CHƯƠNG XV – THẦY DÒNG PRÉVOST TẠI NHÀ HÁT OPÉRA-COMIQUE
Một buổi sáng mùa thu năm 1881, tôi khá bối rối, thậm chí lo lắng bởi Carvalho, khi ấy là giám đốc Nhà hát Opéra-Comique, đã giao cho tôi kịch bản ba màn La Phœbé của Henri Meilhac. Tôi đã đọc đi đọc lại mà chẳng thấy có gì hấp dẫn mình; tôi vật lộn với tác phẩm phải viết; tôi bực dọc và sốt ruột!
Lòng đầy can đảm, tôi đến nhà Meilhac… Là tác giả may mắn của rất nhiều tác phẩm làm say lòng người và rất thành công, Meilhac đang ở trong thư viện của mình, giữa những cuốn sách hết sức quý hiếm có bìa tuyệt đẹp, một gia tài thực sự chất chồng trên một căn gác lửng, nơi ông cư ngụ ở số 30 phố Drouot.
Tôi vẫn nhớ cảnh ông đang viết trên chiếc bàn một chân, bên cạnh một chiếc bàn lớn khác theo phong cách Louis XIV thuần khiết nhất. Vừa trông thấy tôi, ông đã nở nụ cười thân thiện và như thể rất vui mừng vì tưởng tôi mang đến cho ông tin tức về La Phœbé của chúng tôi:
– Xong rồi ư?, ông hỏi tôi.
Lời chào này được tôi đáp lại ngay lập tức bằng giọng kém tự tin hơn:
– Vâng, xong rồi; chúng ta sẽ không bao giờ nói về nó nữa!
Một con sư tử bị nhốt trong chuồng cũng không thể tiu nghỉu hơn được. Sự bối rối của tôi lên tới tột độ, tôi thấy sự trống rỗng hư vô vây quanh mình, nhan đề một tác phẩm đập vào mắt tôi như một sự mặc khải.
– Manon! Tôi vừa kêu lên vừa chỉ cuốn sách cho Meilhac.
– Manon Lescaut, ý cậu là Manon Lescaut ư?
– Không! Manon, chỉ ngắn gọn là Manon thôi; Manon, chính là Manon!
Meilhac đã chia tay Ludovic Halévy được một thời gian ngắn trước khi cộng tác với một tâm hồn tinh tế tuyệt vời, một con người có trái tim dịu dàng và quyến rũ là Philippe Gille.
— Ngày mai hãy đến ăn trưa tại nhà hàng Vachette nhé, Meilhac bảo, tôi sẽ kể cho cậu nghe những gì tôi đã làm…
Ta có thể mường tượng cảnh khi nhận lời mời này, lòng tôi thấy tò mò phấn khích hơn hay thấy đói bụng hơn. Vậy là tôi đến nhà hàng Vachette, và tại đó, trước sự ngạc nhiên khó tả và vô cùng thú vị, tôi đã tìm thấy gì nào? Dưới tấm khăn ăn của tôi… là hai màn đầu vở Manon! Ba màn còn lại sẽ tới sau đó vài ngày.
Ý tưởng viết tác phẩm này đã ám ảnh tôi một thời gian dài. Đó là giấc mơ đã thành hiện thực.
Dù rất hào hứng với các buổi diễn tập Hérodiade và bị những chuyến đi thường xuyên tới Bruxelles gây nhiều phiền nhiễu, tôi đã bắt dầu soạn Manon vào mùa hè năm 1881.
Cùng mùa hè năm đó, Meilhac đến sống trong dinh thự Henri IV ở Saint-Germain. Tôi thường bất ngờ tới gặp ông ở đó vào khoảng năm giờ chiều khi biết ông đã xong ngày làm việc. Vậy là trong lúc dạo bộ, chúng tôi nghĩ ra các cách kết hợp ngôn từ mới mẻ cho bản libretto. Chính tại đó, chúng tôi đã quyết định về màn chủng viện và rồi để mang đến cho màn ấy một sự tương phản lớn hơn, tôi đã đòi có thêm màn Transylvania.
Tôi hài lòng biết bao về sự cộng tác này, về tác phẩm chúng tôi trao đổi ý tưởng mà không bao giờ xung đột, với mong muốn chung là đạt được sự hoàn hảo nhất có thể!
Thi thoảng Philippe Gille lại đến chia sẻ sự cộng tác hữu ích này vào giờ ăn tối và sự hiện diện của ông thật quý giá với tôi!
Tôi đã lưu giữ những kỷ niệm êm đềm và ngọt ngào biết bao kể từ thời điểm này ở Saint-Germain, trên sân thượng tráng lệ và dưới tán lá sum suê của khu rừng xinh đẹp ở đó!
Công việc đang tiến triển thì tôi phải trở lại Bruxelles vào đầu mùa hè năm 1882.
Trong những lần lưu trú khác nhau ở Bruxelles, tôi đã kết thân với một người bạn thú vị là Frédérix, một cây bút phê bình với sự thành thạo hiếm có ở mảng kịch tính và trữ tình trên các chuyên mục của tờ Độc lập Bỉ [l’Indépendance belge]. Anh chiếm một vị trí rất nổi bật trong báo giới nước mình; anh cũng được báo chí Pháp đánh giá cao.
Đó là người rất tài cán và được trời phú cho một tính cách thú vị. Diện mạo biểu cảm, hóm hỉnh và cởi mở của anh gợi nhớ đến diện mạo người anh cả nhà Coquelin. Trong số những người bạn thân thiết và tốt bụng tôi quen biết, anh là một trong những người đầu tiên nhắm mắt xuôi tay và không còn ở đó đợi tôi cũng như những người yêu mến mình.
Salomé của chúng tôi khi đó, Marthe Duvivier, người tiếp tục hát vai này trong Hérodiade suốt mùa diễn mới, đã đến nghỉ hè tại một ngôi nhà nông thôn gần Bruxelles. Một ngày nọ, anh bạn Frédérix đưa tôi đến nhà cô, và vì mang theo bản thảo các màn đầu vở Manon, tôi đã mạo hiểm có một buổi nghe thử rất thân mật trước mặt anh và cô ca sĩ xinh đẹp của chúng tôi. Ấn tượng mà tôi thu được từ buổi nghe thử này là nguồn khích lệ để tôi tiếp tục sáng tác.
Tôi trở lại Bỉ lần đó vì nhận được một lời mời đến Hà Lan với những điều kiện chắc chắn là thú vị.
Một quý ông người Hà Lan, một người thực sự rất yêu âm nhạc nhưng bề ngoài lại tỏ vẻ bình thản như xứ sở của Rembrandt đôi khi vẫn gửi đến chúng ta, đã khiến tôi thực hiện chuyến thăm đặc biệt nhất, ngoài mong đợi nhất có thể có. Biết trước là tôi đang viết opéra dựa trên tiểu thuyết của Thầy dòng Prévost, ông đã đề nghị tôi chuyển đến La Haye ở trong cùng căn hộ nơi Thầy dòng từng sống. Tôi đã chấp nhận lời đề nghị và nhốt mình – đó là vào mùa hè năm 1882 – trong căn phòng mà tác giả Hồi ký và chuyện phiêu lưu của một trang quý tộc từng ở. Giường ông nằm, một chiếc nôi lớn hình thuyền gondola, vẫn còn ở đó.
Những ngày ở La Haye của tôi trôi qua trong những mộng mơ và lang thang khi thì trên những cồn cát Scheveningen khi thì trong những khu rừng bao quanh dinh thự hoàng gia. Ở đó tôi cũng bắt gặp những cô bạn nai nho nhỏ xinh xắn tuyệt diệu đã mang đến cho tôi hơi thở tươi mát từ những chiếc mõm ẩm ướt…
…
Đã đến mùa xuân năm 1883. Tôi trở lại Paris với tác phẩm hoàn tất và hẹn gặp ông Carvalho ở số 54 phố Prony. Ở đó cùng với ông giám đốc, tôi thấy có bà Miolan-Carvalho, Meilhac và Philippe Gille. Manon được đọc từ chín giờ tối đến nửa đêm. Các bạn tôi có vẻ vui thích.
Bà Carvalho vui mừng ôm hôn tôi và không ngừng nhắc đi nhắc lại:
– Giá mà tôi trẻ hơn hai chục tuổi!
Tôi đã cố hết sức để an ủi nữ nghệ sĩ lớn. Tôi muốn có tên bà trên tổng phổ và tôi đã đề tặng bà tác phẩm.
Phải tìm được người vào vai nữ chính; rất nhiều cái tên đã được nhắc đến. Về các vai nam, Talazac, Taskin và Cobalet đã tạo thành một dàn diễn viên xuất sắc. Nhưng vai Manon vẫn chưa được quyết định giao cho ai. Chắc chắn là nhiều người có tài năng, thậm chí có danh tiếng lớn, nhưng tôi không cảm thấy một nghệ sĩ nào đáp ứng được vai diễn này như tôi mong muốn và có thể thể hiện Manon nham hiểm và thân thương bằng cả trái tim mà tôi đã đặt vào.
Tuy nhiên, tôi đã tìm thấy ở một nghệ sĩ trẻ, cô Vaillant-Couturier, những phẩm chất quyến rũ trong giọng hát khiến tôi giao cho cô phân phổ một vài đoạn trong vở. Tôi yêu cầu cô tập vai tại nhà xuất bản của tôi. Quả nhiên cô là Manon đầu tiên của tôi.
Hồi đó người ta đang trình diễn một tác phẩm rất thành công của Charles Lecocq tại Nhà hát Mới. Người bạn tuyệt vời của tôi là Hầu tước de La Valette, một người Paris chính hiệu, đã kéo tôi đến đó một tối nọ. Cô Vaillant – sau này là Bà Vaillant-Couturier – nữ nghệ sĩ quyến rũ mà tôi vừa nhắc đến, đã đóng vai chính một cách đáng yêu. Cô gây hứng thú lớn cho tôi; tôi thấy cô có nét tương đồng đáng kinh ngạc với một cô gái bán hoa trẻ tuổi trên Đại lộ Capucines. Tôi chưa từng nói chuyện (proh pudor!) với cô gái trẻ xinh đẹp này nhưng hình ảnh của cô đã ám ảnh tôi, ký ức về cô đã đồng hành cùng tôi: đó chính xác là Manon mà tôi đang hình dung và đã hình dung không ngừng trong quá trình sáng tác.
Phấn khích trước nữ nghệ sĩ đáng yêu của Nhà hát Mới, tôi đã yêu cầu được nói chuyện với ông giám đốc đáng mến của nhà hát, người có bản tính thẳng thắn và cởi mở, và với nữ nghệ sĩ vô song.
– Bậc thầy lừng danh, ông bắt chuyện, cơn gió nào mang anh đến đây vậy? Anh đang ở nhà mình, anh biết mà!
– Tôi đến đề nghị ông nhường cô Vaillant cho tôi dàn dựng một vở opéra mới…
– Anh bạn thân mến, điều anh mong muốn là không thể; tôi cần cô Vaillant. Tôi không thể đồng ý được.
– Ông nói thật ư?
– Thật hoàn toàn; nhưng tôi nghĩ nếu anh viết cho nhà hát chúng tôi một vở, tôi sẽ để anh có nghệ sĩ này. Thỏa thuận thế nhé, bibi?
Mọi chuyện dừng tại đó với những lời hứa hẹn chung chung của cả hai bên.
Trong khi cuộc đối thoại này đang diễn ra, tôi nhận thấy nữ hầu tước de La Valette tuyệt vời với chiếc mũ xám xinh xắn điểm hoa hồng đang rất bận rộn đi qua đi lại trước cửa phòng giải lao.
Đột nhiên tôi thấy chiếc mũ xinh xắn này tiến về phía mình.
– Vậy là những người mới vào nghề không còn nhận ra nhau nữa ư?
– Heilbronn!, tôi kêu lên.
– Đích thị!
Heilbronn vừa khiến tôi nhớ đến lời đề tặng tôi đã viết trên tổng phổ đầu tay và chính trong vở đó cô đã có màn ra mắt sân khấu.
– Cô vẫn hát chứ?
– Không! Tôi giàu nhưng, có nên nói cho anh biết không nhỉ? Tôi nhớ nhà hát; Tôi bị nhà hát ám ảnh. Ôi! giá mà tôi tìm được một vai diễn hay!
– Tôi có một vai đấy: Manon!
– Manon Lescaut ư?
– Không: Manon… Chỉ thế thôi.
– Tôi thử nghe nhạc được không
– Khi nào cô thích.
– Tối nay nhé?
– Không thể được! Đã gần nửa đêm rồi…
– Sao cơ? Tôi không thể đợi đến mai được. Tôi cảm thấy có cái gì đó ở đấy. Hãy kiếm tổng phổ đi. Anh sẽ thấy trong căn hộ của tôi (khi ấy nữ nghệ sĩ sống ở Đại lộ Champs-Elysées) cây piano mở sẵn và chùm đèn đã thắp sáng…
Tôi làm theo lời cô.
Tôi về nhà lấy tổng phổ. Đồng hồ điểm bốn giờ rưỡi khi tôi hát những ô nhịp cuối cùng trong cảnh cái chết của Manon.
Trong buổi nghe thử này, Heilbronn đã xúc động đến rơi lệ. Tôi nghe thấy tiếng cô thở dài qua làn nước mắt: “Đó là cuộc đời tôi… đó là cuộc đời tôi!”
Lần này cũng như mọi lần khác, những việc sau đó chứng tỏ rằng tôi đã đúng khi chờ đợi để từ tốn chọn lựa nữ nghệ sĩ sẽ phải sống với tác phẩm của tôi.
