Thông tin chung

Tác giả: Gustav Mahler.
Tác phẩm: Giao hưởng số 1 giọng Rê trưởng
Thời gian sáng tác:Ngày 20/1/1888 – tháng 3/1888. Tuy nhiên, phiên bản cuối cùng của bản giao hưởng chỉ được hoàn thành vào năm 1896.
Công diễn lần đầu: Ngày 20/11/1889 với tác giả chỉ huy Budapest Philharmonic Orchestra tại Budapest.
Độ dài: Khoảng 55 phút.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Langsam, schleppend (Chậm rãi, lê thê) Immer sehr gemächlich (luôn rất kiềm chế) (Rê trưởng)
Chương II – Kräftig bewegt, doch nicht zu schnell (Di chuyển mạnh mẽ nhưng không quá nhanh), Recht gemächlich (kiềm chế) – Trio (Ländler) (La trưởng)
Chương III – Feierlich und gemessen, ohne zu schleppen (Trang trọng, nhịp nhàng không lê thê), Sehr einfach und schlicht wie eine Volksweise (Rất đơn giản, giống như một giai điệu dân gian), Wieder etwas bewegter, wie im Anfang (Một lần nữa có chút kích động hơn, như phần mở đầu) – Một hành khúc tang lễ dựa trên bài hát thiếu nhi “Frère Jacques” (Rê thứ)
Chương IV – Stürmisch bewegt – Energisch (Cuồng nhiệt – Tràn đầy năng lượng) (Pha thứ – Rê trưởng)
Thành phần dàn nhạc: 4 flute (flute 2, 3 và 4 kiêm piccolo), 4 oboe (oboe 3 kiêm English horn), 3 clarinet (clarinet 3 kiêm bass clarinet và clarinet giọng Si giáng), clarinet giọng Si giáng (kiêm clarinet giọng Mi giáng), 3 bassoon (bassoon 3 kiêm contrabassoon), 7 horn, 5 trumpet, 4 trombone, tuba, 6 timpani, bass drum, cymbals, triangle, tam-tam, harp và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Âm nhạc từng là phương tiện mà Mahler sử dụng để giải quyết những câu hỏi về vũ trụ và cá nhân đã đeo bám ông trong suốt cuộc đời, một trong số đó là hành trình ám ảnh trong việc tìm ra ý nghĩa của sự tồn tại. Để đạt được mục tiêu này, về cơ bản, ông đã làm việc đến chết. Tuy nhiên, trong suốt quãng thời gian đó, ông đã thu được năng lượng và ý tưởng nhất quán từ tình trạng cảm xúc hay thay đổi đầy ám ảnh của mình. Ông nói: “Đối với tôi, để tạo ra một bản giao hưởng là tạo ra một thế giới”. Và ông sẽ không được coi là bất kỳ ai khác trong nỗ lực đó. Nhà phê bình âm nhạc Michael Steinberg giải thích: “Mặc dù Beethoven có thể bắt đầu như một kiểu Haydn và Mozart đã được thay đổi hay Wagner trong vai Weber và Meyerbeer, nhưng bản thân ông đã không may trở thành Gustav Mahler ngay từ đầu”. Gustav Mahler tóm tắt về bản thân mình: “Thời của tôi vẫn chưa đến. Về mặt con người, tôi thực hiện mọi nhượng bộ, về mặt nghệ thuật thì không”. Trên tinh thần đó, vào cuối những năm 1880, Mahler đã hoàn thành bản Giao hưởng số 1 của mình. Đó là một giai đoạn bắt đầu có những biến động trong đời sống âm nhạc châu Âu cũng như của chính Mahler.

Mahler lúc này đang đảm nhận cương vị nhạc trưởng thứ hai tại Nhà hát Leipzig. Ông được Nam tước Weber, cháu trai của Carl Maria von Weber nhờ hoàn thành vở opera còn dang dở Die Drei Pintos của nhà soạn nhạc. Trong lúc đang tiến hành, Mahler dính dáng vào một cuộc tình với vợ của ngài Nam tước. Khi vụ việc bị phát hiện, ngài Nam tước đã trút cơn giận dữ bằng cách xả một băng súng (nhưng rất may không ai làm sao). Nếu tài bắn súng của ngài Nam tước giỏi hơn, chúng ta sẽ vĩnh viễn không được chứng kiến tài năng của nhà soạn nhạc Mahler. Mahler vội vã rút lui khỏi cuộc tình nhưng không tháo chạy khỏi bản Giao hưởng số 1 mà ông đã lên kế hoạch hoàn thiện nó. Giống như nhiều nhà soạn nhạc khác trong giai đoạn này, Mahler vừa bị thu hút vừa cảnh giác với khái niệm âm nhạc theo chương trình hoặc âm nhạc với những cảm hứng phi âm nhạc. Mahler đã vật lộn với ý tưởng này khi viết bản giao hưởng đầu tiên của mình, sợ rằng nó sẽ không được đón nhận nồng nhiệt nếu như đó không phải là thứ âm nhạc “tuyệt đối”. Đồng thời, sự hấp dẫn của câu chuyện tiềm ẩn như một cấu trúc thống nhất có sức hấp dẫn lớn đối với Mahler. Các bản giao hưởng đầu tiên của Mahler thường kết hợp các ý tưởng âm nhạc từ những tác phẩm có trước đó của chính ông cũng như một vài nhà soạn nhạc khác. Bản Giao hưởng số 1 này cũng như vậy, nó được dựa trên một số ca khúc của Mahler cũng như lấy cảm hứng từ giao hưởng Dante của Liszt và Parsifal của Wagner. Trong bức thư gửi cho người bạn của mình, nghệ sĩ viola Natalie Bauer-Lechner, Mahler đã cho thấy quan điểm sáng tác: “Sáng tác giống như chơi với các toà nhà, trong đó các tòa nhà mới được tạo ra lặp đi lặp lại bằng cách sử dụng các khối giống nhau. Thật vậy, những khối này đã ở đó, sẵn sàng để sử dụng, từ thời thơ ấu, đó là thời điểm duy nhất được thiết kế để thu thập”.

Để có được bản Giao hưởng số 1 giọng Rê trưởng như ngày nay chúng ta đang nghe, Mahler đã phải thực hiện một số thay đổi và hứng chịu nhiều chỉ trích. Ngày 20/11/1899, Mahler chỉ huy ra mắt tác phẩm tại Budapest. Lúc này bản giao hưởng được giới thiệu là một thơ giao hưởng có chương trình nhưng nhà soạn nhạc không đưa ra bất kỳ ghi chú chương trình nào để giải thích hoặc chí ít là một tiêu đề để hỗ trợ người nghe rằng âm nhạc đang miêu tả điều gì. Mahler chỉ giải thích ngắn gọn bản thơ giao hưởng này gồm 2 phần: Phần 1 gồm hai chương I và II như ngày nay và được xen kẽ bằng một chương Andante có tên gọi Blumine (Cánh hoa). Blumine được Mahler sáng tác trước đó vào tháng 6/1884, như là một phần của âm nhạc minh hoạ cho bài thơ Der Trompeter von Säckingen của Joseph Victor von Scheffel; phần 2 gồm 2 chương III và IV. Buổi trình diễn ra mắt đã gây ra nhiều bối rối và khó chịu cho khán giả, những người đặc biệt hoang mang trước sự thay đổi tâm trạng cực độ và kịch tính của hành khúc tang lễ, vốn được dựa trên một ca khúc quen thuộc dành cho thiếu nhi Frère Jacques. Sau sự lạnh nhạt của khán giả, Mahler đã lãng quên bản giao hưởng của mình trong ba năm và chỉ sửa đổi nó vào tháng 1-8/1893 tại Hamburg. Trên thực tế, phiên bản gốc của bản giao hưởng đã bị thất lạc nên không thể làm rõ những điểm mà Mahler đã sửa chữa. Phiên bản thứ hai này được Mahler chỉ huy trước công chúng vào ngày 27/10/1893. Lần này, nó đã thành công hơn, nhiều nhà phê bình đã dành cho tác phẩm những lời khen ngợi. Trong phiên bản thứ hai này, Mahler đã gọi đây là bản thơ giao hưởng trong hình thái giao hưởng và đặt cho nó tiêu đề là “Titan”, dựa theo tên cuốn tiểu thuyết đồ sộ của Jean Paul. Cùng với đó là ghi chú cho các phần của tác phẩm, cụ thể:

Tiêu đề: “Titan”, một bản thơ giao hưởng trong hình thái giao hưởng.
Phần 1:
1. Frühling und kein Ende (Mùa xuân không có hồi kết) (Introduction và Allegro comodo). Phần mở đầu miêu tả sự thức tỉnh của thiên nhiên sau một giấc ngủ đông dài.
2. Blumine (Andante).
3. Mit vollen Segeln (Dưới cánh buồm no gió) (Scherzo).
Phần 2:
1. Gestrandet! Totenmarsch in Callots Manier (Mắc kẹt! Hành khúc tang lễ theo phong cách của Callot) (Jacques Callot (1592-1635) một thợ khắc bản in thời Baroque. Có lẽ Mahler nhầm lẫn rằng Callot là tác giả của bức tranh khắc gỗ mô tả câu chuyện “Đoàn rước tang lễ của người thợ săn”, vốn là của nghệ sĩ người Áo Moritz von Schwind sáng tác vào năm 1850).
2. Dall’ Inferno (Từ địa ngục) (Allegro furioso) như sự tuyệt vọng bột phát đột ngột từ một trái tim bị tổn thương sâu sắc.

Richard Strauss, người lúc này đang chỉ huy dàn nhạc cung đình Saxon ở Weimar đã tổ chức một lễ hội âm nhạc tại đây vào tháng 6/1894. Mahler đã chỉ huy bản giao hưởng này vào ngày 3/6/1894. Đây là phiên bản thứ ba, ông đã sửa đổi một số ghi chú cho chương trình:

Tiêu đề: Bản giao hưởng “Titan”.
Phụ đề: Aus den Tagen der Jugend, Blumen-, Frucht- und Dornenstücke (Từ những ngày còn trẻ, âm nhạc của hoa, quả và những bụi gai).
1. Frühling und kein Ende (Mùa xuân không có hồi kết) (Introduction và Allegro comodo). Sự thức giấc của thiên nhiên trong rừng buổi sáng sớm.
2. Chương Blumine (Andante).
3. Mit vollen Segeln (Dưới cánh buồm no gió) (Scherzo).
Phần 2:
1. Des Jägers Leichenbegängnis, ein Totenmarsch in Callots Manier (Lễ đưa tang của thợ săn, hành khúc tang lễ theo phong cách của Callot).
2. Dall’ Inferno al Paradiso (Từ địa ngục đến thiên đường) (Allegro furioso) là sự tuyệt vọng đột ngột bột phát từ một trái tim bị tổn thương sâu sắc.

Buổi biểu diễn này nhận được những phản ứng trái chiều. Trong bức thư gửi cho người bạn Arnold Berliner, Mahler cho biết: “Bản giao hưởng của tôi đã bị một số người phản đối dữ dội và những người khác hết lòng tán thành. Các ý kiến xung đột một cách thú vị, trên đường phố và trong các phòng trà”.

Ngày 16/3/1896 tại Berlin, Mahler lần thứ tư chỉ huy bản giao hưởng. Trong phiên bản này, cùng với việc loại bỏ chương Blumine cũng như toàn bộ các tiêu đề, biến bản giao hưởng này thành âm nhạc tuyệt đối, gọi nó đơn giản là Bản giao hưởng giọng Rê trưởng. Mặc dù vậy, đêm diễn vẫn không nhận được phản hồi mà Mahler cảm thấy xứng đáng với tác phẩm của mình. Bauer-Lechner, người cũng có mặt trong chương trình, miêu tả lại phản ứng của Mahler: ông liên tục lặp lại: “không, họ không hiểu điều đó”. Về việc xoá bỏ chương Blumine, Mahler giải thích với Bauer-Lechner là vì sự giống nhau quá lớn về giọng trong các chương gần nhau. Tuy nhiên, điều này có vẻ không thích hợp khi giọng của Blumine là Đô trưởng, với Rê trưởng và La trưởng của các chương khác. Ngoài lí do trên, những nhà phân tích đã đưa ra một số lời giải thích nữa:

– Sự tiêu cực của nó trên báo chí. Nhà phê bình Ernst Otto Nodnagel chỉ trích chương Blumine là “tầm thường”.
– Sáu nốt đầu tiên của trumpet trong phần mở đầu giống hệt sáu nốt nhạc tại khuông nhạc thứ 61 trong chương cuối bản giao hưởng số 1 của Brahms, đều ở giọng Đô trưởng.
– Đơn giản là Mahler muốn bản giao hưởng của mình trở về dạng 4 chương theo truyền thống.

Cho dù lý do của Mahler trong việc loại bỏ chương Blumine là gì, ông cũng giành được sự đồng ý của nhiều nhạc trưởng lừng danh khi họ không đưa phần này vào biểu diễn kể từ khi Blumine lần đầu được xuất bản vào năm 1968.

Về việc loại bỏ các tiêu đề, biến nó thành một tác phẩm âm nhạc tuyệt đối, Mahler giải thích trong một bức thư gửi cho Max Marschalk vào năm 1896: “Ban đầu, bạn bè đã thuyết phục tôi cung cấp một chương trình, để tạo điều kiện hiểu biết về Rê trưởng (Bản giao hưởng). Vì vậy, sau đó tôi đã nghĩ ra tiêu đề này và những lời giải thích. Việc tôi bỏ qua chúng lần này không chỉ bởi vì tôi cho rằng chúng không phù hợp mà còn bởi vì tôi phát hiện ra rằng khán giả đã bị chúng đánh lừa như thế nào”. Bên cạnh đó, Alma, vợ của Mahler cũng cho biết rằng chồng mình liên tục được yêu cầu giải thích các tình huống khác nhau trong tiểu thuyết được diễn giải như thế nào, và đó là lý do mà Mahler đã xoá đi các tiêu đề.

Phân tích

Chương I được sáng tác ở hình thức sonata được sửa đổi, nhịp 4/4 mở đầu bằng một nốt La, trải dài trên phạm vi bảy quãng tám được chơi trên dàn dây. Motif hai nốt nhạc dần dần được phát triển trên kèn gỗ, thiết lập mô hình lặp đi lặp lại của các quãng 4 giảm, như tiếng chim hót trên nền những nốt La đó. Mahler giải thích: “Đó là âm thanh của tự nhiện, không phải âm nhạc”. Chủ đề “thiên nhiên” này bị tiếng clarinet phô trương làm gián đoạn. Tiếng trumpet vẳng lại, được Mahler chỉ định trong tổng phổ “In sehr weiter Entfernung aufgestellt” (Ở một khoảng cách rất xa). Sự căng thẳng trong phần giới thiệu biến mất, trở nên vô tư và nhẹ nhàng khi phần trình bày bắt đầu. Chủ đề đầu tiên được Mahler lấy từ bài hát thứ hai Ging heut’ morgen über’s Feld (Sáng nay đi qua cánh đồng), tập bài hát đầu tiên của mình Lieder eines fahrenden Gesellen (Bài hát của một người đi đường), sáng tác từ năm 1884-1885. Giai điệu này bắt đầu trên cello và dần trở nên năng động hơn khi đi qua các bè khác nhau của dàn nhạc, cuối cùng trên toàn bộ kèn đồng. Một tiếng chim hót mới được giới thiệu ở cuối phần trình bày, bắt đầu trên kèn gỗ và sau đó được chia sẻ với dàn dây. Phần phát triển bắt đầu như một hình thức giới thiệu mới với những nốt La và motif hai nốt nhạc, không giai điệu của clarinet và tiếng trumpet ngoài sân khấu nhưng có sự xuất hiện của motif chim hót. Giai điệu cantabile của cello hát lên, đóng vai trò như chủ đề thứ hai. Chủ đề bài hát được phát triển qua nhiều biến tấu khác nhau về màu sắc, cường độ và phối khí. Phần địa ngục trong chương cuối đã được gợi nhắc kín đáo ở đây, tạo nên bóng tối đáng sợ, tương phản với cao trào vui vẻ diễn ra ngay sau đó.

Chương II là một minuet và trio được sửa đổi. Minuet ở đây được Mahler thay thế bằng điệu ländler, một hình thức khiêu vũ là tiền thân của những điệu waltz, rất thường xuyên được Schubert sử dụng và sau này là Mahler. Một chủ đề chính giọng La trưởng lặp đi lặp lại xuyên suốt ländler, mở đầu trên trumpet, sau đó là kèn gỗ và dần dây, nó tập trung năng lượng để hướng đến một kết thúc sôi nổi. Ta có thể nhận thấy sự tương đồng giữa chủ đề này và bài hát Hans und Grete được Mahler sáng tác vào năm 1880. Phần trio được chuyển sang giọng Pha trưởng, chậm rãi và trữ tình hơn, có hình dáng của một điệu waltz. Sự tinh tế thanh lịch nhường chỗ cho không khí điền viên, âm nhạc trở nên ngọt ngào dịu dàng. Ländler trở lại, ngắn gọn đưa chương II kết thúc trong vui vẻ.

