Thông tin chung
Opera: Capriccio, Op. 85
Âm nhạc: Richard Strauss.
Libretto: Clemens Krauss và Richard Strauss.
Thời gian sáng tác: Khoảng năm 1941.
Công diễn lần đầu: Tại Nationaltheater München vào ngày 28/10/1942 dưới sự chỉ huy của Krauss.
Độ dài: Khoảng 2h 25 phút.
Nhân vật/Loại giọng:
Madeleine, Nữ bá tước: Soprano
Flamand, Nhạc sĩ: Tenor
Olivier, Nhà thơ: Baritone
Giám đốc nhà hát La Roche: Bass
Clairon, Nữ diễn viên: Mezzo-soprano/Contralto
Bá tước, Anh trai của Madeleine: Baritone
Taupe , Người nhắc vở : Tenor
Ca sĩ người Ý: Soprano
Ca sĩ người Ý: Tenor
Lão quản gia: Bass
Thành phần dàn nhạc: 3 flute (flute 3 kiêm piccolo), 2 oboe, English horn, 3 clarinet, basset clarinet, bass clarinet, 3 bassoon (bassoon 3 kiêm contrabassoon), 4 horn, 2 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, cymbals, bass drum, 2 harp, harpsichord và dàn dây. Ngoài ra trên sân khấu còn có violin, cello và harpsichord, phía ngoài sân khấu có lục tấu đàn dây.
Hoàn cảnh sáng tác
Strauss là một người bạn thân thiết với Stefan Zweig. Họ thường xuyên viết thư thăm hỏi nhau và đỉnh cao của mối quan hệ hợp tác là sự ra đời của vở opera Die schweigsame Frau (Người đàn bà thầm lặng) của Strauss mà trong đó Zweig là tác giả cho phần kịch bản, được công diễn lần đầu vào ngày 24/6/1935. Vào năm 1934, chính Zweig là người đã khơi gợi lên sự quan tâm trong Strauss về sự tương quan giữa lời ca và âm nhạc trong một vở opera, đâu là thứ quan trọng hơn? Trên thực tế, suy nghĩ của Zweig bắt nguồn từ những nghiên cứu của ông đối với vở opera Prima la musica e poi le parole (Đầu tiên là âm nhạc và sau đó là ca từ) của Antonio Salieri và Giovanni Battista Casti, ra mắt vào ngày 7/2/1786. Zweig mong muốn tạo ra tác phẩm mới với nội dung khám phá một trong những vấn đề cơ bản trong việc sáng tạo ra một vở opera, cụ thể là mối quan hệ giữa ca từ và âm nhạc. Zweig đã đề nghị với nhà văn Joseph Gregor, người từng viết kịch bản cho ba vở opera của Strauss: Friedenstag (1938), Daphne (1938) và Die Liebe der Danae (1944) chấp bút cho tác phẩm mới. Tuy nhiên, Strauss lại không đồng ý với những ý tưởng của Gregor về kịch bản này và cuối cùng nhà soạn nhạc đã quyết định kết hợp cùng với nhạc trưởng Clemens Krauss để cùng nhau sáng tác kịch bản cho Capriccio. Tất nhiên, toàn bộ phần âm nhạc do Strauss đảm nhiệm. Khởi thuỷ từ suy nghĩ của Zweig vào năm 1934, phải đến năm 1941, tác phẩm một màn này mới được hoàn thành.
Cho đến thời điểm này, Strauss đã là chủ nhân của 14 vở opera, trong đó có nhiều tác phẩm nổi tiếng, thậm chí được đánh giá là mang tính cách mạng, ví dụ như Salome (1905). Vì vậy, hiển nhiên ông là một trong những nhà soạn nhạc có đủ tư cách nhất để trả lời câu hỏi về mối quan hệ giữa ca từ và âm nhạc trong một tác phẩm opera. Câu chuyện trong Capriccio được lấy bối cảnh tại Paris vào năm 1775, thời điểm mà những cải cách trong opera của Christoph Willibald Gluck, người lúc này đang làm việc tại Nhà hát Opera Paris đang tạo nên một cuộc tranh cãi lớn trong giới văn nghệ sĩ tại đây.
