“Ôi Chúa ơi, ông ấy là nghệ sĩ tôi yêu thích nhất. Chơi piano không giống như golf hay tennis, nơi bạn có điểm số cụ thể. Nhưng nếu tôi phải chọn ra người yêu thích tuyệt đối, thì đó chắc chắn là Friedrich Gulda, hay “Freddie” như người ta thường gọi ông. Ông là một nghệ sĩ jazz ứng tác phi thường… Và tôi thấy con người này thật hấp dẫn vì ông là một tượng đài trong âm nhạc cổ điển. Ông là một người khổng lồ thực thụ. Cách ông chơi Beethoven tràn đầy sức sống, ngang hàng với bất kỳ ai mà bạn từng nghe.” – Simon Tedeschi

Friedrich Gulda chắc chắn là một trong những nghệ sĩ nổi loạn và khó đoán nhất của nền âm nhạc thế kỷ 20. Sinh trưởng và trưởng thành trong môi trường nhạc cổ điển nghiêm cẩn, mang đậm truyền thống Đức-Áo, nhưng rồi Gulda đã phản đối tất cả, cho rằng những điều đó là bảo thủ, giáo điều. Ông lựa chọn jazz – biểu tượng của tự do và ứng tác – như một lối thoát khỏi thế giới cổ điển đầy nghi lễ và quy tắc. Bản thân Gulda từng tỏ ra không mấy phiền lòng, thậm chí có phần vui vẻ, khi bị giới phê bình gán cho biệt danh “nghệ sĩ dương cầm khủng bố”. Dù cách gọi ấy hàm ý ám chỉ sự nổi loạn cực đoan và những hành động phá vỡ chuẩn mực truyền thống, nhưng điều thật sự thôi thúc Gulda là khát vọng thổi luồng sinh khí mới vào âm nhạc – bằng những ý tưởng táo bạo, bất ngờ và không thể dự báo trước.

Thật trớ trêu khi nghệ sĩ thất thường nhất của giới âm nhạc cổ điển lại sinh ra tại Vienna, thành trì truyền thống nhất của nền nghệ thuật này. Friedrich Gulda sinh ngày 16/5/1930, là người con thứ hai của ông Friedrich Johann, một giáo viên và bà Marie Aloysia. Bảy tuổi, Fritz (cái tên trìu mến được những người thân gọi) được cha mẹ cho học piano tại Wiener Volkskonservatorium. Khác với chị gái Hedwig bỏ học chỉ sau một năm, Fritz đã ngay lập tức thể hiện năng khiếu của mình và được giáo sư Felix Pazovsky hướng dẫn riêng. Năm 1939, cậu bé đã có sáng tác đầu tiên trong cuộc đời mình, tiểu phẩm Allegretto dành cho piano. Năm 1942, Fritz xuất sắc giành chiến thắng trong cuộc thi tuyển sinh tại Vienna Music Academy và theo học piano dưới sự hướng dẫn của Bruno Seidlhofer và lý thuyết âm nhạc với Joseph Marx. Chỉ ít lâu sau, ngày 20/12, Fritz đã có buổi biểu diễn đầu tiên của mình, được diễn ra tại phòng hòa nhạc Brahms (Brahms-Saal) trong Musikverein, với một Scherzo và Impromptu của Franz Schubert, nằm trong chương trình được Vienna Music Academy tổ chức. Ngày 24/6/1942, khi mới 12 tuổi, cậu bé đã lần đầu tiên biểu diễn cùng dàn nhạc khi chơi Concerto piano của Robert Schumann với Vienna Symphony Orchestra tại Große Musikvereinssaal, phòng hoà nhạc chính của Musikverein. Ngay từ thời điểm này, Fritz cùng bạn của mình, Joe Zawinul, thường xuyên chơi những bản nhạc bị chính quyền Đức Quốc xã cấm, bao gồm cả jazz. Cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai gần đi đến hồi kết. Gia đình Gulda phải di tản đến Margarethen am Moos, cách Vienna 25km về phía đông nam và ông Friedrich Johann bị quân đội Nga bắt, giam giữ với tư cách tù nhân chiến tranh và chỉ được thả vào tháng 9/1945. Tại nơi ở mới, trong một khoảng thời gian ngắn, Fritz đã chỉ huy dàn hợp xướng địa phương và chơi organ trong nhà thờ.