Chương III đóng vai trò là chương chậm trong cấu trúc 4 chương của bản giao hưởng. Ý tưởng sáng tác của Mahler được truyền cảm hứng từ một truyện cổ dân gian Áo: Tang lễ của người thợ săn: “Liên quan đến chương III… Tôi đã nhận được gợi ý âm nhạc bổ sung cho nó từ bức tranh trẻ con nổi tiếng (Tang lễ của người thợ săn, Moritz von Schwind)… sự u ám kỳ lạ và mỉa mai, ủ ê của đám tang đang đều bước”. Năm 1901, Mahler gửi một bức thư cho Bernhard Schuster: “Chương III… là một sự trớ trêu đau lòng, bi thảm và sẽ được được hiểu là việc trình bày và chuẩn bị cho sự bột phát đột ngột trong chương cuối cùng tuyệt vọng của một trái tim bị tổn thương sâu sắc và tan vỡ”.

Chương nhạc bắt đầu với timpani chơi nhẹ nhàng hai nốt nhạc, đóng vai trò là ostinato (một giai điệu hoặc nhịp điệu được lặp đi lặp lại). Trên đó double bass độc tấu tắt tiếng chơi giai điệu lấy từ Frère Jacques, một bài hát dành cho trẻ con của Pháp, nhưng được chuyển sang giọng Rê thứ. Dàn dây chơi col legno (dùng phần gỗ của vĩ kéo lên dây đàn). Một giai điệu đối âm được chơi trên oboe. Tâm trạng của chương nhạc thay đổi. Chủ đề thứ hai, một trong những phần đặc biệt nhất của bản giao hưởng, xuất hiện. Mahler sử dụng cymbals, bass drum, oboe, clarinet và trumpet để tạo ra một ban nhạc Klezmer (đặc trưng của người Do Thái), vồn là nguồn gốc của Mahler và rồi sau đó quay lại chủ đề đầu tiên. Chương nhạc có hình thức ABA với phần B ở giọng Son trưởng, trầm ngâm hơn, được Mahler lấy từ bài hát thứ tư Die zwei blauen Augen von meinem Schatz (Đôi mắt xanh của người tôi yêu) của tập Lieder eines fahrenden Gesellen. Phần B kết thúc, phần A lặp lại dưới nhiều hình thức khác nhau. Mahler đã khéo léo chuyển từ tâm trạng cực đoan này sang tâm trạng cực đoan khác mà không tạo cảm giác đứt đoạn. Mahler tự nhận xét: “như một biểu hiện của tâm trạng đôi khi mỉa mai và hạnh phúc, đôi khi kỳ lạ và suy tư”.

Chương IV không được Mahler sử dụng hình thức sonata-allegro nhưng vẫn có thể nhìn thấy dấu vết của ba phần: trình bày, phát triển và tái hiện. Chất liệu từ những chương nhạc trước được sử dụng lại, bổ sung vào đó là các motif lấy cảm hứng từ giao hưởng Dante của Liszt và Parsifal của Wagner. Tiêu đề của phiên bản thứ ba: Từ địa ngục lên thiên đường được Mahler mô tả bằng những khoá nhạc với Pha thứ tượng trưng cho địa ngục và Rê trưởng đại diện cho thiên đường. Mahler giải thích cho Bauer-Lechner vào tháng 11/1900: “Chương cuối cùng, nối tiếp chương trước đó mà không bị gián đoạn, bắt đầu bằng một sự phản đối kịch liệt. Vị anh hùng của chúng ta hoàn toàn bị bỏ rơi, tham gia vào một trận chiến khủng khiếp nhất với tất cả nỗi buồn của thế giới này. Hết lần này đến lần khác, anh ta và motif chiến thắng bị số phận giáng một đòn bất cứ khi nào anh ta vượt lên trên nó và dường như nắm được nó, chỉ trong cái chết, khi anh ta đã chiến thắng chính mình, anh ta mới giành được chiến thắng. Sau đó, sự ám chỉ tuyệt vời về tuổi trẻ của anh ấy lại vang lên với chủ đề của chương nhạc đầu tiên”.