Tóm tắt nội dung
Thời gian: Năm 1775.
Địa điểm: Paris.
Phần I
Sinh nhật của nữ Bá tước trẻ goá chồng Madeleine chuẩn bị diễn ra. Flamand, nhạc sĩ và Olivier, nhà thơ, đang nghe một nhóm sextet dàn dựng một bản lục tấu đàn dây của Flamand, sáng tác nhân dịp này trong khi La Roche, giám đốc nhà hát đang ngủ. Flamand và Olivier đều tình cờ nhận ra rằng cả hai đều đem lòng yêu Madeleine. Âm nhạc của Flamand hay lời thơ của Olivier sẽ cuốn hút Madeleine hơn? Prima la musica, dopo le parole, hay prima le parole, dopo la musica? (Đầu tiên là âm nhạc và sau đó là ca từ hay (Đầu tiên là ca từ và sau đó là âm nhạc). Họ đồng ý là hãy để nữ Bá tước quyết định. La Roche thức dậy và tham gia cuộc tranh luận. La Roche cho rằng không phải nhạc cũng chả phải thơ là vĩ đại nhất trong nghệ thuật mà chính sân khấu mới tỏa bóng che phủ chúng đồng thời sử dụng nhạc và thơ như những công cụ đắc lực. Ông tin vào những điều này: khung cảnh tráng lệ, danh tiếng nổi bật và những người phụ nữ đẹp như nữ diễn viên Clairon, người lát nữa sẽ đến đây để làm việc với Olivier. La Roche cho biết Clairon sẽ vào vai một người ngờ nghệch cùng với Bá tước (anh trai của Madeleine) trong vở kịch của Olivier.
Sau khi Flamand, Olivier và La Roche rời đi để chuẩn bị cho buổi diễn tập của nhà hát thì Bá tước và Madeleine đến. Họ cũng đang tranh cãi nhau về giá trị tương quan giữa nhạc và thơ. Bá tước thừa nhận rằng âm nhạc để lại cho ông những cảm giác lạnh lẽo và từ ngữ ở một đẳng cấp cao hơn hẳn âm nhạc. Ông chòng ghẹo cô em gái mình về chuyện Madeleine để ý tới Flamand. Trong lúc đáp trả, tình cờ Madeleine nhắc đến cái tên Clairon. Bá tước thú nhận rằng mình đã yêu Clairon và Nữ bá tước thì mơ mộng đến mối tình của mình. La Roche và hai cộng sự của mình trở lại. Clairon cũng đến để diễn tập. Clairon và Bá tước cùng đọc kịch bản của Olivier mà ở cuối vở, Bá tước sẽ ngâm một bài thơ sonnet đầy say đắm, ông tỏ ra rất thích thú với màn này. La Roche dẫn họ đi diễn tập để lại Nữ bá tước một mình với Flamand và Olivier. Olivier nhận xét rằng Bá tước không phải là người xứng đáng để thể hiện bản sonnet đó. Đây là tác phẩm dành cho Madeleine và anh đã ngâm lại cho nàng. Flamand vội lao đi để phổ nhạc cho bài thơ này. Nhân sự vắng mặt này, Olivier đã bày tỏ tình yêu của mình. Flamand trở lại và hát bài hát anh vừa phổ nhạc xong. Olivier và Flamand lại cãi nhau về việc ai là tác giả của bản sonnet này nhưng Madeleine đã kết thúc bằng cách tuyên bố rằng nó là của mình.
La Roche đưa Olivier ra chỗ tập và Flamand đến lượt mình cũng thổ lộ tình yêu của mình với Madeleine. Anh yêu cầu cô phải quyết định: nhạc hay thơ? Flamand hay Olivier? Nữ bá tước hứa rằng anh sẽ có câu trả lời vào đúng 11h trưa mai. Flamand lao đi với một tinh thần phấn khích rất cao để lại Madeleine một mình với những ý nghĩ và âm thanh của buổi tập đang diễn ra ở phòng bên. Cô gọi đồ ăn cho mọi người.
