“Điều tuyệt vời nhất trong cuộc đời tôi là được biết Kathleen Ferrier và Gustav Mahler – theo thứ tự đó.” – Bruno Walter

Cách vươn mình để trở thành một ngôi sao tầm cỡ thế giới của Kathleen Ferrier là một câu chuyện đáng kinh ngạc và vô cùng độc đáo. Không được đào tạo chính quy về thanh nhạc, bà là một nghệ sĩ piano đầy triển vọng nhưng vì hoàn cảnh gia đình, Ferrier không theo đuổi sự nghiệp âm nhạc mà trở thành một điện thoại viên của Tổng cục Bưu điện Anh. Tài năng ca hát của bà được phát hiện khi Ferrier, lúc đó 25 tuổi, tham gia một cuộc thi thanh nhạc. Kể từ đó, giọng hát contralto độc đáo của Ferrier bắt đầu trở nên nổi tiếng và bà mới quyết định trở thành ca sĩ chuyên nghiệp. Sự nghiệp của bà nhanh chóng thăng hoa nhưng không kéo dài được bao lâu. Căn bệnh ung thư vú đã cướp đi sinh mạng của Ferrier khi bà mới 41 tuổi, đúng lúc con đường nghệ thuật đang ở thời kỳ rực rỡ nhất. Không hát nhiều opera, kịch mục của bà chỉ có duy nhất hai vở The Rape of Lucretia (Benjamin Britten) và Orfeo ed Euridice (Christoph Willibald Gluck) nhưng thành tựu huy hoàng nhất của bà là ở những tác phẩm thanh nhạc lớn, đặc biệt là của Gustav Mahler. Chỉ trong 15 năm sự nghiệp ngắn ngủi, bà đã cống hiến tất cả những gì tuyệt vời nhất, thậm chí nhiều hơn hầu hết những ca sĩ khác có thể đạt được trong cả cuộc đời họ. Ferrier xứng đáng là một trong những tên tuổi ưu tú nhất mà nền thanh nhạc cổ điển Anh từng sở hữu.

Kathleen Ferrier là đứa con thứ ba và là út của ông William, hiệu trưởng một trường học tại địa phương và bà Alice, một ca sĩ. Cô bé Kathleen sinh ngày 22/4/1912 tại làng Higher Walton, Lancashire, phía tây bắc nước Anh. Khi Kathleen hai tuổi, cả gia đình cô chuyển tới Blackburn vì ông William được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường St. Paul tại đó. Ngay từ khi còn nhỏ, cô bé đã thể hiện năng khiếu chơi piano của mình. Kathleen được gia đình cho theo học giảng viên Frances Walker, một thầy giáo nổi tiếng trong vùng. Trong các năm 1924 và 1925, cô bé liên tiếp giành giải tư và hai trong cuộc thi piano tại liên hoan Lytham St Annes. Tuy nhiên, ước mơ được tiếp tục theo đuổi con đường trở thành nghệ sĩ piano chuyên nghiệp của Kathleen đã không trở thành hiện thực. Ông William nghỉ hưu, dẫn đến việc đời sống kinh tế của gia đình gặp khó khăn. Họ không đủ tiền chu cấp cho đứa con gái tài năng của mình theo học piano chính quy tại nhạc viện. Tháng 8/1926, khi chỉ mới 14 tuổi, cô rời trường học và trở thành thực tập sinh trực tổng đài điện thoại của Tổng cục Bưu điện dù vẫn tiếp tục theo học với Walker. Tháng 11/1928, Kathleen giành chiến thắng trong cuộc thi piano cấp vùng dành cho các nghệ sĩ piano trẻ do Daily Express tổ chức. Mặc dù thất bại tại vòng chung kết ở London nhưng cô cũng có được phần thưởng là một chiếc piano đứng hiệu Cramer.

