“Đó không phải giọng hát mà là một phép màu.” – Giuseppe de Luca

Giọng hát của Titta Ruffo không phải âm thanh mà là một thứ sức mạnh đến từ thiên nhiên. Cũng giống như người đồng nghiệp tenor cùng thời là Enrico Caruso, Ruffo được cho là hiện thân của một phong cách hát mới, trong đó sức mạnh, chất hùng tráng và âm sắc đầy đặn, giọng ngực vang rền đã làm lu mờ sự đề cao trước đó của thế hệ ca sĩ đi trước vào nét duyên dáng, tính linh hoạt và kỹ thuật tinh tế trong giọng hát. Gần như tự học và trưởng thành dựa vào bản năng nghệ thuật thuần tuý, ông đã vươn lên, không chỉ trở thành một trong những ngôi sao sáng nhất của nền thanh nhạc thế giới mà còn là baritone biểu tượng cho toàn bộ các thế hệ ca sĩ sau này. Tullio Serafin từng thốt lên rằng: “Trong đời tôi có ba ca sĩ kì diệu: Enrico Caruso, Titta Ruffo và Rosa Ponselle”. Còn ông bầu nổi tiếng Walter Legge không ngần ngại gọi Ruffo là thiên tài. Sự nghiệp của Ruffo, theo cách ông từng nói, là một đường parabol (tên cuốn tự truyện của ông), bừng sáng mãnh liệt, thăng tiến chóng mặt rồi tắt dần và tụt dốc nhanh chóng nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng đến tận hôm nay. Trong thế giới rộng lớn của opera Ý và thế giới, nơi có vô vàn các baritone tài năng, nhưng chỉ có duy nhất một Titta Ruffo, người mang đến định nghĩa mới cho “sức mạnh sân khấu” và là một ca sĩ có tầm quan trọng bậc nhất trong lịch sử thanh nhạc.

Ruffo Cafiero Titta sinh ngày 9/6/1877 trong một gia đình nghèo tại Pisa, Ý. Cha của cậu, ông Orestes Titta là một thợ rèn, có tính tình thô lỗ, cục cằn và rất ưa thích đi săn. Ngay trước khi cậu con trai thứ hai chào đời, chú chó săn Ruffo rất được ông yêu mến tình cờ bị bắn chết, nên ông đã quyết định dùng tên đó để đặt cho con của mình, bất chấp sự phản đối của người vợ. Còn Cafiero là lấy theo tên Carlo Cafiero, một nhà hoạt động theo chủ nghĩa vô chính phủ mà ông Orestes rất ngưỡng mộ. Chính vì lý do này nên bà Amabile Sequenza chỉ gọi cậu con trai mà mình yêu quý nhất với cái tên Cafiero. Khi trưởng thành, baritone của chúng ta cũng đổi lại thứ tự họ tên, để chúng ta có được Titta Ruffo như ngày hôm nay. Khi Titta vẫn còn là một đứa trẻ, gia đình cậu chuyển đến sống tại Rome khi ông Orestes có được công việc quản đốc trong một xưởng rèn. Không bao giờ đến trường, Titta phụ giúp gia đình bằng cách đi làm trong một xưởng rèn khác còn anh của cậu, Ettore lại học hành chăm chỉ và tỏ ra rất hứng thú với âm nhạc. Sau một lần cãi nhau với người cha, Titta bỏ nhà ra đi và đến làm việc như một nông dân tại một vùng ngoại ô Rome. Cậu chỉ trở về nhà sau khi người cha tìm đến và cho cậu biết rằng bà Amabile đã đau khổ như thế nào. Titta luôn dành tình cảm sâu đậm cho người mẹ yêu dấu của mình.

Trên thực tế, vào thời điểm này, Ruffo không hề có hứng thú với Gaetano Donizetti, Giuseppe Verdi, hay Giacomo Puccini. Thần tượng của anh là Giuseppe Garibaldi, nhà yêu nước và theo chủ nghĩa cộng hoà, người đã góp phần thống nhất nước Ý. Tuy nhiên, Ruffo không muốn quay lại công việc cũ, làm bạn với búa, đe và các loại kim loại nữa. Nhưng cậu rốt cuộc vẫn phải vào làm việc trong xưởng rèn của cha. Chẳng bao lâu sau khi trở về, hai anh em Ruffo đã có mặt trong buổi biểu diễn vở opera Cavalleria Rusticana (Pietro Mascagni) tại Teatro Costanzi. Sau đêm diễn này, trở về nhà Titta đã hát trích đoạn serenade của Turiddu “O Lola ch’hai di latti la cammisa” với anh trai đệm bằng flute. Khi đó Ruffo chỉ mới 13 tuổi. Ít lâu sau, một sự kiện xảy ra đã mang đến cho Ruffo tình yêu thực sự với ca hát và nhen nhóm trong anh khát vọng trở thành ca sĩ. Tình cờ, trong một quán cà phê, ông Orestes gặp baritone trẻ Oreste Benedetti, mới lên Rome để học thanh nhạc. Với suy nghĩ nếu Ettore gặp Benedetti hẳn sẽ có ích cho việc học tập, ông đã mời cậu ta về nhà. Tại đây, Ettore đã đệm cho Benedetti hát một vài aria và chính điều đó đã khơi gợi lên trong Ruffo hai cảm giác trái ngược: đầu tiên là việc giọng tenor của mình quá mờ nhạt với tiếng hát của vị khách nhưng mặt khác lại là một khát khao mãnh liệt muốn trở thành ca sĩ bằng mọi giá. Ông Orestes đã quyết định mời Benedetti, vốn chỉ hơn Ruffo năm tuổi, ở lại trong căn nhà khiêm tốn của mình. Là sinh viên học nhạc viện, Benedetti thường có được vé xem opera miễn phí, qua đó, trong thời gian một năm ở cùng nhau, Ruffo có nhiều cơ hội được đến nhà hát và mơ ước trở thành ca sĩ của anh ngày càng trở nên cháy bỏng hơn. Khi qua tuổi dậy thì, Titta đã mất đi chất giọng tenor, trở thành một baritone.

Nhận thấy tiềm năng to lớn của Ruffo, lúc này 18 tuổi, Benedetti đã đưa anh đến gặp giáo viên của mình, Caio Andreoli. Sau khi nghe Ruffo hát, Andreoli đã nói với Benedetti: “đây sẽ là giọng hát đối thủ của cậu trong vài năm nữa” nhưng khuyên Ruffo một năm sau hãy bắt đầu các bài tập thanh nhạc. Điều này khiến bà Amabile và Ettore rất vui mừng còn ông Orestes chỉ muốn cậu trở thành một người thợ lành nghề, đó cũng là một công việc ổn định. Trong thời gian chờ đợi này, Ruffo vẫn tiếp tục chăm chỉ làm việc và dành thời gian rảnh rỗi để học tập ca hát từ Benedetti. Khi 19 tuổi, Ruffo thử giọng và được nhận vào học tại Nhạc viện Santa Cecilia. Thầy giáo của ông là nhà sư phạm tên tuổi Venceslao Persichini. Thật không may, dưới mắt của Persichini, Ruffo hoàn toàn không có cơ may để trở thành một baritone. Ông đánh giá anh là giọng bass, hướng dẫn luyện tập theo hướng này và hoàn toàn không tỏ ra hào hứng, luôn chỉ trích tiến bộ của Ruffo là “ì ạch”. Trong khi đó, Persichini dồn hết tâm huyết của mình vào việc dạy dỗ Giuseppe de Luca – lớn hơn Ruffo một tuổi và sau này cũng trở thành một trong những baritone lỗi lạc. Trái ngược với Persichini, giảng viên lớp diễn xuất, Virginia Marini, lại đánh giá rất cao năng lực của Ruffo. Sự thiếu tôn trọng của Persichini cuối cùng đã khiến giữa hai người nổ ra một cuộc tranh cãi gay gắt. Ruffo đã nói thẳng rằng Persichini hoàn toàn không hiểu gì về giọng của anh, rằng ông đang gây hại nhiều hơn là giúp ích và anh rời bỏ nhạc viện chỉ sau bảy tháng.

Lúc này, Ruffo cảm thấy “mọi con đường đều đã khép lại ngoại trừ con đường dẫn tới xưởng rèn” dù rằng thu nhập tại đây cũng đã giảm sút. May mắn thay, anh kiếm được một công việc bên ngoài khá tốt, nhờ đó có thể tự nuôi sống bản thân trong khi dành vài giờ mỗi ngày để tự luyện giọng. Theo giới thiệu của một người bạn, anh đến thử giọng với Senatore Sparapani, một cựu ca sĩ giọng baritone. Ông kinh ngạc trước chất giọng của Ruffo, nhưng không thể dạy anh miễn phí vì đây là nguồn sinh kế duy nhất của ông. Ruffo đồng ý trả 50 lire mỗi tháng và chắt bóp từng đồng bằng cách làm việc liên tục, không một ngày nghỉ. Nhưng điều đó thật xứng đáng. Ruffo đánh giá: “Một giờ học với Sparapani còn giá trị hơn cả một tháng với Persichini”. Tuy nhiên, vấn đề là nguồn thu nhập không ổn định. Ruffo cố gắng xoay xở để trả tiền cho tháng thứ hai, nhưng không đủ cho tháng tiếp theo. Sparapani đã tiếp tục dạy anh miễn phí trong tháng đó, nhưng cuối cùng, dù rất miễn cưỡng, cả hai buộc phải dừng lại. Đúng lúc này, ông Orestes nhận được đơn hàng lớn từ một người Mĩ giàu có lên đến 1.500 lire. Ruffo, vốn có tay nghề rất cao được chia 300 lire (tương đương khoảng một tấn lúa mì). Và đó là tất cả những gì Ruffo mang theo để đến Milan, nơi anh quyết định bắt đầu sự nghiệp ca hát.

Năm 1897, Ruffo thử vận may của mình tại kinh đô opera của nước Ý. Anh theo học với Lelio Casini, một baritone danh tiếng. Casini rất hào hứng với chất giọng của Ruffo và đồng ý dạy anh hoàn toàn miễn phí cho đến khi anh có thể kiếm sống được bằng nghề ca hát. Tuy nhiên, những tháng ngày đầu tiên của Ruffo ở Milan không hề thuận lợi. Khí hậu miền Bắc lạnh lẽo khiến anh bị cảm và viêm phế quản. Đã có những thời điểm Ruffo tưởng như không thể vượt qua, tương lai trước mắt anh chỉ toàn là một màu đen. Nhưng bằng nỗ lực phi thường của mình và sự giúp đỡ tận tình của Casini, anh đã vượt qua. Casini đã dẫn cậu học trò mình đi thử giọng ở khắp nơi và ngày 9/4/1898, Ruffo đã có được vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp của mình với Herald (Lohengrin, Richard Wagner) tại Teatro Costanzi, Rome. Tenor danh tiếng, Francisco Viñas, người hát vai chính, đến gặp Ruffo và nói: “Chưa từng có giọng baritone nào như cậu. Nếu biết học hành và gìn giữ, vinh quang sẽ đến”.

Sau bước khởi đầu tương đối chậm chạp, Ruffo đã nhận được lời mời tham gia chuyến lưu diễn tại một số thành phố trên nước Ý. Trong tour này, Ruffo đã hát Tonio (Pagliacci, Ruggero Leoncavallo) và nhiều vai diễn trong opera của Verdi như Count di Luna (Il Trovatore), Rigoletto (Rigoletto), Don Carlo di Vargas (La forza del destino), Giorgio Germont (La Traviata). Một danh mục khá nặng nhất là với một ca sĩ chỉ mới 21 tuổi. Năm 1900, ông có chuyến lưu diễn nước ngoài đầu tiên của mình, trong tour diễn tại Nam Mĩ này, ông đã gặt hái được nhiều thành công, đặc biệt là tại Santiago, Chile. Tài năng trẻ đầy hứa hẹn lại tiếp tục cuộc phiêu lưu của mình. Trong những năm tiếp theo, Ruffo liên tục xuất hiện tại các nhà hát châu Âu và lưu diễn tại những nơi xa xôi hơn như Ai Cập hay Nam Mĩ. Ngày 30/1/1904, Ruffo xuất hiện lần đầu tiên tại La Scala trong vở Germania của Alberto Franchetti. Tại Lisbon vào năm 1907, Ruffo đã lần đầu tiên hát vai diễn sau này gắn liền với tên tuổi của ông: Hamlet trong vở opera cùng tên của Ambroise Thomas. Trước khi có sự ra mắt này, Ruffo đã dày công nghiên cứu vai diễn, không chỉ qua âm nhạc và libretto của vở opera mà còn cả chính vở kịch gốc của William Shakespeare. Sau này khi tiến hành ghi âm Hamlet (bằng tiếng Ý), Ruffo đã thêm vào tác phẩm một số câu độc thoại ông lấy từ vở kịch gốc. Thậm chí, ông đã sửa lại đôi chỗ trong phần libretto, đặc biệt là màn ba mà không tiết lộ lý do. Ruffo đã bị nhiều nhà phê bình lên án vì hành vi này nhưng bất chấp thực tế đó, các buổi biểu diễn Hamlet của ông đều giành được những thành công to lớn. Ông đã thực sự gây dựng được tên tuổi cho mình và cùng với tài năng, khán giả hâm mộ còn được biết đến một Ruffo gai góc hơn, xù xì hơn. Khi còn chưa thực sự nổi tiếng, tại Covent Garden vào năm 1903, ông có lịch diễn Rigoletto với soprano huyền thoại Nellie Melba trong vai Gilda. Tuy nhiên Melba đã thẳng thừng từ chối: “Anh ta quá trẻ để làm cha tôi”. Sau này, khi đã trở thành một ngôi sao sáng chói, Ruffo có buổi diễn Hamlet tại Teatro San Carlo, Naples. Melba khi đó đang ở Australia, thông qua người quản lí của mình đề nghị được hát cùng với Ruffo một đêm với vai Ophelia (Hamlet). Ruffo trả đũa: “Hãy về nói với Melba rằng bà ấy quá già để vào vai Ophelia”.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn tại châu Âu và Nam Mĩ nhưng Titta Ruffo xuất hiện tương đối muộn tại Metropolitan Opera. Ông đã có một chuyến lưu diễn tại Philadelphia và Chicago vào năm 1912 và đã thu hút được sự chú ý của công chúng cũng như giới phê bình tại đây với Hamlet. Người quản lý của ông, Andreas Dippel lúc đó đã quảng cáo rằng Ruffo sẽ có những buổi biểu diễn tại Metropolitan Opera trong khi Tổng giám đốc của nhà hát, Giulio Gatti-Casazza lại chưa có thông tin gì về vấn đề này. Gatti-Casazza tức giận, cho rằng Dippel đã dùng chiêu trò lừa dối. Phải đến ngày 19/1/1922, Ruffo mới có màn ra mắt tại đây với Figaro (Il Barbiere di Siviglia, Gioachino Rossini). Tổng cộng ông tham gia biểu diễn tại Metropolitan Opera trong bảy mùa liên tiếp, nhưng số buổi biểu diễn không thực sự nhiều, chỉ hơn 50 buổi. Trong số này gồm có lần công diễn đầu tiên tại Mĩ vở opera La cena delle beffe của Umberto Giordano. Ông đã khiến những nhà tổ chức, giới phê bình có ánh mắt khác khi nhận xét về các giọng baritone. Thời kì trước đó, baritone luôn được coi là thứ yếu nếu như so sánh với các tenor nhưng Ruffo là ca sĩ đầu tiên nhận được thù lao ngang với những tenor hàng đầu. Buổi biểu diễn cuối cùng của ông tại đây diễn ra vào ngày 22/2/1929 với Amonasro (Aida, Verdi). Một số người cho rằng sở dĩ Ruffo biểu diễn tại Metropolitan Opera ít như vậy là do chính Enrico Caruso không hài lòng với sự có mặt của ông. Tin đồn này xuất phát từ thực tế rằng Ruffo chỉ hát tại đây sau khi Caruso qua đời vào năm 1922. Tuy nhiên, lời đồn đại này chỉ có ý nghĩa làm tăng thêm sự vĩ đại của Ruffo (ngay cả Caruso cũng phải ghen tị!) chứ trên thực tế họ là những người bạn thân thiết trên sân khấu cũng như trong đời thường. Họ đã cùng nhau hát tại Paris, Vienna, Nam Mĩ. Trên thực tế, ông luôn tỏ ra coi trọng tài năng của Caruso. Khi nghe tin bạn mình qua đời, Ruffo rất đau đớn và đã có mặt tại đám tang đồng thời muốn hát tại đây. Tuy nhiên sự xúc động to lớn khiến ông không thể thực hiện được ước nguyện này. Trước đó hai người đã cùng nhau thu âm một số trích đoạn opera, trong đó đáng kể nhất là những duet trong Otello của Verdi. Ruffo luôn được coi là một trong những Iago vĩ đại nhất mọi thời đại, không chỉ nhờ kỹ thuật thanh nhạc, mà còn bởi khả năng khắc họa chiều sâu tâm lý nhân vật. Sự kết hợp giữa hai tượng đài này được coi là một trong những cột mốc đáng nhớ trong lịch sử opera thế giới thế kỉ 20. Việc họ không thường xuyên biểu diễn cùng nhau bắt nguồn từ việc ít nhà hát opera nào có khả năng trả khoản phí khổng lồ cho hai ca sĩ cùng lúc, đặc biệt khi có sự tham gia trước đó của một soprano hàng đầu.

Ruffo là baritone đặc trưng, khỏe khoắn một cách lạ thường, tràn đầy sức mạnh, giàu âm sắc, đanh thép, hùng vĩ và đặc biệt sáng ở âm khu cao. Chính nhờ những đặc trưng này cộng với mái tóc khá bù xù nên những người hâm mộ đã gọi Ruffo là “Giọng hát của sư tử”! Ruffo sở hữu âm vực lớn hơn hai quãng tám (từ G2 đến b-flat1). Giọng hát của ông mềm mại như nhung, sáng bóng như đồng thau, vang rền nhờ kỹ thuật cộng hưởng mũi và cách đặt âm “trên mặt nạ” nổi tiếng giúp các nốt cao vang rền, sắc sảo mà không hề bị gằn. Ông sử dụng portamento – kỹ thuật trượt giữa các nốt – một cách tự nhiên và đầy biểu cảm. Màu sắc trong giọng hát của Ruffo đặc biệt phong phú, khi thì rực rỡ, khi lại u ám, có lúc dường như lay động, gợn sóng như mặt nước. Cách luyến láy của ông luôn mạnh mẽ, trực diện, đầy sức hút. Nhà nghiên cứu Clemens Höslinger nhận xét rằng thế mạnh của Ruffo chính là những âm cao rực rỡ, không thua kém nhiều tenor, tuy nhiên ông cũng chỉ ra nhược điểm: phần âm trầm của Ruffo thiếu chiều sâu và càng về sau, điểm yếu này càng trở nên rõ rệt. Những baritone trước đó, hoặc cùng thời, mà điển hình là Mattia Battistini vẫn theo đuổi truyền thống bel canto xưa cũ, xử lý quý phái, cách ngắt nhịp uyển chuyển, tinh tế còn Ruffo, cũng giống như Caruso, ưa thích cách tiếp cận mạnh mẽ, bản năng, bộc lộ hoàn toàn cảm xúc mà không tuân thủ những quy tắc thẩm mỹ truyền thống. Điều này tỏ ra đặc biệt phù hợp với những vở opera thời kỳ sau của Verdi cũng như trường phái verismo rất thịnh hành thời bấy giờ. Trên thực tế, Ruffo hoàn toàn không được đào tạo thanh nhạc một cách bài bản. Bù lại, ông có một nhạc cảm trời phú, khả năng nhập vai rất tốt và kĩ năng phân tích tâm lý nhân vật vô cùng mẫn cảm. Ruffo luôn nhận thức được rằng học vấn của mình hạn chế vì vậy ông luôn dành nhiều thời gian vào việc nghiên cứu tác phẩm, không chỉ là kịch bản và âm nhạc của vở opera mà còn từ chính bản thân tác phẩm văn học gốc.

