“Giọng hát của Verrett được dẫn dắt với xúc cảm mãnh liệt tức thì và cường độ sôi sục để thu hút người nghe. Bà cũng chú ý kỹ lưỡng tới từng chi tiết và một kỹ thuật chói sáng trong màn thể hiện của mình. Bà gần như tiệm cận mức một ca sĩ hoàn hảo.” – John Steane

Shirley Verrett, người đã vượt qua những phản đối tôn giáo và kỳ thị chủng tộc để trở thành một trong những ca sĩ opera xuất sắc và được ngưỡng mộ nhất trong thế hệ mình. Khởi đầu với chất giọng mezzo-soprano và rồi khi ở thập niên 70, trong giai đoạn giữa của sự nghiệp, khi nhận được rất nhiều sự tán tưởng, bà đã chuyển sang những vai soprano, mang theo bao hoài nghi của khán giả và những nhà phê bình. Mặc dù đã giành được một số thành công với tư cách một soprano nhưng rồi những vấn đề về sức khoẻ đã dẫn đến sự không ổn định trong giọng hát của Verrett và khiến bà nhận về nhiều sự chỉ trích. Bất chấp những điều đó, khi ở trong một thể trạng tốt nhất, Verrett dường như có tất cả: vẻ đẹp đặc biệt trong giọng hát, sắc thái đa dạng và những nốt cao có thể khiến cả những soprano thuần tuý cũng phải thán phục. Bản thân Verrett từ chối nhận xét về giọng hát của mình, bà hát những gì mà bà cảm thấy phù hợp. Có lẽ phân loại chính xác nhất cho giọng hát của Verrett là “chim ưng”, lấy theo tên của ca sĩ người Pháp nổi tiếng trong thế kỷ 19 Cornélie Falcon, đó là loại giọng với âm vực rộng, có thể hát được cả trong những vai dành cho mezzo-soprano và soprano. Một trường hợp điển hình khác là Jessye Norman. Và chính sự ôm đồm của Verrett lại mang đến tác dụng ngược, bà hầu như không thể đạt đến đỉnh cao nhất của vinh quang trong nghệ thuật dù là với những vai diễn mezzo-soprano hay soprano. Ngoài Lady Macbeth (Macbeth, Giuseppe Verdi), những vai diễn khác của Verrett, dù rất xuất sắc nhưng khó có thể coi là để đời khiến những người say mê opera phải nhớ đến ngay tên bà mỗi khi nhắc đến chúng. Nhưng hành trình của một cô gái da đen, bất chấp những rào cản khó có thể vượt qua được từ gia đình và xã hội để trở thành một tên tuổi opera nổi bật tại Mỹ và châu Âu, được ngay cả những khá giả khó tính nhất của thánh đường La Scala tung hô, luôn mang đến những giá trị nhân văn sâu sắc và là động lực lớn lao để những thế hệ đi sau học tập và nỗ lực vươn tới.

Shirley Verrett là con thứ hai trong số sáu người con của ông Leon và bà Elvira, một gia đình người Mỹ gốc Phi theo đạo Cơ đốc Phục Lâm. Shirley sinh ngày 31/5/1931 ở New Orleans, Louisiana nhưng sau đó cả gia đình chuyển đến sinh sống tại Los Angeles từ năm 1943 vì những định kiến về tôn giáo tại New Orleans. Shirley và các anh chị em mình được học trong hệ thống giáo dục của nhà thờ. Từ nhỏ Shirley đã say mê ca hát và cha cô, một ca sĩ nghiệp dư trong dàn hợp xướng của nhà thờ địa phương, chính là người thầy đầu tiên. Mặc dù ủng hộ con gái mình theo sự nghiệp ca hát, nhưng chỉ là trên sân khấu hoà nhạc, một con đường theo huyền thoại Marian Anderson, cha mẹ cô kiên quyết phản đối Shirley trở thành ca sĩ opera. Năm 1948, dưới sự khuyến khích của ông Leon, Shirley đã tham gia và giành chiến thắng trong vòng sơ loại của Cuộc thi Giọng hát Atwater Kent. Tại đây, cô đã thu hút được sự chú ý của baritone John Charles Thomas, ông đã đề nghị Shirley theo học với danh ca Lotte Lehmann tại Music Academy of the West nhưng cô đã từ chối. Một năm sau, cô trúng tuyển vào Oakwood College của đạo Cơ đốc Phục Lâm tại Huntsville, Alabama nhưng chỉ theo học ở đây một học kỳ trước khi trở về Los Angeles để đính hôn với James Carter, một nhà môi giới bất động sản.