Ngày 10/3/1929, Ferrier xuất hiện tại Blackburn’s King George’s Hall với tư cách nghệ sĩ đệm piano. Ngày 3/7/1930, lần đầu tiên tiếng đàn của Ferrier được vang trên sóng phát thanh qua các tác phẩm của Johannes Brahms và Percy Grainger. Cũng trong khoảng thời gian này, cô đã hoàn thành khoá học và trở thành điện thoại viên chính thức của Tổng cục Bưu điện. Năm 1931, Ferrier giành được chứng chỉ âm nhạc của Royal Academy of Music và bắt đầu hát trong một dàn hợp xướng. Cô thậm chí đã có được một vai nhỏ trong oratorio Elijah của Felix Mendelssohn. Mặc dù vậy, giọng hát của Ferrier vẫn được đánh giá là không hề đặc biệt. Năm 1934, cô chuyển đến làm việc tại tổng đài điện thoại ở Blackpool và sống với người bạn trai Albert Wilson, một nhân viên ngân hàng. Ferrier cũng tham gia cuộc thi tuyển chọn giọng nói cho dịch vụ báo giờ đồng hồ trên điện thoại nhưng thất bại ở vòng chung kết. Năm 1935, Ferrier kết hôn với Wilson. Điều này đồng nghĩa với việc công việc điện thoại viên của cô kết thúc vì Tổng cục Bưu điện có quy định chỉ tuyển những nhân viên còn độc thân. Nhìn lại sự nghiệp của Ferrier trong quãng thời gian này, nhà viết tiểu sử âm nhạc Humphrey Burton đã đúc kết: “Trong hơn một thập kỷ, khi lẽ ra cô ấy phải được học nhạc với những giáo viên giỏi nhất, học văn học Anh và ngoại ngữ, tiếp thu những kỹ năng sân khấu và thường xuyên du lịch tới London để xem opera thì thực sự Ferrier đã phải trả lời điện thoại, kết hôn với một nhân viên ngân hàng và chiến thắng trong một cuộc thi vô giá trị với tài năng piano của mình”.

Vợ chồng Ferrier chuyển tới Silloth, một thị trấn cảng nhỏ ở Cumberland, nơi Wilson được bổ nhiệm làm giám đốc chi nhánh ngân hàng. Năm 1937, Ferrier quyết định tham gia thi tài ở hạng mục piano lẫn hạng mục ca hát tại liên hoan Carlisle và giành được cả hai giải nhất. Và với chiến thắng này, bà đã lần đầu được mời xuất hiện với tư cách ca sĩ chuyên nghiệp tại liên hoan Aspatria vào mùa thu năm 1937. Kể từ đó, Ferrier thường xuyên được mời biểu diễn với tư cách ca sĩ và tên tuổi bà dần trở nên nổi tiếng. Tài năng của bà đã gây ấn tượng với nhạc trưởng J. E. Hutchinson. Ông đã trở thành giáo viên và là người hướng dẫn của Ferrier, đưa bà đến với các tác phẩm thanh nhạc của Johann Sebastian Bach, George Frideric Handel, Brahms và Edward Elgar. Tháng 1/1941, Ferrier thử giọng thành công trước Hội đồng khuyến khích Âm nhạc và Nghệ thuật, cơ quan có nhiệm vụ giúp thúc đẩy và duy trì văn hóa Anh. Dưới sự bảo trợ của hội đồng này, bà biểu diễn cho các trại quân sự, nhà máy và các nơi làm việc khác, ở bất cứ đâu mà nghệ sĩ có thể gặp gỡ khán giả. Đây là những “khoá đào tạo” vất vả nhưng vô cùng có giá trị đối với con đường nghệ thuật sau này của Ferrier. Bà đã tích luỹ thêm kinh nghiệm và mở rộng danh mục biểu diễn của mình với nhiều tác phẩm thanh nhạc lớn và vô số ca khúc thính phòng của Franz Schubert hay Robert Schumann.