Những gì Ruffo được đào tạo chỉ là những bài học chắp vá nhưng chính từ đó, dựa vào tư duy cá nhân mang tính bản năng hiếm có, ông đã đúc kết thành những gì tinh tuý nhất. Về mặt kỹ thuật, Ruffo gần như tự học cách sử dụng cơ hoành và nhóm cơ bụng để hỗ trợ hơi thở – một phương pháp mà ông gọi là “cú đánh bụng”, nhằm tạo lực đẩy mạnh luồng hơi ra ngoài. Hơi thở sau đó được dẫn qua vùng cộng hưởng ở khoang mũi và mặt, giúp âm thanh trở nên vang rền hơn. Tuy nhiên, cách kiểm soát hơi thở này, dù hiệu quả trên sân khấu, nhưng nếu không được rèn luyện đúng cách có thể tạo áp lực lớn lên hệ hô hấp. Dù có thể coi đây là khiếm khuyết kỹ thuật, ông đã khai thác nó để tạo ra một hiệu ứng âm thanh riêng biệt. Một số nhà phê bình bảo thủ Ý miệt thị, gọi đây là “del mugito” – âm thanh như tiếng bò rống – kết quả của sự lệch lạc thị hiếu. Nhưng trường phái baritone sau này, điển hình là Tito Gobbi và Ettore Bastianini, đã xem ông là hình mẫu để mô phỏng.

Danh mục biểu diễn của Titta Ruffo bao gồm hầu hết các vai baritone chính trong các vở opera quen thuộc. Trong thời kì đỉnh cao, ông cũng rất nổi tiếng với những vai nam chính trong các vở opera hầu như đã bị quên lãng tại thời điểm hiện tại. Điều bất thường ở vào thời đại của ông là Ruffo chưa bao giờ ký hợp đồng độc quyền với bất kỳ nhà hát hay đoàn opera nào. Ông tự do, là một ngôi sao du mục theo đúng nghĩa và được trả thù lao cao nhất tại bất cứ nơi nào ông hát. Trong giai đoạn hoàng kim, Ruffo đã thu âm rất nhiều. Sự nghiệp biểu diễn của Ruffo bắt đầu xuống dốc vào cuối thập niên 20 và buổi biểu diễn cuối cùng của ông diễn ra vào năm 1931. Năm 1924, anh vợ ông, Giacomo Mateotti, một trong những thủ lĩnh của những người cộng sản tại Ý bị quân đội của chính quyền phát xít Mussolini ám sát. Từ đó ông dũng cảm lên án chế độ Mussolini, thề không bao giờ hát tại Ý và từng phải sống lưu vong ở Thuỵ Sĩ và Pháp. Sau khi rời xa ánh đèn sân khấu, đã có nhiều lời đề nghị mời ông dạy hát nhưng Ruffo từ chối: “Tôi chưa bao giờ biết cách hát, đó là lý do vì sao giọng của tôi tàn lụi khi mới ngoài năm mươi. Tôi không có quyền lợi dụng tên tuổi và danh tiếng cũ để dạy cho những người trẻ điều mà chính tôi cũng chưa từng biết cách thực hiện”.

Từ năm 1937, Ruffo quay trở về nước Ý bất chấp sự giám sát chặt chẽ từ phía Mussolini và thậm chí đã có một thời gian ngắn ông bị bỏ tù. Năm 1937 cũng là năm ông cho xuất bản cuốn hồi kí “La mia parabola” (Đường parabol của tôi) bằng tiếng Anh. Và có lẽ chính thời gian trong tù này đã khiến sức khỏe của ông suy giảm rõ rệt. Ông gần như lui về ở ẩn tại Florence. Ngày 26/7/1943, khi tin tức về vụ bắt giữ Mussolini lan truyền khắp cả nước, Ruffo đã đứng ngoài biệt thự của mình hát nhiều bài ca yêu nước và hàng trăm người dân đã hoà giọng theo ông. Ngày 5/7/1953, Ruffo qua đời tại đây sau một cơn đau tim, thọ 76 tuổi. Vua sư tử đã ngừng tiếng thét oai hùng, cánh rừng opera đại ngàn đã vắng bóng một vị chúa tể vĩ đại! Thế giới đã mất đi một tượng đài thực thụ!

Cobeo