Họ kết hôn vào năm 1951 và Verrett đã bán bất động sản cùng chồng trong vài năm tại thung lũng San Fernando. Carter, lớn hơn Verrett 14 tuổi và là một người thích kiểm soát và bạo hành. Cô quyết định chia tay với Carter sau khi phát hiện ra một khẩu súng được giấu dưới gối của ông. Việc ly hôn đã không hề dễ dàng và kéo dài với những ràng buộc về tôn giáo. Cô quay trở lại với các bài học thanh nhạc vào năm 1955 với giảng viên Madame Consoli và sau đó với ca sĩ nổi tiếng Anna Fitziu. Verrett cũng học lied và spiritual (những ca khúc tôn giáo của người da đen) với chỉ huy hợp xướng Hall Johnson. Cô tới New York để tham gia thử vai trong chương trình truyền hình Talent Scouts của Arthur Godfrey. Qua chương trình này, Marion Freschl, giảng viên thanh nhạc tại Juilliard School đã nhận ra tài năng của cô và thuyết phục Verrett trở thành sinh viên của trường. Ngay trong học kỳ đầu tiên tại Juilliard, Verrett đã giành chiến thắng trong cuộc thi hát mang tên Marian Anderson. Vẫn tuân theo ước muốn của cha mẹ mình, Verrett nuôi dưỡng khát khao trở thành một ca sĩ trong các chương trình hoà nhạc vì đạo Cơ đốc Phục Lâm không ủng hộ hát trên sân khấu opera. Tuy nhiên, buổi biểu diễn của Maria Callas vào ngày 29/10/1956 trong Norma (Vincenzo Bellini) tại Metropolitan Opera (lần ra mắt đầu tiên của Callas tại nhà hát) mà Verrett làm khán giả đã hoàn toàn đập tan định kiến này. Cô quyết tâm phải là một ngôi sao toả sáng trên sân khấu opera. Vai diễn chính thức đầu tiên của Verrett là Lucretia (The rape of Lucretia, Benjamin Britten) vào năm 1957 tại Yellow Springs, Ohio. Lúc này Verrett hát với tên Verrett-Carter. Cha mẹ của cô đã rất thất vọng. Verrett cũng có được những bài học với mezzo-soprano nổi tiếng Giulietta Simionato.

Năm 1958, Verrett ra mắt cùng New York City Opera trong vai Irina (Lost in the Stars, Kurt Weill). Năm 1959, Leopold Stokowski đã mời cô hát vai Tove trong cantata Gurre-Lieder của Arnold Schoenberg cùng Houston Symphony Orchestra. Tuy nhiên, ban giám đốc dàn nhạc đã kiên quyết không chấp nhận một ca sĩ da đen lĩnh xướng. Để đền bù, Stokowski đã đưa Verrett đến với Philadelphia Orchestra danh tiếng hơn trong El amor brujo (Manuel de Falla) và dẫn đến một bản thu âm tuyệt vời sau đó. Tháng 11/1959, lần đầu tiên cô xuất hiện tại châu Âu khi biểu diễn trong đêm ra mắt trên phạm vi toàn thế giới vở opera Rasputins Tod của Nicolas Nabokov tại Oper Köln. Cô cũng có được bản thu âm đầu tiên của mình tại châu Âu khi hát trong Giao hưởng số 9 của Ludwig van Beethoven dưới sự chỉ huy của Josef Krips và London Symphony Orchestra. Tháng 4/1961, Verrett giành chiến thắng tại Metropolitan Opera National Council Auditions, một cuộc thi nhằm phát hiện, hỗ trợ, quảng bá và phát triển các ca sĩ opera trẻ. Verrett đã sẵn sàng cho những sân khấu lớn hơn trong sự nghiệp.

Mặc dù Carmen (Carmen, Georges Bizet) là một trong những vai diễn nổi tiếng của Verrett, nhưng phải mất một thời gian, cô mới có thể chinh phục được các nhà phê bình. Buổi biểu diễn Carmen đầu tiên của Verrett, tại Spoleto, Ý, vào tháng 7/1962, bị chỉ trích là quá trí tuệ, không đủ thanh thoát. Cha mẹ của Verrett cũng có mặt và họ đã quỳ xuống và cầu Chúa xin tha thứ cho đứa con gái của mình. Trong lần lưu diễn đáng nhớ tại Liên Xô, là ca sĩ da đen đầu tiên cộng tác cùng nhà hát Bolshoi, vẫn là trong Carmen và Verrett đã toả sáng, được khán giả tung hô trong hơn 20 phút. Kể từ đó, bà trở nên nổi tiếng và Carmen là tấm giấy thông hành đưa Verrett tới những nhà hát danh giá. Trở về nước, tháng 10/1964, Verrett đã chinh phục khán giả trong Carmen tại New York City Opera. Louis Biancolli đã bình luận trên New York World-Telegram and Sun: “Một trong những Carmen quyến rũ nhất mà tôi từng thấy. Và là một trong những người tài giỏi nhất về giọng hát và sự khéo léo. Bà không thể hiện vai diễn này, bà chính là vai diễn”. Cũng trong năm này, Verrett được mời ký hợp đồng thu âm cùng RCA Victor. Ngày 11/5/1966, bà có buổi biểu diễn đầu tiên tại Covent Garden trong Ulrica (Un ballo in maschera, Verdi) cùng Jon Vickers và Lucia Popp dưới sự chỉ huy của István Kertész. Ngày 18/1/1967, bên cạnh những bạn diễn thượng thặng khác là Leontyne Price, Luciano Pavarotti và Nicolai Ghiaurov, Verrett đã lần đầu tiên hát tại La Scala trong Requiem của Verdi dưới sự chỉ huy của Herbert von Karajan. Đó là một bước tiến mới trong sự nghiệp của bà. Verrett cũng thường xuyên biểu diễn các tác phẩm thính phòng với lied từ Franz Schubert đến Gustav Mahler, mélodie của Pháp và các nhà soạn nhạc hiện đại như Ned Rorem, Darius Milhaud và Falla.

Vẫn là trong Carmen, Verrett có buổi ra mắt tại Metropolitan Opera vào ngày 21/9/1968 dưới sự chỉ huy của Zubin Mehta, bên cạnh Vickers, Mirella Freni và Justino Díaz. Lúc này, Verrett đã trở thành một trong những ca sĩ người Mỹ được yêu thích và nổi tiếng nhất. Tuy nhiên, bà cũng bị chỉ trích vì danh mục biểu diễn lúc đó tương đối hạn hẹp. Những vai diễn quen thuộc của Verrett là Eboli (Don Carlo), Amneris (Aida), Azucena (Il trovatore) của Verdi, Dalila (Samson et Dalila, Camille Saint-Saëns), Leonora (La favorita, Gaetano Donizetti) và một vài vai diễn nữa. Verrett giải thích: “Mối nguy hiểm thực sự trong bất kỳ loại âm nhạc nào là học và hát quá nhanh. Tôi muốn các nốt nhạc đến một cách dễ dàng và tự nhiên ở trong gola (cổ họng). Khi các nốt đã nằm chắc trong đó thì tôi mới có thể hiểu được phong cách hoặc đặc điểm của phần đó. Vấn đề là tôi không chỉ muốn hát những giai điệu đẹp, tôi muốn chúng tạo ra cảm xúc âm nhạc. Tôi muốn tìm hiểu và dự đoán ý nghĩa của các âm thanh”. Chính vì vậy, quyết định mở rộng thêm các vai soprano của Verrett vào đầu những năm 1970 mang lại sự chấn động lớn cho khán giả và giới mộ điệu, rất nhiều người phản đối quyết định được cho là liều lĩnh này của bà. Walter Legge, ông bầu quyền lực, người sáng lập Philharmonia Orchestra đã nói: “Tôi ước Verrett lắng nghe những phán đoán đúng đắn, dễ hiểu. Cô ấy đã tiếp cận được vị trí mezzo-soprano số một thế giới. Cô ấy cần phải bị cấm hát Norma… Tôi ngưỡng mộ cô ấy, sự chuyên tâm của cô ấy, khả năng diễn xuất tự nhiên, âm sắc mượt mà đáng yêu, sự lanh lẹ và sáng láng. Những phẩm chất đặc biệt này thật hiếm có ở một phụ nữ trẻ đẹp và ai đó phải đề ra luật pháp để ngăn cản.”