Năm 1946, Gulda giành giải nhất trong Cuộc thi piano quốc tế tổ chức tại Geneva. Có một sự cố đã xảy ra tại đây khi Eileen Joyce, một trong những thành viên ban giám khảo đã rời khỏi cuộc thi và tuyên bố những người khác đã không công bằng khi chịu ảnh hưởng từ những người ủng hộ Gulda. Theo Joyce, thí sinh người Bỉ Lode Backx mới là người xứng đáng giành chiến thắng. Bất chấp những ầm ĩ xung quanh cuộc thi, sự nghiệp nghệ sĩ piano chuyên nghiệp của Gulda chính thức bắt đầu. Anh liên tiếp được mời biểu diễn tại Vienna dù rằng phải đến tháng 6/1947 mới tốt nghiệp nhạc viện. Trong năm 1948, chàng trai trẻ tổ chức chuyến lưu diễn kéo dài 30 buổi trên khắp châu Âu. Sau đó, Gulda đến Nam Mĩ xa xôi và vào ngày 11/10/1950, anh có buổi ra mắt đầu tiên của mình tại Carnegie Hall. Cũng tại New York, Gulda đã tới Birdland, một câu lạc bộ jazz mới mở một năm trước đó và vô cùng ấn tượng với âm nhạc tại nơi đây. Gulda nhanh chóng gây dựng được danh tiếng cho mình như là một nghệ sĩ piano xuất sắc thời hậu chiến. Nhà phê bình âm nhạc Harold C. Schonberg đã khen ngợi anh trên New York Times rằng Gulda người nối tiếp truyền thống Đức-Áo với những cái tên nổi bật trước đó như Artur Schnabel và Wilhelm Backhaus. Các màn trình diễn của Gulda được đánh giá cao ở việc khai phá cấu trúc âm nhạc hơn là những màn khoe kỹ thuật hào nhoáng.

Vào năm 1953, Gulda trở thành nghệ sĩ hiếm hoi vào thời điểm đó (thậm chí ngay cả bây giờ) biểu diễn toàn bộ 32 sonata piano của Beethoven (theo thứ tự thời gian) tại Vienna. Ông cũng thêm vào kịch mục của mình toàn bộ hai tập Bình quân luật của Bach. Gulda cũng không lảng tránh những nhà soạn nhạc của thế kỷ 20. Ông cũng biểu diễn các tác phẩm của Béla Bartók, Sergei Prokofiev hay Arnold Schoenberg. Tất cả những màn trình diễn này đều được đánh giá rất cao. Có lẽ vào thời điểm đó, phong cách chơi đàn chưa khiến người nghe liên tưởng đến jazz nhưng nếu như nhìn lại từ bây giờ, ta có thể cảm nhận được dấu vết khác thường từ cách sử dụng pedal đặc biệt, nhấn mạnh vào bè trầm và cố gắng duy trì những đường legato rộng rãi và kiểu chơi trên bàn phím theo cách coi piano là một nhạc cụ bộ gõ. Nếu chúng ta lắng nghe những tác phẩm của Claude Debussy được Gulda biểu diễn thì càng dễ dàng cảm nhận được hiệu ứng này. Gulda trở thành một cái tên nổi bật tại đời sống âm nhạc Vienna thời bấy giờ. Cùng với Jörg Demus và Paul Badura-Skoda, họ được gọi là “Bộ ba Vienna”. Gulda cũng tham gia giảng dạy. Năm 1955, ông gặp người học trò nổi tiếng nhất của mình, Martha Argerich. Argerich đã coi Gulda là một trong những người có ảnh hưởng quan trọng nhất đối với cuộc đời và sự nghiệp của mình. Bà miêu tả rằng Gulda đã dạy bà cách lắng nghe. Ông thu âm lại những gì cô học trò của mình chơi và cùng nhau, họ phân tích để Argerich tìm ra sai sót và tự cải thiện. Argerich ngưỡng mộ Gulda vì: “tính tự phát, sự tò mò và tình yêu dành cho âm nhạc của ông ấy – cho tất cả các thể loại nhạc, không chỉ nhạc cổ điển. Ông là một con người cởi mở đến kinh ngạc, thật sống động theo cách ấy. Ông từng nói với tôi: “Con phải học hết mọi thứ trước năm 16 tuổi vì sau đó thì bắt đầu trở nên hơi ngốc nghếch!””. Dưới góc độ nào đó, Argerich giống Gulda đến kỳ lạ. Cả hai đều vô cùng độc lập, dị ứng với những quy tắc mà sự nghiệp, danh tiếng, các công ty quản lý và nhà hát áp đặt.

Gulda ngày càng bị jazz hấp dẫn. Và giống như Glenn Gould, Gulda nhanh chóng trở nên chán nản với các buổi hoà nhạc cổ điển, chương trình cứng nhắc, các quy tắc và quy định về trang phục. Nhưng Gulda tiến xa hơn cả Gould. Ông vẫn tiếp tục biểu diễn, nhưng dần dần không thông báo trước chương trình mà để nó hoàn toàn phụ thuộc vào tính ngẫu hứng. Có thể buổi hoà nhạc bắt đầu bằng một sonata piano của Wolfgang Amadeus Mozart và kết thúc bằng nhạc jazz. Năm 1956, Gulda cưới diễn viên Paola Loew. Họ có với nhau hai cậu con trai David Wolfgang và Paul. Hai người ly dị vào năm 1966. Gulda kết hôn với người vợ thứ hai Yuko Wakiyama (quốc tịch Nhật Bản) một năm sau đó và Rico là đứa con duy nhất của họ. Sau này, cả Paul và Rico đều trở thành những nghệ sĩ piano. Cũng trong năm này, Gulda trở lại New York, nhưng đích đến không phải Carnegie Hall mà là câu lạc bộ Birdland, biểu diễn và ghi âm jazz tại đây. DownBeat, tạp chí âm nhạc danh tiếng chuyên về jazz, blues, đã nhận xét: “Lần đầu tiên trong lịch sử của jazz và nhạc cổ điển, một nghệ sĩ được công nhận tầm cỡ thế giới trong lĩnh vực cổ điển đã biểu diễn tại một câu lạc bộ jazz cùng với một ban nhạc jazz, như một nhạc công jazz thực thụ, với tập tác phẩm jazz do chính mình sáng tác”. Gulda đã biểu diễn cùng với Phil Woods (alto saxophone), Indrees Sulieman (trumpet), Jimmy Cleveland (trombone), Seldon Powell (tenor saxophone), Aaron Bell (contrabass) và Nick Stabulas chơi trống. Giải thích cho niềm đam mê jazz của mình, Gulda cho biết: “Jazz là âm nhạc của thời đại chúng ta, là thể loại âm nhạc hiện đại và tiến bộ duy nhất. Schoenberg thực ra không mới, Bartók cũng vậy, còn các nhà soạn nhạc theo trường phái thể nghiệm thì chắc chắn là không. Họ chỉ đang cố đúc khuôn quá khứ bằng bê tông. Schoenberg làm điều đó một cách giáo điều, còn Bartók thì bằng chất liệu dân gian”. Ông nhấn mạnh thêm mình yêu jazz vì: “sự thôi thúc về nhịp điệu, mạo hiểm, và tương phản hoàn toàn với lối tiếp cận nhạt nhẽo, mang tính học thuật mà tôi từng được dạy”. Để đắm chìm vào jazz, Gulda thậm chí còn theo học baritone saxophone.

Tất nhiên, không phải ai cũng có cùng suy nghĩ với Gulda. Mà trớ trêu thay, sự khó chịu đến từ cả hai phía – khán giả cổ điển lẫn khán giả jazz. Họ không thể an tâm khi không đoán được điều gì đang chờ đợi phía trước: có thể là một bản cổ điển, một khúc jazz, hay những biến tấu tức thời mà Gulda nghĩ ra. Thường thì ông kết hợp cả ba trong cùng một buổi diễn. Điều này đã gây ra những hạn chế lớn với Gulda, đặc biệt là ở Mĩ. Với những người yêu nhạc cổ điển, họ yêu màn trình diễn của Gulda với Bach, Mozart hay Beethoven nhưng có lẽ chỉ như vậy. Họ có thể thích thú với sự ngẫu hứng nhưng chỉ là trong ngắn hạn. Còn với các tín đồ trung thành của jazz, động cơ của Gulda vẫn luôn bị nghi ngờ. Ông vẫn quá mạnh mẽ với nhạc cổ điển. Tất nhiên là Gulda vẫn có những cổ động viên trung thành. Và như thế là đủ để ông không bao giờ ngừng lại, Gulda nói: “Không có gì đảm bảo rằng tôi sẽ trở thành một nghệ sĩ jazz vĩ đại, nhưng ít nhất tôi sẽ biết rằng mình đang làm điều đúng đắn. Tôi không muốn rơi vào lối mòn của cuộc sống một nghệ sĩ piano biểu diễn hiện đại, cũng không muốn chạy theo những chiến thắng rẻ tiền trên cỗ xe Baroque đang thịnh hành”. Gulda thành lập ban nhạc jazz của riêng mình tại châu Âu, tiếp tục thử nghiệm và sáng tác rất nhiều, chủ yếu là nhạc jazz nhưng cũng có cả các concerto theo phong cách cổ điển. Ông không bao giờ từ bỏ nhạc cổ điển, nhưng luôn khẳng định rằng jazz và cổ điển là hai mặt ngang hàng trong bản sắc âm nhạc của mình và sáng tác là cầu nối giữa hai thế giới này. Năm 1969, Vienna Music Academy đã trao tặng cho cậu học trò cũ của trường chiếc nhẫn Beethoven nhân dịp 200 năm ngày sinh nhà soạn nhạc, một kỷ niệm chương vinh danh các nghệ sĩ xuất sắc có đóng góp đặc biệt trong việc thể hiện, quảng bá hoặc giữ gìn di sản âm nhạc của Beethoven. Gulda đến nhận, và trong bài phát biểu, ông chỉ trích mạnh mẽ những gì ông coi là hệ thống giáo dục cứng nhắc. Ít ngày sau, ông trả lại chiếc nhẫn.

Trong những năm 1970, bản thu âm bốn concerto piano (số 20, 21, 25 và 27) của Mozart được Gulda thực hiện cùng Claudo Abbado và Vienna Philharmonic được đánh giá rất cao. Trong các tác phẩm này, Gulda biểu diễn các cadenza do chính mình sáng tác. Bản thân Abbado từng có thời gian theo học piano dưới sự hướng dẫn của chính Gulda tại Vienna. Nhà phê bình Jed Distler đánh giá: “Sự hợp tác giữa Gulda, Abbado và Mozart không chỉ là cuộc gặp gỡ của những tâm hồn; chúng còn đánh dấu một cuộc hội ngộ tuyệt vời”. Chính vì các buổi biểu diễn của Gulda là sự pha trộn giữa các thể loại nên những đĩa nhạc cổ điển như thế này luôn được người hâm mộ đón chờ trong sự vui sướng và thoả mãn. Và ngay cả khi Gulda không tạo điều kiện cho công chúng, vẫn có một bộ phận người yêu nhạc nhiệt tình và say mê ông.

Là một nghệ sĩ có tính thử nghiệm rất lớn nên không ngạc nhiên khi Gulda có mâu thuẫn sâu sắc với báo chí. Họ không hài lòng, thậm chí có thái độ thù địch với những màn trình diễn hoặc tác phẩm của Gulda. Ở chiều ngược lại, Gulda đánh giá rằng báo chí không muốn hay thậm chí không thể hiểu được điều ông thực hiện. Nhưng rõ ràng, sự lập dị, khác thường của Gulda không hề giảm đi theo năm tháng mà thậm chí còn có dấu hiệu gia tăng. Trong một buổi biểu diễn có tên gọi “Mozart dành cho người hâm mộ nhạc Pop” tại Wiener Konzerthaus vào ngày 15/12/1979, ông đã gây ra một vụ náo động ngay trước khi chơi bằng cách mắng nhiếc khán giả, gọi họ là “lũ phản động bốc mùi”. Còn trong một chương trình khác, Gulda đã thản nhiên huỷ huỷ bỏ buổi biểu diễn chỉ ít giờ trước khi bắt đầu, để đi xem giải vô địch thế giới cờ vua với lời giải thích: “Bỗng nhiên tôi thấy điều đó thú vị hơn”. Và những trò lố của Gulda lên đến đỉnh điểm vào ngày 28/3/1999, ông tung ra cáo phó của mình ngay trước hai buổi hoà nhạc tại Salzburg trong lễ Phục sinh, trong một bản fax từ sân bay Zurich, ghi rằng ông lên cơn đau tim và qua đời ngay tại đây. Tuy nhiên, ngay sau đó, APA (Thông tấn Áo) rút lại thông báo này. Gia đình ông từ chối trả lời điện thoại. Ít ngày sau, có người cho biết đã nhìn thấy Gulda ở Geneva. Mục đích của Gulda được cho là để quảng bá cho chương trình mà ông sẽ biểu diễn ít ngày sau đó, có tên là Bữa tiệc Phục sinh, cũng tại Salzburg. Hơn nữa có lẽ cũng là dịp để Gulda kiểm chứng lệnh cấm ông dành cho báo chí, như trong bài phỏng vấn ông đã thực hiện ít lâu trước sự kiện này: “Mọi người đã ném quá nhiều thứ bẩn thỉu vào tôi khi tôi còn sống. Tôi không muốn họ ném chúng lên mộ tôi nữa”. Buổi biểu diễn cuối cùng của Gulda diễn ra vào ngày 4/11/1999 tại Musikverein trong một chương trình gồm các tác phẩm của Debussy, Mozart, Beethoven, Frédéric Chopin và chính ông. Gulda “chính thức” qua đời vào ngày 27/1/2000 tại nhà riêng ở Weissenbach, Áo khi 69 tuổi. Ông được chôn cất tại nghĩa trang Steinbach am Attersee. Lần này báo chí thận trọng hơn, đã kiểm chứng giấy xác nhận của bác sĩ địa phương. Gulda một lần nữa yêu cầu không có cáo phó.

“Tôi là nghệ sĩ sáng tạo quan trọng nhất của Vienna trong nửa sau thế kỷ của chúng ta”, Gulda đã từng nói trước báo chí như vậy. Rõ ràng, ông không hề thiếu sự tự tin. Cuộc đời nghệ thuật của Gulda là chuỗi những ngày tháng phá vỡ những nghi thức, quy chuẩn nhưng có lẽ thì điều không bao giờ thay đổi chính là niềm tin tuyệt đối vào sức sống mãnh liệt của âm nhạc. Gulda tin tưởng mạnh mẽ rằng mọi thể loại âm nhạc đều có giá trị, bất kể xã hội đánh giá nó như thế nào. Bởi với Gulda: “Hãy chơi mọi nốt nhạc như thể cuộc sống của bạn phụ thuộc vào nó! Bởi vì cuộc sống của bạn thực sự phụ thuộc vào nó”.

Cobeo