Bước ngoặt quan trọng đến với sự nghiệp của Ferrier đến vào năm 1942. Một nghệ sĩ violin giới thiệu bà với nhạc trưởng Malcolm Sargent một cách ngắn gọn: “Cô gái này có giọng hát!”. Sargent đã nghe Ferrier hát tại một khách sạn ở Manchester và ngay sau đó ông đã liên lạc với đại lý tổ chức hoà nhạc Ibbs và Tillett. Ferrier trải qua một cuộc thử giọng khác tại London và bà được đề nghị chuyển tới sinh sống tại đây để thuận tiện cho việc biểu diễn. Cùng với chị gái Winifred, Ferrier đã chuyển tới sinh sống tại một căn hộ ở Frognal Mansions, Hampstead vào ngày 24/12/1942. Buổi biểu diễn đầu tiên của Ferrier tại London diễn ra bốn ngày sau đó. Ngày 28/12/1942, tại National Gallery, bà đã hát các ca khúc của Schubert và Brahms trong một chương trình do Myra Hess tổ chức. Mặc dù được hoan nghênh nhưng bản thân Ferrier tỏ ra thất vọng với chính mình và nhận thấy cần phải nâng cao hơn nữa khả năng thanh nhạc. Bà đã đến gặp baritone Roy Henderson, người mà Ferrier đã từng cộng tác trước đó trong Elijah. Henderson đã đồng ý dạy Ferrier và trở thành người cố vấn tích cực của bà cho đến cuối đời. Ông đã nhận xét về cô học trò nổi tiếng của mình: “giọng điệu ấm áp và rộng rãi của cô ấy một phần là do kích thước lớn bất thường của khoang ở phía sau cổ họng “người ta có thể bắn một quả táo có kích thước tương đối vào ngay phía sau cổ họng mà không bị cản trở”. Không gian này đã tạo cho cô ấy chiều sâu và sự tròn trịa của giai điệu rất đặc biệt. Giọng hát bật ra vì không gì có thể ngăn cản được”. Tuy nhiên lợi thế tự nhiên này chưa đủ để đảm bảo cho chất lượng giọng hát của Ferrier, mà nó đến từ “sự chăm chỉ, tính nghệ thuật, chân thành, nhân phẩm và trên hết là tính cách của cô ấy”.

Ngày 17/5/1943, Ferrier hát trong Messiah (Handel) tại tu viện Westminster, cùng với Isobel Baillie và Peter Pears dưới sự chỉ huy của Reginald Jacques. Theo nhà âm nhạc học Neville Cardus, chính nhờ màn trình diễn này mà Ferrier đã “đưa ra lời kêu gọi nghiêm túc đầu tiên của cô ấy đối với các nhà soạn nhạc”. Sự xuất hiện thường xuyên của bà trên sóng phát thanh đã đưa tên tuổi của bà lan toả khắp nước Anh. Trong giai đoạn này, bà may mắn có được sự cộng tác của nghệ sĩ đệm piano kỳ cựu Gerald Moore. Moore chính là người cộng tác cùng Ferrier trong bản thu âm đầu tiên của bà vào năm 1944 với các bài hát của Maurice Greene, thực hiện cho hãng Columbia. Tuy nhiên, mối quan hệ của bà với nhà sản xuất của Columbia, Walter Legge danh tiếng không được tốt nên chỉ sau một khoảng thời gian ngắn, Ferrier đã chuyển sang hợp tác với Decca. Trong những năm tháng còn lại của Thế chiến thứ hai, bà liên tục đi biểu diễn trên khắp nước Anh. Tháng 11/1944, tại Leed, Ferrier đã hát phần Thiên thần trong tác phẩm dành cho hợp xướng và dàn nhạc The Dream of Gerontius của Elgar, một trong những vai nổi bật trong sự nghiệp của bà. Tháng 12/1944, trong một tác phẩm khác của Elgar, Sea Pictures, Ferrier đã cộng tác với nhạc trưởng John Barbirolli. Sau đó ông đã trở thành bạn thân thiết và người ủng hộ bà mạnh mẽ. Mặc dù Ferrier thường xuyên biểu diễn các trích đoạn opera trong các chương trình của mình nhưng bà không tỏ ra hứng thú với việc hát trong cả vở. Tuy nhiên, Britten, người đã chứng kiến tài năng của bà qua đêm nhạc Messiah tại tu viện Westminster đã thuyết phục Ferrier đóng vai Lucretia trong vở opera ông mới sáng tác The Rape of Lucretia, sẽ được công diễn khai mạc cho liên hoan Glyndebourne đầu tiên sau chiến tranh. Bất chấp những lo ngại ban đầu, Ferrier đã viết thư cho người đại diện của mình, cho biết: “Thích (các buổi diễn tập) rất nhiều và tôi nghĩ đó là phần hay nhất mà một nhà soạn nhạc có thể sáng tác”. Buổi ra mắt vở opera diễn ra vào ngày 12/7/1946 dưới sự chỉ huy của Ernest Ansermet. Tác phẩm bị đón nhận hờ hững nhưng Ferrier được tung hô. Sau đó The Rape of Lucretia được biểu diễn tại Amsterdam. Đây là lần xuất ngoại đầu tiên của Ferrier và bà rất phấn khích vì sự nồng nhiệt của khán giả Hà Lan. Sau thành công với The Rape of Lucretia, năm 1947, bà quay trở lại liên hoan Glyndebourne để hoá thân vào Orfeo (Orfeo ed Euridice). Bất chấp sự hạn chế trong diễn xuất của bà đã gây ra một vài xung đột với nhạc trưởng Fritz Stiedry, buổi ra mắt vào ngày 19/6 một lần nữa khiến khán giả vô cùng hào hứng.