Tuy nhiên, chỉ ngay sau đó, bất kỳ nghi ngờ nào về việc Verrett có thể đảm nhận những vai soprano đã bị dập tắt. Vai Norma mà Legge kêu gọi cấm Verrett hát đã được bà trình diễn tuyệt vời đến mức nhà phê bình Richard Dyer đã thốt lên: “Những gì Verrett đã làm khiến cho phải thêm Norma của bà vào một nhóm chọn lọc các màn biểu diễn đương đại mà đã mở rộng tầm vóc của huyền thoại opera này”. Song song, bà vẫn duy trì các vai diễn mezzo-soprano của mình. Ngày 22/10/1973, một trong những thành tựu nổi bật nhất của Verrett xuất hiện tại Metropolitan Opera. Đó là buổi biểu diễn lần đầu tiên của nhà hát vở opera Les Troyens (Hector Berlioz). Verrett hát trong Cassandra. Tuy nhiên, Christa Ludwig, người được giao vai Dido bất ngờ bị ốm trước đêm diễn và Verrett đã hát cả hai vai diễn, giành được cho mình chiến thắng rực rỡ với những lời khen ngợi không dứt, ghi một dấn ấn đậm nét trong lịch sử của Metropolitan Opera. Alan Rich đã nhận xét trên New York Magazine: “Bà đã có được vinh quang và giọng hát ngọt ngào, mềm mại của bà tại thời điểm này đang ở đẳng cấp ngoại hạng. Phạm vi tâm trạng mà bà phải thể hiện trong suốt buổi tối dài, niềm đam mê rực cháy trong những giai điệu du dương mà Berlioz đã sáng tạo ra cho cả hai nhân vật nữ chính của mình: đó là những thử thách đáng kinh ngạc, và Verrett đã thoả mãn chúng theo cách phải được xếp hạng là một trong những cá nhân vĩ đại”. New Yorker thì ca ngợi đó là “một bước ngoặt trong lịch sử opera Mỹ”. Thời gian nghỉ giữa giờ được kéo dài thành 40 phút để giọng hát của Verrett có thêm thời gian để phục hồi.

Điểm sáng nhất trong sự nghiệp của Verrett đến vào ngày 7/12/1975 khi bà hát Lady Macbeth tại La Scala dưới sự chỉ huy của Claudio Abbado bên cạnh Pierro Cappuccilli và Nicolai Ghiaurov. Đây được coi vai diễn để đời của Verrett. Bà đã thể hiện một Lady Macbeth đầy dã tâm, tham vọng và điên loạn. Những nốt trầm gai góc và ẩn chứa sức mạnh rùng rợn và trong cảnh “mộng du”, bà kết thúc bản nhạc đầy ám ảnh của nhân vật bằng một nốt Rê giáng cao mềm mại và lung linh. Bản thu âm sau đó của Verrett trong Macbeth cùng với những bạn diễn quen thuộc kia, được bổ sung Plácido Domingo cho Deutsche Grammphon được coi là huyền thoại. Tại La Scala, bà được hâm mộ hơn ở bất cứ đâu. Những nhà phê bình và khán giả đã gọi bà trìu mến là La Nera Callas (Callas đen). La Scala đã đề nghị bà ký kết một hợp đồng dài hạn nhưng Verrett đã từ chối. Bà vẫn tiếp tục đi về hai bên Đại Tây Dương để biểu diễn cho khán giả tại hai lục địa. Ngày 13/12/1978, Verrett hát trong Tosca cùng Luciano Pavarotti tại Metropolitan Opera. Đây cũng là màn ra mắt của Tito Gobbi trong vai trò đạo diễn. Vào tháng 4/1979, ngay sau khi khán giản Metropolitan Opera được chứng kiến Norma của Verrett bên cạnh Elena Obraztsova trong Adalgisa, bà phải rút lui khỏi việc biểu diễn trong vài tháng để chạy chữa những cơn dị ứng trong cổ họng. Đây cũng là giai đoạn mà giọng hát của bà bộc lộ rất nhiều vấn đề. Khu trung âm thiếu sức mạnh, những nốt cao thường bị rè còn những nốt thấp bị mờ và không ổn định về cao độ. Giọng hát bị vỡ và tách thành những mảnh âm thanh riêng biệt. Những buổi biểu diễn ngày càng không ổn định, có thể tốt vào hôm trước và trở nên tồi tệ vào hôm sau. Cuối cùng Verrett bị phát hiện nhiễm trùng nấm Candida albicans.

Sau khi chạy chữa, bà đã quay trở lại sân khấu và tiếp tục toả sáng. Năm 1981, Verrett hát trong Desdemona (Otello, Verdi) bên cạnh tenor da trắng James McCracken và tạo ra một sự đối lập hình ảnh về mặt nhân vật. Làn da của Verrett chỉ được làm sáng hơn một chút để khắc hoạ Desdemona. Trong những năm 1980, Verrett bất ngờ có một sự căng thẳng trong mối quan hệ với Metropolitan Opera dẫn đến việc bà ngừng cộng tác trong một khoảng thời gian, bao gồm cả việc vắng mặt trong đêm diễn kỷ niệm 100 năm thành lập nhà hát. Năm 1983, Verrett chuyển đến sinh sống tại Paris trong 3 năm, thường xuyên biểu diễn tại đây. Năm 1987, một trong những sự cố lớn nhất của Verrett xảy ra tại Rome khi dù đã bị mất giọng bà vẫn cố gắng hát trong Tosca nhưng không thể hoàn thành vai diễn vì bị khán giả la ó dữ dội. Verrett giảm dần các buổi biểu diễn của mình. Lần cuối bà hát tại Metropolitan Opera diễn ra vào ngày 2/5/1990 trong Leonora (Il trovatore). Verrett chia tay sân khấu opera vào năm 1992 với Leonora (La favorita) tại Madrid nhưng vẫn biểu diễn trong những buổi hoà nhạc, đặc biệt là các chương trình từ thiện và một số vở nhạc kịch Broadway. Từ năm 1996, bà dạy thanh nhạc tại University of Michigan. Verrett rất hứng thú với công việc mới này: “Tôi luôn rất hạnh phúc khi có thể nói chuyện với những người trẻ tuổi bởi vì tôi nhớ đến những người tốt với tôi mặc dù họ không cần phải như vậy… Tôi hy vọng theo cách riêng của mình, tôi đã làm điều gì đó để giúp thế hệ của các bạn và các bạn sẽ giúp những người tiếp theo. Đây là cách mà nó phải như vậy. Hãy tiếp tục truyền cây gậy đó”.

Năm 2003, Verrett cho xuất bản cuốn tự truyện Tôi không bao giờ phải đi một mình, trong đó bà thẳng thắn nói về sự phân biệt chủng tộc mà mình đã gặp phải khi là người da đen trong thế giới âm nhạc cổ điển Mỹ. Verrett qua đời tại nhà riêng ở Ann Arbor, Michigan vào ngày 5/11/2010 ở tuổi 79 vì bị suy tim sau một cơn bạo bệnh kéo dài. Anthony Tommasini đã viết trên New York Times để tưởng nhớ bà: “Khi ở thời điểm sung sức nhất của mình, Verrett có thể hát với vẻ dịu êm phong phú và sự mạnh mẽ gây ớn lạnh. Những nốt toàn lực của bà có thể xuyên phá dễ dàng qua sự bùng nổ của dàn nhạc”.

Verrett là ca sĩ người Mỹ gốc Phi trưởng thành sau thế chiến thứ hai cùng thế hệ với những ngôi sao đình đám khác như Leontyne Price, Grace Bumbry hay Martina Arroyo, được thúc đẩy và truyền cảm hứng từ Marian Anderson. Cùng với Bumbry, bà đã có một cuộc cạnh tranh lành mạnh qua nhiều năm vì danh mục biểu diễn của họ rất trùng khớp. Giọng hát sang trọng, giàu nội lực, âm vực rộng, một nền tảng kỹ thuật vững chắc, khả năng diễn xuất xuất sắc và phong thái đầy quyền uy là những đặc điểm dễ nhận thấy nhất ở Verrett. Dù rằng chưa bao giờ đạt được danh tiếng như là một ngôi sao opera sáng chói nhất nhưng Verrett đã ở rất gần vị trí đó.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
nytimes.com
theguardian.com
shirleyverrett.com