay đổi thì không phải là con người”.

Mặc dù chưa từng giảng dạy chính thức nhưng Stern đã tổ chức rất nhiều lớp học master class với quan điểm: “Bạn không thể ép ai đó suy nghĩ như bạn hay cảm nhận như bạn. Nhưng bạn có thể dạy họ suy nghĩ tốt hơn một chút, suy nghĩ nhiều hơn một chút, lắng nghe một cách phê phán hơn một chút. Lắng nghe những gì họ thực sự đang làm, chứ không phải những gì họ nghĩ họ đang làm. Có nhiều tôn trọng hơn đối với sự phối hợp lâu dài, cả bên trong lẫn bên ngoài, giữa người biểu diễn và nhà soạn nhạc”. Ta có thể kể đến nhiều nghệ sĩ lừng danh từng được ông hỗ trợ rất giai đoạn đầu sự nghiệp như Pinchas Zukerman, Itzhak Perlman, Shlomo Mintz, Yefim Bronfman hay Yo-Yo Ma. Ma đã kính trọng khi nhắc tới ông: “Âm nhạc của ông đưa chúng ta đến một thế giới kỳ diệu, nơi hội tụ những tinh thần, trí tuệ và đam mê tốt đẹp nhất của con người”. Trong suốt sự nghiệp biểu diễn lừng lẫy hơn 60 năm của mình, Stern đã xuất hiện tại hầu hết những phòng hoà nhạc nổi tiếng và bên cạnh đó ông còn được biết đến với hơn 100 bản thu âm gồm hơn 200 tác phẩm của 63 nhà soạn nhạc. Hầu hết những đĩa nhạc này được Stern thực hiện với Sony Classical (chính là Columbia trước đây). Năm 1995, Sony Classical phát hành một tuyển tập với tựa đề: Isaac Stern: Một cuộc đời âm nhạc, gồm 44 CD. Đây xứng đáng được coi là cuốn nhật kí ghi chép lại toàn bộ sự nghiệp của người nghệ sĩ vĩ đại. Zukerman đã nhận xét: “Những bản thu này của Isaac Stern phải có trong bất kì thư viện âm nhạc nào, ông là một nghệ sĩ bậc thầy của thế kỉ 20 với một vẻ đẹp trang nhã diệu kì. Tôi phải nói ra những điều này để cho thấy lòng biết ơn của tôi đối với ông, rằng ông là nghệ sĩ mẫu mực không chỉ đối với tôi mà còn đối với cả nền âm nhạc thế giới. Tôi hi vọng rằng ông còn tiếp tục cống hiến những lời khuyên, tình yêu và sự hiểu biết như ông đã từng làm trong suốt sự nghiệp của mình”. Năm 1999, với sự giúp đỡ của nhà văn Mĩ Chaim Potok, Stern cho xuất bản cuốn hồi ký 79 năm đầu tiên của tôi. Trong đó ông nhấn mạnh rằng những nghệ sĩ như Milstein và Arthur Grumiaux đã tạo ra ảnh hưởng chính đến phong cách biểu diễn của mình.

Không thể kể hết những giải thưởng mà ông được trao, những danh hiệu danh dự mà ông được phong tặng nhưng có lẽ đối với Stern, ông chỉ cần được biểu diễn, được đón nhận, được sẻ chia những kinh nghiệm, kiến thức của mình và được chứng kiến tình yêu nhạc cổ điển lan toả trong mỗi con người. Người yêu nhạc cổ điển luôn nhớ tới ông như một trong những nghệ sĩ, nhà truyền bá âm nhạc vĩ đại nhất thế kỉ 20. Trái tim cao cả đó đã vĩnh viễn ngừng đập vào ngày 22/9/2001. Isaac Stern đã mãi mãi xa lìa chúng ta ở độ tuổi 81 do suy tim sau một thời gian dài nằm viện ở Manhattan. Rabbi Shira nhớ về cha của mình: “Ông ấy không phải là người Do Thái theo đạo, nhưng ông ấy có một đời sống tâm linh vô cùng sâu sắc. Ông nhận ra rằng ngôn ngữ tâm linh của mình không phải là tiếng Do Thái, mà là âm nhạc”.

Trên thực tế, những hoạt động xã hội mang lại cho Stern danh tiếng không kém gì khả năng chơi violin của ông. Nhưng chính những công việc khác này đã phần nào có tác động tiêu cực đến nghệ thuật trình diễn của Stern. Năm 1964, George Szell từng phàn nàn rằng “Stern vẫn chưa khai phá hết tiềm năng của mình” và ông chỉ đạt được điều đó khi “giới hạn bản thân vào những yếu tố cốt lõi của nghệ thuật, thay vì phân tán thời gian và năng lượng cho quá nhiều việc đáng trân trọng khác”. Trong thập niên 1970 và 1980, phong độ chơi đàn của ông sa sút: cao độ đôi khi thiếu ổn định, cách nhấn và kéo vĩ đôi lúc thô ráp không cần thiết. Thế nhưng, tài nghệ và nguồn năng lượng của ông vẫn không hề suy giảm. Stern, giống như Menuhin, thuộc một thế hệ nghệ sĩ coi âm nhạc và nhân loại là không thể tách rời: ông đã cống hiến cho chúng ta hơn nửa thế kỷ những màn trình diễn rực rỡ và đầy nhiệt huyết. Bản thân Stern chắc chắn rất hài lòng vì những gì mình đã cống hiến, như ông đã từng thú nhận: “Trong 60 năm biểu diễn, tôi đã rất may mắn khi học được ý nghĩa của việc trở thành một học trò vĩnh viễn, một người lạc quan vĩnh viễn, bởi vì bạn luôn hy vọng lần sau sẽ tốt hơn một chút, và một kẻ mãi mãi yêu âm nhạc. Ngoài ra, như tôi đã nói với một nghệ sĩ trẻ hôm trước: bạn hoàn toàn không biết mình chưa biết những gì. Giờ là lúc bạn bắt đầu học. Và bạn nên thức dậy mỗi sáng và nói: tạ ơn Chúa, tạ ơn Thượng đế, tạ ơn bất cứ ai bạn muốn, cảm ơn, cảm ơn, vì đã khiến tôi trở thành một nghệ sĩ”.

Cobeo