Tổng giám đốc Rudolf Bing của liên hoan Glyndebourne đã giới thiệu bà với Bruno Walter để hát trong Das lied von der erde (Mahler) tại liên hoan Edinburgh vào năm 1947. Ban đầu Walter e dè khi tiếp nhận một ca sĩ mới nhưng sau khi nghe Ferrier hát, mọi sự lo ngại đã biến mất, nhường chỗ cho sự hân hoan: “Tôi vui mừng nhận ra rằng ở đây có khả năng là một trong những ca sĩ vĩ đại nhất của thời đại chúng ta”. George Lascelles, trong cuốn tiểu sử về Ferrier đã nhận xét mối quan hệ giữa bà và Walter là “sự phù hợp hiếm có giữa âm nhạc, giọng hát và khí chất”. Bản thân Ferrier cũng cho biết Walter đã giúp bà xoá bỏ mọi mặc cảm khiến bà trước đó không dám thả trôi cảm xúc của mình. Khi hát Das lied von der erde, khi lặp lại từ Ewig lần cuối cùng, mắt Ferrier đẫm lệ, giọng hát bà ngập ngừng trong im lặng. Trở về phòng của các nghệ sĩ, bà xin lỗi Walter rằng cuối cùng mình đã thất bại. Walter đã trả lời: “Cô Ferrier thân mến của tôi, nếu tất cả chúng tôi đều là những nghệ sĩ vĩ đại như cô, thì tất cả chúng tôi đều phải khóc – dàn nhạc, khán giả, bản thân tôi – tất cả chúng tôi đều phải khóc”. Ferrier sở hữu một giọng contralto thực thụ, hiếm có, trầm và ấm áp (Janet Baker đã so sánh nó với chất lượng của sô cô la sữa đen). Bà luôn nỗ lực cho sự hoàn hảo và thường xuyên đạt được nó. Susan Gritton, người chiến thắng giải thưởng Kathleen Ferrier năm 1994 nhận xét: “Âm thanh đặc biệt của bà sẽ thu hút bạn, và sự kết nối đặc biệt của bà với lời hát, với trái tim qua những gì bà hát, dường như sẽ tồn tại lâu hơn những thay đổi trong cách diễn giải”. Còn nhà soạn nhạc Jocelyn Pock cho biết chính nội hàm của giọng hát, cũng như tính âm nhạc của nó có sức cộng hưởng lớn nhất: “Giọng hát của cô ấy thực sự gói gọn một quá khứ. Đó là kiểu hoài niệm về một thời đại mà tôi không sống ở đó… đó là một giọng hát cực kỳ độc đáo, không giống ai và có thể nhận ra ngay lập tức”. Cùng với việc sở hữu một gương mặt đẹp đôn hậu, nụ cười tươi tắn, Ferrier luôn gây được ấn tượng tốt đẹp với bất cứ ai. Khi lần đầu gặp gỡ Ferrier, Marian Anderson, người hiếm hoi có thể cạnh tranh với Ferrier về danh hiệu giọng contralto vĩ đại nhất thế kỷ 20 đã thốt lên: “Chúa ơi! Giọng hát này! Gương mặt này!”.

Những năm cuối thập niên 40 là giai đoạn vàng son trong sự nghiệp của Ferrier. Ngày 1/1/1948, bà lên đường tới Mỹ, bắt đầu chuyến đi đầu tiên trong tổng số ba lần vượt Đại Tây Dương. Ngày 15/1, cùng Walter và New York Philharmonic, bà đã hát trong Das lied von der erde trước sự chứng kiến của Alma, người vợ goá của Mahler. Sau đó là các buổi biểu diễn tại Ottawa và Chicago. Ngày 14/7/1941, tại Amsterdam, cùng các ca sĩ Peter Pears, Jo Vincent, nhạc trưởng Eduard van Beinum và Concertgebouw Orchestra, Ferrier đã biểu diễn bản giao hưởng Mùa xuân của Britten, trong đó phần contralto được dành riêng cho bà. Tại liên hoan Edinburgh vào tháng 9 sau đó, Walter đã đệm piano cho Ferrier trong hai chương trình độc tấu, màn hợp tác tuyệt vời đến nỗi Ferrier đã thốt lên: “Một đỉnh cao mà tôi đã tìm tòi trong ba năm qua”. Trong suốt 18 tháng sau đó, Ferrier hoạt động không ngừng nghỉ ở hai bờ Đại Tây Dương. Trong chuyến đi Mĩ lần cuối vào năm 1950, dưới sự chỉ huy của Pierre Monteux, bà đã hát trong Orfeo ed Euridice tại San Francisco. Cũng trong năm này cùng Herbert von Karajan, bà đã thu âm hai tác phẩm thanh nhạc lớn của Bach là St Matthew Passion và Mass giọng Si thứ, trong đó, khi bà cất tiếng hát trong Agnus Dei (Mass), mọi người đã chứng kiến nước mắt rơi trên khuôn mặt Karajan.

Tháng 3/1951, giữa lúc sự nghiệp đang vô cùng thăng hoa, lịch biểu diễn dày đặc, Ferrier bất ngờ bị chẩn đoán ung thư vú. Bà đã thực hiện cuộc phẫu thuật vào ngày 10/4 và tất cả các chương trình sau đó đều bị huỷ bỏ. Ferrier bắt đầu biểu diễn lại vào ngày 19/6 với Mass giọng Si thứ tại Royal Albert Hall. Sau đó là chuyến biểu diễn và thu âm tại Hà Lan với Otto Klemperer trong Giao hưởng số 2 “Phục sinh” của Mahler. Mặc dù có vẻ đã hồi phục nhưng thực tế sức khoẻ của bà đã suy giảm rất nhiều. Lịch trình của bà trong suốt mùa hè năm đó là các chuyến biểu diễn xen lẫn với việc điều trị tại bệnh viện. Tháng 11/1951, tại Manchester, bà đã hát Land of hope and glory (Elgar) khiến Barbirolli thốt lên: “Khiến tất cả mọi người, nhất là nhạc trưởng, phải rơi nước mắt”. Sau đó, bà phải nghỉ ngơi trong hai tháng để tiến hành xạ trị. Tháng 1/1952, bà cùng Britten và Pears thực hiện một loạt các chương trình hoà nhạc để gây quỹ cho English opera group của Britten, được Britten miêu tả là “có lẽ đáng yêu nhất trong tất cả” trong các mối quan hệ nghệ thuật của ông với Ferrier. Sức khoẻ của bà ngày càng xấu đi, Ferrier từ chối liệu pháp tiêm androgen cũng như cắt bỏ buồng trứng vì nó có hại tới giọng hát của bà. Tháng 5/1952, bà tới Vienna để cùng tenor Julius Patzak, Walter và Vienna Philharmonic thu âm Rückert-Lieder (Mahler) và Das lied von der erde, được coi là một trong những bản thu âm tuyệt vời nhất của bà cũng như của tác phẩm này. Walter đã nhận xét về màn trình diễn của Ferrier: “Có sự vượt trội trong chương cuối cùng về cảm xúc và giọng hát. Có một ánh sáng rạng rỡ kỳ lạ trong đôi mắt của cô ấy khiến cho màn trình diễn của Ferrier – trong hình ảnh lý tưởng về tác phẩm của Mahler – một thông điệp cá nhân sâu sắc”. Đó là một lời chia tay vì hai người bạn tri âm trong âm nhạc không bao giờ còn gặp lại nhau nữa.

Đầu năm 1953, Ferrier háo hức với màn ra mắt tại Covent Garden trong Orfeo ed Euridice, dự kiến gồm bốn buổi. Một dự án do Barbirolli khởi xướng. Buổi biểu diễn đầu tiên vào ngày 3/2 đã diễn ra tốt đẹp, Ferrier không chỉ được khen ngợi về giọng hát của mình mà còn cả về diễn xuất, điều mà bà vẫn thường hay bị chỉ trích. Trong đêm thứ hai, ngày 6/2, một mảnh xương hông bị rời ra, nhưng như một kỳ tích, với sự hỗ trợ của các đồng nghiệp, bà vẫn hoàn thành màn trình diễn của mình mà khán giả không hề cảm thấy có gì khác biệt. Ngay sau khi kết thúc, bà được chuyển thẳng tới bệnh viện. Đó cũng là lần xuất hiện cuối cùng của Ferrier trên sân khấu. Bà vẫn giấu giếm về bệnh tật của mình. Thông cáo báo chí cho biết: “Ferrier đang bị viêm khớp và cần được điều trị ngay lập tức. Nguyên nhân là do căng thẳng về thể chất trong quá trình diễn tập và thực hiện vai diễn của bà trong Orfeo”. Mặc dù đã trải qua hai lần phẫu thuật nữa nhưng tình trạng của Ferrier tiếp tục chuyển biến xấu. Bà qua đời tại bệnh viện University College vào ngày 8/10/1953 ở tuổi 41. Di hài bà được an táng tại nghĩa trang Golders Green. Tất cả tài sản Ferrier để lại chỉ là một ngôi nhà trị giá 15.134 bảng Anh, mà người viết tiểu sử bà, Maurice Leonard nhận xét “Không phải là tài sản đối với một ca sĩ nổi tiếng thế giới, ngay cả theo tiêu chuẩn ngày nay”. Trong buổi lễ tưởng niệm bà sau đó vào ngày 14/11/1953 tại Nhà thờ Southwark, giám mục Croydon trong bài điếu văn đã nói: “Cô ấy dường như mang đến thế giới này một ánh hào quang từ một thế giới khác”. Bà qua đời để lại dự án Brangäne (Tristan und Isolde, Wagner) tại liên hoan Bayreuth còn dang dở.

Ngay sau cái chết của Ferrier, Barbirolli, Walter, Hess và nhiều người khác đã đưa ra lời kêu gọi thành lập quỹ nghiên cứu ung thư mang tên Ferrier. Bên cạnh đó, năm 1956, dưới sự bảo trợ của Royal Philharmonic Society, Quỹ học bổng tưởng nhớ Kathleen Ferrier cũng được ra đời, nhằm khuyến khích các ca sĩ trẻ của Anh cũng như khối Thịnh vượng chung. Thật đáng tiếc cho thế hệ đi sau vì không thể trực tiếp thưởng thức giọng hát của bà mà chỉ có thể qua các bản thu âm. Nhưng như nhà phê bình âm nhạc Alan Blyth nói về những đĩa nhạc này: “Âm thanh của riêng nó mang lại cho người nghe ngày nay chỉ bằng 1/4 ấn tượng mà nó đã tạo ra khi bạn có thể nhìn cũng như nghe thấy cô ấy. Tôi chỉ đơn giản là cúi đầu trước âm thanh của giọng hát và vẻ rạng rỡ thực sự với sự hiện diện của cô ấy – mọi người đều sử dụng từ đó, nhưng nó rất chính xác. Và cách cô ấy có thể giao tiếp trực tiếp với khán giả của mình”. Bộ phim tài liệu về cuộc đời của bà La vie et l’art de Kathleen Ferrier (Cuộc đời và nghệ thuật của Kathleen Ferrier) đã được Diane Perelsztejn và ARTE France thực hiện vào năm 2012 nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của bà, có các cuộc phỏng vấn với những người họ hàng gần, bạn bè và đồng nghiệp của bà, phần nào cho chúng ta thấy được một cái nhìn về cuộc đời và những đóng góp dù ít ỏi nhưng rất vĩ đại cho nghệ thuật của Ferrier.

Cobeo