Carvalho ký kết thỏa thuận một ngày sau buổi nghe thử này.
Vào năm tiếp theo, sau hơn 80 buổi diễn liên tiếp, tôi hay tin Marie Heilbronn qua đời!…
…Ôi! ai sẽ nói với các nghệ sĩ rằng chúng ta trung thành với ký ức về họ biết bao, rằng chúng ta gắn bó với họ biết bao, rằng cái ngày chia ly vĩnh viễn đã mang đến cho chúng ta nỗi buồn đau vô hạn.
Tôi thà cho dừng biểu diễn còn hơn là xem tác phẩm do người khác hát.
Một thời gian sau, Nhà hát Opéra-Comique bị hỏa hoạn thiêu rụi. Trong vòng mười năm Manon không được diễn nữa. Sibyl Sanderson thân yêu và vô song chính là người tiếp quản tác phẩm tại Nhà hát Opéra-Comique. Cô đã hát trong buổi diễn thứ 200.
Vinh quang cho tôi là tác phẩm đạt tới buổi diễn thứ 500. Tối hôm ấy vai Manon do bà Marguerite Carré hát. Cách đây vài tháng, người nghệ sĩ quyến rũ và tinh tế này đã được hoan hô nhiệt liệt vào buổi diễn thứ 740.
Nhân đây cho phép tôi gửi lời chào đến những nghệ sĩ xinh đẹp cũng đã đóng vai này. Tôi đã nêu tên các cô Mary Garden, Géraldine Farar, Lina Cavalieri, bà Bréjean-Silver, các cô Courtenay, Geneviève Vix, các bà Edvina và Nicot-Vauchele cùng biết bao nữ nghệ sĩ thân yêu khác!… Họ sẽ thứ lỗi cho tôi nếu tên của họ không được viết ra dưới ngòi bút đầy biết ơn của tôi vào lúc này.
Nhà hát Ý (mùa diễn của Maurel), chỉ hai tuần sau buổi công diễn lần đầu Manon, như tôi đã nói, đã biểu diễn Hérodiade với những nghệ sĩ đáng ngưỡng mộ: Fidès Devriès, Jean de Reszké, Victor Maurel, Édouard de Reszké.
Trong khi tôi viết những dòng này vào năm 1911, Hérodiade đang tiếp tục sự nghiệp của mình tại Théâtre-Lyrique de la Gaîté (dưới sự điều hành của anh em Isola), những người mà vào năm 1903, đã dàn dựng tác phẩm này cùng với Emma Calvé nổi tiếng. Một ngày sau buổi công diễn lần đầu Hérodiade ở Paris, tôi nhận được những dòng này từ bậc thầy lừng lẫy Gounod của chúng tôi:
“Chủ nhật ngày 3 tháng 2 năm 84.
“Bạn thân mến,
“Tôi đã nghe tin về thành công của Hérodiade; nhưng tôi vẫn chưa tự mình nghe tác phẩm và tôi sẽ đi nghe càng sớm càng tốt, có thể là vào thứ Bảy. Một lần nữa xin chúc mừng anh, và
“Chúc anh may mắn.
“Ch. Gounod”
Trong khi đó, Marie-Magdeleine đang tiếp tục sự nghiệp của mình tại các liên hoan lớn ở nước ngoài. Tôi không khỏi tự hào sâu sắc khi nhớ đến bức thư Bizet viết cho tôi vài năm trước:
…“Trường phái của chúng ta chưa từng sản sinh ra thứ gì như thế này! Cậu làm tôi phát sốt đấy, tên cướp ạ!
“Cậu là một nhạc sĩ đáng tự hào, cố lên!”
“Vợ tôi vừa cất kỹ Marie-Magdeleine!…
“Chi tiết này thật hùng hồn phải không?
“Đồ quỷ sứ! cậu đang trở nên rất đáng lo ngại đấy!
“Về điều này, bạn thân mến ạ, hãy tin rằng không ai có lòng ngưỡng mộ và yêu mến chân thành hơn tôi.
“Bizet.”
Các con thân yêu ơi, các con sẽ cảm ơn cha vì đã để lại cho các con bằng chứng về tâm hồn sống động đến thế của người bạn trìu mên và người đồng đội xuất sắc Georges Bizet mà lẽ ra cha vẫn còn nếu số phận mù quáng không cướp mất anh giữa lúc tài năng phi thường và tuyệt vời của anh đang nở rộ.
Vẫn ở buổi bình minh của cuộc đời, khi lìa xa thế giới này, nhẽ ra anh đã đạt được tất cả từ môn nghệ thuật mà mình đã dành cho nhiều tình yêu đến thế.
Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch




