CHƯƠNG XXIII – GIỮA THỜI TRUNG CỔ

 

Ở Paris tôi thành ra rất đau yếu; tôi có cảm giác con đường từ cuộc sống đến cái chết mới dễ dàng làm sao, sườn dốc với tôi mới thoai thoải và êm ái làm sao, đến mức tôi cảm thấy nuối tiếc khi ngoái đầu nhìn lại bản thân trong những lúc cam go và đắng chát của cuộc đời.

Tôi đã thoát khỏi cái lạnh buốt của mùa đông; chúng tôi đang ở mùa xuân và tôi tới ở ngôi nhà cũ của mình tại Égreville để tìm về thiên nhiên, nguồn an ủi tuyệt vời trong sự hiu quạnh yên bình của nó.

Tôi mang theo mình một lượng lớn giấy má bao gồm những lá thư, những tập sách mỏng, những cuộn bản thảo mà tôi vẫn chưa mở. Tôi định làm việc đó trên hành trình để tạm quên đường dài. Vậy nên tôi đã bóc vài lá thư và khi vửa mở một cuộn bản thảo tôi đã thốt lên: “Ôi! không, thế là đủ rồi!” Quả thực cái tôi vừa thấy lả một kịch bản sân khấu…

Tôi tự nhủ có nhất thiết phải để nhà hát truy đuổi mình như thế này không? Chính tôi là người không muốn làm việc này nữa! Vậy nên tôi gạt bỏ vật quấy rầy sang bên. Ấy thế mà để giết thời gian trên hành trình, như người ta nói, tôi lại nhặt cuộn bản thảo nổi tiếng này lên và bắt đầu đọc qua xem có gì khiến mình đổi ý chăng.

Ban đầu tôi lơ đễnh và chẳng mấy tập trung, dần dà sự chuyên chú của tôi trở nên rõ rệt hơn, – càng đọc tôi càng thích thú, đến mức rốt cuộc tôi cảm thấy kinh ngạc thực sự, – tôi phải thừa nhận rằng nỗi kinh ngạc còn lên đến mức sững sờ!

– Sao cơ! tôi thốt lên, một kịch bản không có vai nữ nào ngoài sự xuất hiện câm lặng của Đức Trinh nữ!

Nếu tôi đã kinh ngạc đến sững sờ, thì những người quen biết từng chứng kiến tôi đưa lên sân khấu Manon, Sapho, Thaïs và những phụ nữ đáng yêu khác sẽ còn cảm thấy kinh ngạc đến độ nào? Đúng vậy; nhưng khi đó họ sẽ quên rằng người phụ nữ cao cả nhất, Đức Trinh nữ, hẳn đã trợ lực cho tôi trong quá trình sáng tác, giống như đức bà thể hiện lòng nhân từ đối với người làm trò tung hứng biết ăn năn!

Mới đọc qua những cảnh đầu tiên tôi đã có cảm giác như đang đọc tác phẩm của một thi sĩ đích thực quen thuộc các cổ ngữ trong văn chương thời Trung cổ. Tên tác giả không xuất hiện trên bản thảo.

Khi liên hệ với người gác cổng nhà mình để tìm hiểu nguồn gốc của gói bưu phẩm bí ẩn này, ông thông báo với tôi rằng tác giả có để lại tên và địa chỉ kèm lời dặn dò rõ ràng là chỉ được tiết lộ cho tôi nếu tôi đồng ý soạn nhạc cho tác phẩm.

Nhan đề Người làm trò tung hứng của Đức Bà [Jongleur de Notre-Dame] cùng dòng chữ “kịch thần bí ba màn” theo sau khiến tôi mê mẩn.

Đặc điểm của ngôi nhà tôi ở, vết tích còn sót lại từ chính thời Trung cổ, và môi trường Égreville quanh tôi hẳn đã bao bọc tác phẩm của tôi bằng bầu không khí lý tưởng.

Lúc tổng phổ đã hoàn tất chính là lúc mong đợi để chia sẻ với cộng sự chưa hay tên của tôi.

Khi biết tên và địa chỉ của anh, tôi viết thư cho anh.

Không ai có thể nghi ngờ niềm vui mà tôi có khi làm điều này. Bởi tác giả kịch bản không phải ai khác mà chính là Maurice Léna, người bạn tận tụy mà tôi quen ở Lyon, nơi anh giữ chức giáo sư triết học.

Vậy nên Léna thân yêu đã đến Égreville vào ngày 14 tháng 8 năm 1900. Từ nhà ga nhỏ, chúng tôi chỉ đi vài bước là về đến nhà. Ở đó, trong phòng của tôi, chúng tôi thấy trải rộng trên chiếc bàn làm việc lớn (chiếc bàn nổi tiếng mà tôi tự hào vì nó từng thuộc về Diderot lừng danh) là bốn trăm trang tổng phổ dàn nhạc cùng tổng phổ piano và thanh nhạc của Người làm trò tung hứng của Đức Bà.

Trông thấy cảnh tượng này, Léna choáng váng. Cảm xúc tuyệt vời bậc nhất khiến anh nghẹt thở…

Cả hai chúng tôi đều tâm đắc với tác phẩm. Những giờ đây chúng tôi phải đối mặt với điều bất định. Chúng tôi sẽ cho biểu diễn tác phẩm ở nhà hát nào đây?

Đó là một ngày rạng rỡ. Toàn bộ thiên nhiên với những hương thơm say đắm, với mùa vàng trên những đám ruộng, với những bông hoa trên đồng cỏ, với sự hòa hợp ngọt ngào đã nảy nở giữa chúng tôi trong quá trình sáng tạo tác phẩm, đều nói với chúng tôi về hạnh phúc của chúng tôi! Niềm hạnh phúc trong chốc lát mà lại có giá trị vĩnh hằng!… như nữ sĩ Daniel Lesueur đã diễn đạt rất hay.

Sắc trắng bao phủ đồng cỏ nhắc chúng tôi rằng chúng tôi đang ở vào đêm trước ngày 15 tháng 8, ngày lễ kính Đức Trinh nữ mà chúng tôi ngợi ca trong tác phẩm của mình.

Chưa bao giờ tôi có một cây piano tại nhà, và nhất là nhà ở Égreville, nên tôi không thể thỏa mãn nỗi tò mò của Léna thân yêu bằng cách cho anh nghe âm nhạc của cảnh này hay cảnh kia…

Chúng tôi đang dạo bộ, vào khoảng giờ kinh chiều, ở khu vực gần nhà thờ cổ kính và linh thiêng; ta có thể nhận ra từ xa những hợp âm của cây harmonica nhỏ ở đó. Một ý tưởng điên rồ chợt nảy ra trong đầu tôi. “Này!… nếu tôi đề nghị anh một việc,” tôi bảo bạn mình, “hơn nữa lại là việc không được làm ở nơi linh thiêng này, nhưng chắc chắn rất hấp dẫn, là vào nhà thờ ngay khi nó vắng vẻ và lại chìm trong bóng tối thánh thần: nếu tôi cho anh nghe vài đoạn trích từ Người làm trò tung hứng của Đức Bà của chúng ta trên cây organ nhỏ này thì sao nhỉ? Đó chẳng phải là một khoảnh khắc thiêng liêng mà ấn tượng sẽ mãi khắc sâu trong tâm trí chúng ta hay sao?…” Và chúng tôi tiếp tục bước đi dưới bóng râm chiều lòng người của những cây lớn bảo vệ những lối đi và con đường khỏi cái nắng gay gắt.

Ngày hôm sau, một ngày buồn, chúng tôi chia tay.

Mùa thu rồi mùa đông, và cuối cùng là mùa xuân năm tiếp theo trôi qua mà không có lời đề nghị dàn dựng tác phẩm nào đến với tôi từ bất kỳ nơi nào.

Một chuyến thăm, vừa bất ngờ vừa đầy hân hoan, đã đến với tôi vào lúc tôi ít ngờ nhất. Đó là chuyến thăm của ông Raoul Gunsbourg.

Tôi thích nhắc lại ở đây giá trị cao đẹp của người bạn tuyệt vời này, của vị giám đốc rất cá tính này, của người nhạc sĩ có các tác phẩm thành công trên sân khấu này.

Raoul Gunsbourg đến báo tin rằng, theo lời khuyên của ông, Thân vương Monaco đã chỉ định tôi viết một tác phẩm mới để dàn dựng tại Nhà hát Monte-Carlo.

Người làm trò tung hứng của Đức Bà đã sẵn sàng và tôi đề xuất vở này. Theo thỏa thuận điện hạ sẽ hạ cố đến Paris để đích thân nghe tác phẩm. Quả thực buổi nghe thử này đã diễn ra tại ngôi nhà đẹp đẽ và giàu tính nghệ thuật của nhà xuất bản Henri Heugel của tôi, trên đại lộ Rừng Boulogne. Thân vương hoàn toàn hài lòng và liên tục ban vinh dự cho chúng tôi khi bày tỏ sự hài lòng thật sự của ngài. Tác phẩm được đem ra luyện tập và các buổi tập cuối cùng diễn ra ở Paris, dưới sự chỉ đạo của Raoul Gunsbourg.

Vào tháng 1 năm 1902, vợ chồng tôi rời Paris đến Cung điện Monaco, nơi Thân vương đã rất trìu mến mời chúng tôi đến làm khách của ngài. Thật là một cuộc sống trái ngược với cuộc sống chúng tôi vừa bỏ lại phía sau!

Một buổi tối chúng tôi rời Paris đang bị chôn vùi trong cái lạnh giá dưới trời tuyết, rồi vài giờ sau chúng tôi đã thấy mình được bao bọc trong một bầu không khí hoàn toàn khác!… Đó là miền Nam, đó là vùng Provence tươi đẹp; đó là Côte d’Azur mời gọi! Đó là lý tưởng! Với tôi đó là Phương Đông ở ngay gần cửa ngõ Paris!…

Giấc mơ đã bắt đầu. Liệu có cần kể ra chăng tất cả những điều tuyệt vời trong những ngày trải qua như một giấc mộng này, ở thiên đường vĩ đại này, giữa khung cảnh lộng lẫy này, trong cung điện xa hoa sang trọng mà toàn bộ được ướp hương có cây nhiệt đới này?

Cung điện này, nơi có những tòa tháp kiểu Gênes gợi nhớ đến thế kỷ 15, đã bộc lộ qua vẻ ngoài hoành tráng của nó sự giàu có bên trong không gì sánh bằng khiến người ta phải ngưỡng mộ ngay khi bước vào.

Khi từ Ý đến trang trí Fontainebleau, Primaticcio đã không bỏ lỡ việc dừng chân tại dinh thự cổ kính này của gia đình Grimaldi lừng lẫy. Những trần nhà đáng ngưỡng mộ này, những viên đá cẩm thạch nhiều màu này, những bức tranh được thời gian bảo tồn này, tất cả mọi thứ đã bằng sự duyên dáng rạng rỡ mà mang đến cho ngôi nhà sang trọng này một vẻ đẹp hùng vĩ và uy nghiêm. Nhưng trong cảnh tráng lệ này, điều vượt trên tất cả những gì nói với đôi mắt của chúng tôi chính là những gì đi vào tâm hồn, là trí thông minh cao vời, là lòng tốt bình lặng, là vẻ lịch sự tinh tế của vị chủ nhân quý phái đã chào đón chúng tôi.

Buổi ra mắt Người làm trò tung hứng của Đức Bà diễn ra tại Nhà hát Opéra Monte-Carlo vào thứ Ba ngày 18 tháng 2 năm 1902. Các nghệ sĩ sắm vai chính xuất sắc là các ông Renaud từ Nhà hát Opéra và Maréchal từ Nhà hát Opéra-Comique.

Một chi tiết thể hiện sự ưu ái mà tác phẩm nhận được là vở được biểu diễn bốn lần liên tiếp trong cùng một mùa.

Hai năm sau, vị giám độc thân mến Albert Carré của tôi đã cho công diễn lần đầu Người làm trò tung hứng của Đức Bà tại Nhà hát Opéra-Comique, với dàn diễn viên lý tưởng: Lucien Fugère, Maréchal người sáng tạo vai và Allard.

Từ lâu tác phẩm đã vượt qua buổi diễn thứ một trăm ở Paris và tôi có thể nói thêm rằng khi tôi viết những dòng này thì Người làm trò tung hứng của Đức Bà đã có mặt trong kịch mục của các nhà hát lớn ở Mỹ được vài năm.

Một điểm thú vị cần lưu ý là nghệ sĩ sắm vai Người làm trò tung hứng tại Nhà hát Metropolitan là Mary Garden, ngôi sao sáng chói được ngưỡng mộ ở cả Paris lẫn Hoa Kỳ!

Tôi thừa nhận rằng mình đã cảm thấy hơi hốt hoảng khi chứng kiến cảnh vị tu sĩ này trút bỏ tấm áo chùng thâm sau buổi biểu diễn rồi mặc vào một bộ váy dài thanh lịch từ phố Paix. Tuy nhiên trước chiến thắng của nữ nghệ sĩ, tôi cúi đầu tán thưởng.

Như tôi đã kể, tác phẩm này phải chờ đến thời của mình, và bởi trước đó Carvalho đã mời tôi soạn nhạc cho Grisélidis dựa trên vở kịch cùng tên được hoan nghênh ở Nhà hát Pháp của Eugène Morand và Armand Silvestre, nên thi thoảng tôi đã soạn nhạc cho vở này trong những chuyến đi miền Nam và Cap d’Antibes. Ôi chao! cái tòa nhà ở Cap d’Antibes đó! Nơi lưu trú độc đáo, lạ thường! Đó là tòa nhả xưa cũ do Villemessant xây dựng và đặt tên rất xác đáng và vui vẻ là Biệt thự Mặt trời, và là nơi ông dành cho các ký giả đang nặng gánh đói nghèo và tuổi tác.

Các con thân yêu ơi, hãy hình dung một biệt thự lớn với những bức tường trắng bị nhuốm đỏ bởi thứ nắng lửa trong lành của mặt trời phương Nam và bao quanh là một rừng toàn khuynh diệp, xim và nguyệt quế. Từ dó xuống qua những lối đi rợp bóng cây và thấm đẫm những mùi hương ngọt ngào nhất sẽ chạm biển, vùng biển từ Côte d’Azur và Riviera dọc theo những bến bờ lởm chởm của Ý đến tận Hellade cổ xưa, như thể mang theo trên những làn sóng trong xanh gột rửa Provence lời chào từ phương xa của thành Phocaea.

Các con thân yêu ơi, căn phòng ngập nắng của cha khiến cha thích thú xiết bao! Các con sẽ vui biết mấy khi thấy cha làm việc ở đó trong yên bình và tĩnh lặng cùng trạng thái sức khỏe hoàn hảo!

Bởi đang nhắc đến Grisélidis, tôi sẽ kể thêm rằng, với hai tác phẩm có sẵn, vở này và Người làm trò tung hứng của Đức Bà, nhà xuất bản của tôi đem nói chuyện với Albert Carré, người đã chọn Grisélidis. Đây là nguyên cớ để, như tôi đã viết phía trên, Người làm trò tung hứng của Đức Bà được biểu diễn ở Monte-Carlo vào năm 1902.

Vậy nên Grisélidis đã dẫn trước và tác phẩm này được biểu diễn tại Nhà hát Opéra-Comique vào ngày 20 tháng 11 năm 1901.

Cô Lucienne Bréval nhập vai một cách tuyệt vời. Giọng nam trung Dufranne lần đầu ra mắt trong vai hầu tước, chồng của Grisélidis; anh đạt được thành công rực rỡ ngay khi xuất hiện trên sân khấu; Fugère thật phi thường trong vai Ác quỷ, còn Maréchal là một tình nhân dịu dàng trong vai Alain.

Tôi rất thích tác phẩm này. Mọi khía cạnh của vở diễn đều khiến tôi hài lòng.

Nó tập hợp những tình cảm thật xúc động: dáng vẻ kiêu hãnh và hào hiệp của vị lãnh chúa cao quý và quyền lực lên đường Thập tự chinh, diện mạo quái dị của Quỷ Xanh, kẻ mà người ta cho rằng vừa thoát ra từ một cửa sổ kính màu của một nhà thờ thời Trung cổ, sự giản dị của chàng Alain trẻ tuổi và hình dáng nhỏ nhắn dễ thương của đứa bé con của Grisélidis! Vào vai nhân vật tuyệt vời này chúng tôi có một cô bé mới ba tuổi mà đã là hiện thân của tinh thần sân khấu. Như trong màn hai, đứa trẻ nằm trên đầu gối Grisélidis để tạo ảo giác đang thiếp ngủ, cô nghệ sĩ nhỏ tìm ra một cử chỉ duy nhất hữu ích và dễ hiểu đối với khán giả nhìn từ xa: cô buông thõng một cánh tay như thể đang quá mệt mỏi. Ôi cô bé diễn viên kịch câm tuyệt vời!

Albert Carré đã tìm được một nhà nguyện cổ xưa và hoàn hảo về mặt lịch sử nghệ thuật, và khi tấm màn kéo lên trên khu vườn của Grisélidis, cảnh trí thật mê hoặc. Những bông huệ đang nở ở tiền cảnh mới tương phản làm sao với lâu đài cổ kính và u tối phía chân trời!

Và một tấm thảm thêu sinh động làm phông cành của màn giáo đầu đúng là một khám phá!

Tôi đã mong mỏi biết bao những niềm vui khi được làm việc trong nhà hát cùng người bạn cũ Armand Silvestre, người mà tôi đã làm quen theo một cách thật thú vị! Từ một năm nay anh không được khỏe và anh viết cho tôi: “Liệu người ta có để tôi chết trước khi được xem Grisélidis ở Nhà hát Opéra-Comique không?…” Than ôi, chuyện xảy ra đúng như vậy!, và chính cộng sự thân yêu của tôi, Eugène Morand, là người đã giúp chúng tôi bằng những lời khuyên với tư cách thi sĩ cũng như nghệ sĩ.

Khi tôi đang soạn Grisélidis, một học giả, người rất say mê văn học thời Trung cổ và rất quan tâm đến một đề tài từ thời kỳ đó, đã giao cho tôi một tác phẩm mà anh lấy bối cảnh thời đó, một tác phẩm rất khó nhằn mà tôi không thể tận dụng được.

Tôi đã đưa tác phẩm đó cho Gérôme, người luôn tò mò về mọi thứ, và khi Gérôme, tác giả và tôi cùng tụ tập, họa sĩ vĩ đại của chúng ta, người rất nhanh nhảu và vui tính, đã nói với tác giả đang chờ nghe ý kiến : “A! hôm qua tôi vui biết bao vì đã ngủ quên khi đọc anh!” Và tác giả cúi đầu, hoàn toàn hài lòng.

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch