“Đừng ngại thể hiện con người bên trong của bạn. Đó là lý do tại sao chúng ta đang hát” – Régine Crespin

Mặc dù gặt hái được những thành công to lớn trong các tác phẩm âm nhạc Đức nhưng về bản chất Régine Crespin vẫn là người Pháp. Vẻ gợi cảm không thể nhầm lẫn từ nguồn gốc Địa Trung Hải, Pháp, giọng soprano của Crespin không hề thiếu đi sự thanh lịch. Cho dù đó là Kundry, Marschallin, Amelia hay Sieglinde, giọng hát khoẻ khoắn và tràn đầy sức sống của bà luôn được tuôn trào với một sự tinh tế hoàn hảo. Xuất hiện trên sân khấu opera từ những năm 1950, sở hữu chất giọng dramatic soprano, bà khởi đầu sự nghiệp trong những tác phẩm của Richard Wagner và Richard Strauss. Sau đó danh mục biểu diễn của bà mở rộng sang các tác phẩm của Pháp và Ý cũng như một số tác giả khác. Crespin nhanh chóng khẳng định tên tuổi của mình như một trong những giọng nữ cao xuất sắc nhất trong thế hệ. Sau này, dù chất giọng có thấp đi nhưng với sự đầy đặn, ấm áp và sang trọng trong âm khu trung và trầm của mình, bà vẫn có thể hoá thân vào những vai mezzo-soprano mà vẫn toát ra được những màu sắc đặc trưng và sự quyến rũ. Giã từ sự nghiệp vào năm 1989, cái tên Crespin chắc chắn sẽ đi vào lịch sử âm nhạc cổ điển Pháp như một trong những giọng ca opera xuất sắc nhất của thế kỷ 20.

Régine Crespin sinh ngày 23/2/1927 tại Marseille nhưng khi cô lên 5 tuổi, cả gia đình đã chuyển tới Nîmes. Gia đình cô không ai hoạt động nghệ thuật và họ đã mở một cửa hàng bán giày tại thành phố. Tuổi thơ của Régine trôi qua không hề dễ dàng vì Thế chiến thứ hai và chứng nghiện rượu của mẹ cô. Ước mơ thuở nhỏ của Régine không phải trở thành ca sĩ mà là dược sĩ. Tuy nhiên, nguyện vọng này đã không trở thành hiện thực khi cô không tốt nghiệp tú tài ở tuổi 16. Mặc dù gia đình không khuyến khích cô học âm nhạc nhưng có vẻ như việc trượt kỳ thi đã khiến họ phải thay đổi quyết định. Dường như đó cũng là một sự bắt đầu mới không tồi cho một người không được học đại học. Có lẽ sự nghiệp ca hát lừng lẫy của Crespin bắt đầu từ một quyết định mang tính thực dụng hơn là nghệ thuật.

Crespin đã học hát tại một trường địa phương nhưng giáo viên tại đây Madame Lossa từng tuyên bố cô gái không có giọng. Nhưng sau đó Crespin đã giành chiến thắng tại vòng chung kết khu vực trong cuộc thi Les plus belles voix de France. Cô đã tới Paris và đã giành giải nhất với trích đoạn trong vở opera Sigurd của nhà soạn nhạc Ernest Reyer. Ở tuổi 19, cô đã theo học tại Nhạc viện Paris. Thầy giáo của cô tại đây là Georges Jouatte và Suzanne Cesbon-Viseur – người từng là học trò của giọng mezzo-soprano nổi tiếng thế kỷ 19 Pauline Viardot-García. Trong quá trình học tại Nhạc viện, năm 1949 cô đã có được vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp của mình khi hát Charlotte (Werther, Jules Massenet) tại Reims – một vai dành cho giọng nữ trung. Năm 1950, cô giành được giải nhất trong cuộc thi opera và giải nhì giành cho ca khúc tại Nhạc viện và theo truyền thống những người này sẽ giành được hợp đồng hát tại Opéra National de Paris. Tuy nhiên, điều này không được áp dụng với Crespin, dẫn tới một mối quan hệ không mấy tốt đẹp giữa cô và nhà hát trong nhiều năm sau đó. Quãng thời gian tiếp theo, Crespin tìm kiếm cơ hội tại những thành phố khác và cô đã được Opéra national du Rhin mời hát vai Elsa (Lohengrin, Wagner) bằng tiếng Pháp. Cuối cùng thì tiềm năng của Crespin cũng được công nhận, năm 1951, cô được mời hát tại Paris Opéra cũng trong vai Elsa. Ngày 27/6/1951, lần đầu Crespin xuất hiện tại Opéra-Comique với vai Tosca (Tosca, Giacomo Puccini) và sau đó là Santuzza (Cavalleria rusticana, Pietro Mascagni). Mặc dù vậy, khán giả Paris vẫn tỏ vẻ thờ ơ với cô, điều đã khiến cô quyết định chuyển tới những thành phố khác.

Tại quê nhà Marseille, cô đã lần đầu hát trong Marschallin (Der Rosenkavalier, Richard Strauss), một trong những vai diễn đáng nhớ của mình. Mãi đến năm 1955, Crespin mới quay trở lại Opéra National de Paris, lần này là trong vai diễn Rezia (Oberon, Carl Maria von Weber) bên cạnh Nicolai Gedda. Cuối cùng, Crespin đã chiếm được cảm tình của khán giả Paris và cô tiếp tục gắn bó với nhà hát. Lúc này giọng hát của Crepin vẫn mang tính chất trữ tình, cô xuất hiện trong các vai diễn của Wolfgang Amadeus Mozart như Donna Anna (Don Giovanni), Fiordiligi (Così fan tutte), Rosina (Le nozze di Figaro) hay của Giuseppe Verdi như Desdemona (Otello) và Amelia (Un ballo in maschera). Điểm nhấn quan trọng của Crespin trong giai đoạn khởi đầu sự nghiệp này là vai diễn Madame Lidoine trong lần công diễn đầu tiên vở opera Dialogues of the Carmelites của Francis Poulenc tại Pháp. Đích thân Poulenc đã chọn cô cho tác phẩm của mình sau khi kiểm tra nốt Si giáng của Crespin khi tới dự buổi biểu diễn Desdemona của cô. Chính Poulenc đã tiên đoán rằng vai Madame de Croissy sẽ rất hợp với cô. Và quả đúng như vậy, trong buổi ra mắt vở opera tại Metropolitan Opera vào ngày 5/2/1977, Crespin đã hát rất thành công vai diễn này (bằng tiếng Anh).

Sự nghiệp quốc tế của Crespin bắt đầu vào năm 1958, khi cô được Wieland Wagner, giám đốc của Liên hoan Bayreuth lựa chọn cho vai diễn Kundry (Parsifal, Wagner) dưới sự chỉ huy của Hans Knappertsbusch bất chấp thực tế là cô chưa từng hát vai này bằng tiếng Đức. Để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ này, Crespin đã theo học tiếng Đức với Lou Bruder, một giáo sư văn học Đức, người sau này sẽ trở thành chồng cô vào năm 1962. Crespin nhớ lại cô đã rất ngạc nhiên khi được giao vai Kundry, trong khi nghĩ đó sẽ là Elsa, Eva, Sieglinde hay Elisabeth. Crespin thắc mắc với Wieland và bị ông gạt đi: “Đó là những vai diễn ngốc nghếch, tôi không thích chúng. Hãy nhìn xem, vai diễn này được sinh ra cho cô. Cô có một công việc tốt hơn để làm”. Buổi biểu diễn thành công đến nỗi Crespin tiếp tục được mời diễn Kundry trong các năm 1959 và 1960. Crespin còn hát tại Bayreuth vào năm 1961 trong vai Sieglinde (Die Walküre) và Nữ thần thứ ba (Götterdämmerung). Chính sự thành công của Kundry đã giúp cho Crespin có sự thăng tiến mạnh mẽ trên các sân khấu opera quốc tế. Ngày 23/12/1959, lần đầu tiên Crespin xuất hiện tại La Scala với vai Fedra (Fedra, Ildebrando Pizzetti). Cô cũng xuất hiện lần đầu tại Vienna State Opera với Sieglinde (Die Walküre) vào ngày 12/10/1959. Cũng với Marschallin, ngày 24/10/1960, Crespin ra mắt khán giả Covent Garden và nhận được những lời tung hô nhiệt liệt: “Sự khéo léo của phong cách Pháp được bổ sung với một cảm giác cân đối lý tưởng, tiếng Đức hoàn hảo… không bao giờ khuất phục trước sự cường điệu, thể chất hay giọng hát, không cầu kỳ kiểu cách và nhầm lẫn giữa nỗi buồn với bi kịch”. Cô còn quay trở lại Covent Garden nhiều lần trong Elsa và Tosca. Lần đầu tiên Crespin xuất hiện trên một sân khấu opera tại Mỹ diễn ra vào ngày 26/10/1962 với Tosca bên cạnh Giuseppe Zampieri và Titto Gobbi tại Lyric Opera of Chicago. Ngay sau đó, ngày 19/11, Crespin xuất hiện tại Metropolitan Opera cũng với vai diễn quen thuộc Marschallin dưới sự chỉ huy của Lorin Maazel. Đạo diễn của vở opera là giọng nữ cao lừng danh Lotte Lehmann, một trong những thông dịch viên xuất sắc nhất của Richard Strauss, từng được đích thân nhà soạn nhạc lựa chọn. Lehmann đã dành cho Crespin những lời nhận xét hết sức tích cực: “Chưa bao giờ tôi nghe phần mở đầu của trio trong màn cuối lại được hát như thiên thần đến vậy, những nốt nhạc pianissimo mong manh, hầu như toàn bộ là một màu bạc huyền bí tuyệt đẹp. Được làm việc với một nghệ sĩ vĩ đại là niềm vui tuyệt đối từ đầu đến cuối. Và tôi mạo muội tin rằng cảm xúc chân thành của bạn bè được chúng tôi dành cho nhau. Marschallin của tôi có thể hơi thiếu sự uỷ mị trong màn đầu tiên nhưng sự chân thật trong cảm xúc là một phần trong Crespin và không thể giả mạo được.” Còn nhà phê bình của New York Times, Harold C. Schonberg đã viết: “Metropolitan và Der Rosenkavalier đã có một ca sĩ xứng đáng với truyền thống vĩ đại của nhà hát và vở opera.”

Lúc này giọng hát của Crespin đã trở nên đầy đặn và khoẻ khoắn hơn, được ví như một nhạc cụ chắc chắn và vững chãi, toả ra ánh sáng rực rỡ nhưng vẫn kiểm soát hoàn hảo những nốt pianissimo một cách đầy tinh tế. Giữa một rừng ngôi sao trong thế giới opera lúc đó, bà vẫn nổi bật với những nét đặc trưng của riêng mình. Hoá thân trong nhiều vai diễn bằng các ngôn ngữ Pháp, Đức, Ý, đi đến đâu bà cũng thu hút được sự chú ý của người hâm mộ, trong đó những vai diễn trong các vở opera Đức của bà toát ra sự hấp dẫn và chinh phục được nhiều nhà phê bình và khán giả khó tính đến nỗi tạp chí Time đã miêu tả bà là “người Đức của Pháp”. Có lẽ Crespin là một trong những ca sĩ có tính quốc tế nhất, bà tạo lập được danh tiếng với những vở opera Đức tại Vienna và Bayreuth cũng như của Ý tại La Scala, điều khiến bà vô cùng tự hào khi từng chỉ ra rằng cả Elisabeth Schwarzkopf và Renata Tebaldi đều chưa từng một lần hát opera Pháp tại Paris. Nhà phê bình John Steane nhận xét: “Bà là một trong những ca sĩ vĩ đại nhất của những bản thu âm”. Các kỹ sư ghi âm của Decca từng trìu mến gọi bà là “khẩu đại bác của Pháp” do giọng của bà quá lớn. Mặc dù vậy, trên thực tế, Crespin là một người ghét thu âm, bà coi đó là một cơn ác mộng vì thiếu công chúng.

Không chỉ ghi dấu ấn trong lĩnh vực opera, Crespin còn tích cực tham gia vào mảng ca khúc thính phòng. Bà là thông dịch viên xuất sắc cho các Mélodie (bài hát nghệ thuật của Pháp) của các nhà soạn nhạc như Henry Duparc, Gabriel Fauré, Claude Debussy, Erik Satie hay Poulenc. Trong đó bản thu âm Les Nuits d’ete (Hector Berlioz), Sheherazade (Maurice Ravel) của bà với nhạc trưởng Ernest Ansermet vào năm 1963 được coi là huyền thoại. Mọi sắc thái trong giọng hát của Crespin được khai thác triệt để, toả ra ánh sáng rực rỡ. Thứ âm nhạc mang sự u buồn và huyền bí của Berlioz và Ravel đã được Crespin thể hiện một cách hoàn hảo và có một sự cân bằng đáng kinh ngạc giữa giọng hát và dàn nhạc. Từng có nhà phê bình âm nhạc ví von đây là một trong những bản thu âm giọng hát con người tuyệt vời nhất từng được thực hiện, một đĩa nhạc phải có trong bất kỳ bộ sưu tập nhạc cổ điển nào. Bên cạnh đó bà cũng hát một số các lied của Robert Schumann và Franz Schubert. Với Crespin, hát trong các recital thậm chí còn thú vị hơn trong một vở opera. Với bà đó là một thế giới của trí tưởng tượng và sự sáng tạo. Trên sân khấu chỉ có ca sĩ và người đệm đàn. Còn trong opera, đó là những bộ tóc giả, trang phục, đạo cụ… thật khó lòng để thể hiện được con người thật của mình.

Ngày 2/12/1967, Crespin hát vai Sieglinde trong Die Walküre cùng một dàn diễn viên thượng thặng Birgit Nilsson, Jon Vickers và Christa Ludwig dưới sự chỉ huy của Herbert von Karajan tại Metropolitan Opera. Conrad L. Osborne đã bình luận trên London Times: “Nilsson và Crespin đã thúc đẩy nhau tạo ra một thứ mà sẽ khiến khán giả nhớ đến với cảm giác ớn lạnh trong nhiều năm”. Crespin là một Brünnhilde, một trong những vai diễn nặng nhất dành cho soprano, dữ dội nhưng cũng đầy nữ tính cho Karajan tại Liên hoan Phục sinh Salzburg năm 1969. Bà cũng là một trong những giọng hát yêu thích của ông. Và Crespin cũng tỏ ra rất quý mến vị nhạc trưởng tài ba: “Mọi người nghĩ ông ấy khó tính. Đúng như vậy! Xa cách, bí mật và kiêu hãnh. Tuy nhiên với bản thân mình tôi biết đó là một người đàn ông quyến rũ.” Karajan chính là người đã đưa ra lời khuyên cho Crespin hãy hát những vở opera của Wagner như cách hát các đường legato trong opera Ý. Mặc dù vậy, Crespin từng từ chối lời mời của Karajan hát Elizabeth of Valois trong Don Carlo (Verdi) vì nghĩ đó không phải là một vai diễn thú vị vì phải đứng trên sân khấu trong những bộ quần áo và đồ hoá trang để đợi đến màn IV hoặc V (tuỳ phiên bản) để có được một aria đẹp. Bà cũng chưa một lần vào vai Isolde (Tristan und Isolde, Wagner) dù rằng từng hát Liebestod. Lý do được bà đưa ra là giống như Leonie Rysanek: Thích được nghe mọi người nói rằng “thật tiếc là bà chưa từng hát vai đó hơn là nghe “thật tiếc là bà đã từng hát vai đó”.

Thập niên 70, đang ở đỉnh cao của danh vọng, Crespin phải ngừng ca hát trong một thời gian dài vì phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp trong cuộc sống và sự nghiệp khiến từng có lúc bà nghĩ đến việc tự tử. Crespin ly dị chồng vào năm 1969 và không tái hôn. Bà nhớ lại: “Tất cả các ca sĩ đều sẽ phải trải qua giai đoạn khủng hoảng như của tôi. Nếu bạn đủ mạnh mẽ, bạn sẽ vượt qua và trở lại theo kiểu được tái sinh. Đó là trải nghiệm rất khốc liệt và tôi không hối tiếc. Nó mang đến sự phong phú cho bản thân bạn.” Trở thành một trong những Wangerian hàng đầu trong thời đại của mình là thành tựu xuất sắc và đáng ghi nhận đối với sự nghiệp của Crespin. Tuy nhiên, để có được thành quả đó bà cũng phải trả giá. Để có được vai diễn Kundry tại Bayreuth vào năm 1958, bà đã phải đi nạo thai. Sau đó khi biết mắc bệnh ung thư, Crespin tuyên bố đó là sự trừng phạt của Chúa trời dành cho mình. Hát quá nhiều nhưng vai nặng trong opera của Wagner, giọng hát của Crespin trong thập niên 70 đã có những thương tổn nhất định. Những nốt cao của bà đã dần biến mất, dẫn đến việc Crespin phải chuyển sang hát các vai dành cho giọng mezzo-soprano. Mặc dù vậy, sự tinh tế, quyến rũ và độc đáo của Crespin vẫn còn nguyên vẹn. Bà tiếp tục chinh phục khán giả trên khắp thế giới với những vai diễn như Werther, Carmen (Carmen, Bizet) hay Madame de Croissy, đúng như những gì Poulenc đã tiên đoán. Với vai diễn Carmen, nhạc trưởng Henry Lewis đã thốt lên: “Đó là người phụ nữ quyến rũ nhất mà tôi từng thấy”. Từ năm 1974, Crespin cũng tham gia giảng dạy tại Nhạc viện Paris, ngôi trường trước đây bà từng theo học.

Năm 1982, Crespin cho xuất bản cuốn hồi ký bằng tiếng Pháp: Cuộc sống và tình yêu của một người phụ nữ lấy tên từ một chùm ca khúc của Schumann (trên thực tế Carl Loewe và Franz Lachner cũng có chùm ca khúc cùng tên, thậm chí còn được sáng tác trước cả Schumann nhưng không nổi tiếng bằng). Phiên bản tiếng Anh sửa đổi và bổ sung được xuất bản năm 1997 với tên gọi Trong sân khấu, ngoài sân khấu. Một cuốn tự truyện thẳng thắn, phơi bày nhiều góc tối trong cuộc đời của Crespin, được đánh giá là một trong những hồi ký hay nhất do một ca sĩ từng viết. Bà tâm sự trong hồi ký: “ Mọi người nghĩ chúng tôi là prima donna, rằng chúng tôi được mang ra khỏi hộp để đưa lên sân khấu. Tất cả là limousine, hoa và sâm panh. Tôi muốn nói rằng chúng tôi cũng giống như những người khác – chúng tôi đau khổ, chúng tôi yêu, chúng tôi tức giận, chúng tôi bị ung thư, chúng tôi mất đi một người bạn, một đứa trẻ”. Bà cũng tỏ vẻ hối hận vì đã không đến với Maria Callas trong những ngày cô đơn cuối cùng của huyền thoại tại Paris vào năm 1977. Sở hữu một bề ngoài đầy cuốn hút với vóc dáng xinh đẹp, Crespin có vô số người tình trong cuộc đời mình và bà cũng không ngại ngần kể về họ trong cuốn tự truyện của mình.

Vai diễn opera cuối cùng của Crespin là nữ bá tước trong vở opera The Queen of Spades (Con đầm pích) của Peter Ilyich Tchaikovsky tại San Francisco Opera vào năm 1987. Đây cũng là vai diễn giã từ sự nghiệp của Crespin khi bà hát nó vào năm 1989 tại Palais des Congrès, Paris. Sau khi giải nghệ, bà cho biết: “Tôi cảm thấy giọng hát mình không còn được linh hoạt nữa. Nó đã bắt đầu đi xuống và tôi không muốn như vậy. Vì vậy, tôi đã dừng lại. Một khi đã quyết định, nó thật dễ dàng. Giờ đây tôi tự do làm bất cứ điều gì tôi muốn. Tôi có thể hút một điếu thuốc, uống một ly rượu. Không có một giọng nói nào phía sau nhắc nhở: ‘Cẩn thận, bạn sẽ phải hát vào tuần sau’”. Mặc dù nghỉ biểu diễn, bà vẫn tiếp tục công việc giảng dạy của mình tại Paris và còn mở rộng sang cả San Francisco. Được phát hiện ung thư từ năm 1978, bà kiên cường chống chọi với bệnh tật bằng cách thử nghiệm các cách điều trị bệnh mới cũng như theo đạo Phật “hãy nhìn vào bên trong chính mình, bạn sẽ tìm thấy câu trả lời”. Và dạy học cũng là một cách phục hồi chức năng tốt nhất: “Truyền kiến thức, kinh nghiệm cùng với nhiệt huyết của tôi cho những người trẻ tuổi đã mở ra cánh cửa cho những tương lai khác”. Sau khi ngừng giảng dạy theo cách truyền thống tại Paris, bà chuyển sang các dạy các khoá master class trên khắp châu Âu và Mỹ. Công việc này chỉ dừng lại khi bà qua đời vì ung thư gan tại Paris và ngày 5/7/2007 ở tuổi 80.

Là một ngôi sao sáng, Crespin cho biết bí quyết để thành công, ngoài giọng hát, các ca sĩ cần phải kiên nhẫn, làm việc một cách kiên trì, can đảm và khiêm tốn. Mỗi sáng ngủ dậy, bà luôn tự hỏi mình: “Tôi đã làm gì ngày hôm qua? Nó đã đủ tốt chưa? Điều gì tốt? Điều gì không tốt”? Với bà, được ca hát là một niềm vui lớn. Sự qua đời của bà là một tổn thất đối với opera Pháp nói riêng về thế giới nói chung. Để ghi nhận tài năng và những đóng góp của bà, từ năm 2011, cuộc thi piano-violin quốc tế danh giá mang tên Marguerite Long-Jacques Thibaud được đổi thành Long-Thibaud-Crespin với sự tham gia được mở rộng thêm dành cho các ca sĩ. Một cách làm đẹp và ý nghĩa để tôn vinh và tri ân những gì Crespin đã đóng góp cho nền âm nhạc cổ điển thế giới.

Cobeo tổng hợp

Nguồn:
latimes.com
nytimes.com
telegraph.co.uk
bruceduffie.com
theguardian.com