Chương cuối được chơi liền mạch với chương trước đó, không bị gián đoạn (attaca), mở đầu đột ngột trong tiếng cymbal. Ngay sau đó là một hợp âm bất hoà nổi bật trên kèn gỗ, dàn dây và kèn đồng trên nền tiếng bass drum tương phản với cái kết của chương III. Đó chính là sự ám chỉ đến địa ngục, là “sự tuyệt vọng đột ngột bột phát từ một trái tim bị tổn thương sâu sắc”. Chương nhạc tiến về phía trước một cách điên cuồng cho đến khi xuất hiện chủ đề hai rộng rãi, khoáng đạt và trữ tình ở giọng Rê giáng trưởng. Phần phát triển bắt đầu với một motif địa ngục khác, lấy từ giao hưởng Dante của Liszt, cũng miêu tả hành trình đi từ địa ngục, qua luyện ngục (nằm giữa địa ngục và thiên đường) rồi tới thiên đường. Motif này được chơi trên horn, clarinet và oboe ở giọng Son thứ. Sau đó là motif chiến thắng ở giọng Đô trưởng được lấy từ chủ đề Chén thánh trong Parsifal của Wagner, do những chiếc kèn đồng đảm nhận. Cả hai motif này được phát triển dẫn đến một cao trào ở giọng Đô thứ, motif chiến thắng được điều chỉnh thành giọng Rê trưởng, người anh hùng chính thức đặt chân lên thiên đường. Bè horn chơi một phiên bản thay đổi của các quãng 4 giảm từ chương I, chủ đề thiên nhiên. Những chủ đề khác của chương I cũng xuất hiện tại đây, người anh hùng đang nhớ lại thời tuổi trẻ vô tư lự của mình. Trong phần tái hiện, người anh hùng rõ ràng là đã rời khỏi địa ngục, bắt đầu với chủ đề hai khoáng đạt, rộng rãi nhưng ở giọng Pha trưởng, được biến đổi thành Pha thứ sau đó. Bản giao hưởng đạt đến cao trào, nơi motif chiến thắng trở lại lần cuối cùng cùng với chủ đề thiên nhiên ở giọng chủ Rê trưởng khép lại bản giao hưởng số một trong một không khí khoa trương và hân hoan tột độ.

Mahler nói về bản giao hưởng đầu tiên của mình: “Đó là tác phẩm được sáng tác một cách tự phát và táo bạo nhất trong số các tác phẩm của tôi”. Đây thực sự là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển của thể loại giao hưởng. Tác phẩm này có thời lượng thuộc loại ngắn nhất trong số những bản giao hưởng của Mahler nhưng lại là tương đương với những bản dài nhất cùng thể loại của đa số nhà soạn nhạc khác. Biên chế dàn nhạc thì đồ sộ hơn tất cả. Nhưng đó chỉ là về mặt hình thức. Về mặt nội dung, bản Giao hưởng số 1 này chứa đựng những xung đột kịch tính, sự biến đổi đột ngột về mặt cảm xúc, một bảng màu sắc của các nhạc cụ được mở rộng, mang tới một thứ ngôn ngữ vượt lên trên thời đại của Mahler. Chính Mahler cũng cảm thấy bối rối trước sức mạnh nội tại mà bản giao hưởng mang lại. Không một tác phẩm nào khác của Mahler có lịch sử phức tạp, khiến nhà soạn nhạc thay đổi ý định thường xuyên và trong một khoảng thời gian dài như vậy. Ông đã thay đổi toàn bộ khái niệm bằng cách hủy bỏ nguyên một chương nhạc, thực hiện những thay đổi đáng chú ý về tiêu đề của tác phẩm và các chương nhạc. Cuối cùng, Mahler không chắc chắn mình đã sáng tác ra một thơ giao hưởng, một bản giao hưởng chương trình hay chỉ là một bản giao hưởng “tuyệt đối”. Ngày nay, Giao hưởng số 1 là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất và được biểu diễn thường xuyên nhất của Mahler.

Ngọc Tú tổng hợp

Nguồn:
sfsymphony.org
orsymphony.org
gustavmahler.com
indianapolissymphony.org