Phần II
Buổi tập luyện kết thúc và bầu đoàn trở lại. Bá tước và cô em gái của mình tranh cãi về sự tiến triển trong chuyện tình cảm của họ. Khi đồ ăn được mang tới, La Roche giới thiệu những vũ công sẽ biểu diễn. Flamand và Olivier lại tiếp tục tranh cãi giữa ca từ và âm nhạc. Những người khác cũng cùng tham gia. Bá tước chế giễu opera, tất cả các vở opera! La Roche giới thiệu hai ca sĩ người Ý sẽ biểu diễn một duet. Sau đó ông trình bày về quang cảnh của buổi tiệc mừng sinh nhật Nữ bá tước: hai vở kịch Sự ra đời của Pallas Athene và Sự sụp đổ của Carthage. Tất cả mọi người đều phá lên cười vì ý tưởng lớn lao về truyền thống này trong khi những người Ý thì lo lắng vì không biết mình có được trả công cũng như ăn uống thoái mái hay không. La Roche cuối cùng cũng có cơ hội lên tiếng và phản ứng gay gắt với những kẻ phản đối ông và tỏ rõ niềm tin mãnh liệt vào nhà hát. Ông muốn các vở kịch mang nhiều tính nhân bản như là tự nhiên nó phải như vậy và đề nghị Flamand và Olivier sáng tác những tác phẩm mới về thời đại của họ. Khán giả của ông đã rất xúc động và Oliver cùng Flamand đã đồng ý viết một vở opera như một sự đáp lại tấm thịnh tình của khán giả. Bá tước nảy sinh ý tưởng ban đầu là họ sẽ viết tác phẩm về chính các sự kiện xảy ra trong ngày hôm nay, khắc họa những con người đang có mặt trong toà nhà. Cái kết của vở opera sẽ do Nữ bá tước quyết định. Mọi người đã chấp nhận gợi ý đó và giải tán.
Tám người hầu tiến vào và dọn dẹp phòng ăn, nhận xét về những sự việc xảy ra lúc trưa – “ở phía sau sân khấu” như họ đề cập – cả thế giới đều biểu diễn tại nhà hát theo cách như vậy ư? Và rồi ngài Taupe, người nhắc vở ngủ quên trong suốt buổi tập, đã đến. Ông ta nói với lão quản gia rằng chính mình mới là người quan trọng nhất trong nhà hát vì lẽ không có ông các buổi diễn sẽ không thể tiến hành được. Vậy mà bây giờ ông lại bị bỏ rơi. Cuối cùng lão quản gia cũng đã thuyết phục được Taupe, ông ta đã đồng ý trở về nhà.
Nữ bá tước bước vào phòng, Lão quản gia chuyển đến nàng hai tin: ngài Bá tước sẽ không ở nhà dự bữa tối đó và Olivier sẽ gọi cho bà vào 11h sáng mai để nghe nàng thông báo về đoạn kết của vở opera. Nữ bá tước cho rằng vì bài thơ trữ tình sonnet đó mà giờ đây nhà thơ và nhạc sĩ đã không thể tách rời nhau được nữa, cứ như một định mệnh vậy. Nàng tự hát lại hai đoạn trong bài hát. Nàng sẽ yêu ai trong hai người đàn ông đó đây? Sau một lúc dằn vặt đấu tranh trong tư tưởng và nội tâm, nàng chăm chú ngắm nhìn trong gương và nhận ra rằng mình không thể đưa ra một lựa chọn nào cho đoạn kết của vở opera cũng như hai người đàn ông. Lão quản gia thông báo bữa tối đã sẵn sàng và vấn đề tạm thời được giải quyết.
Strauss đã đặt phụ đề cho Capriccio là “Một đoạn hội thoại về âm nhạc” như để ngầm nhắn nhủ thông điệp của mình về tác phẩm, về mối tương quan giữa âm nhạc và ca tư trong một vở opera. Dường như ý nghĩa nội hàm của tác phẩm đã khiến Strauss quá bận tâm vào đó khiến nhà soạn nhạc thiếu đi sự chăm chút đối với âm nhạc của Capriccio. Buổi ra mắt tác phẩm tại Nationaltheater München vào ngày 28/10/1942 dưới sự chỉ huy của Krauss đã không được đón nhận. Các nhà phê bình nhận xét chất lượng các vở opera của Strauss đã xuống dốc kể từ Der Rosenkavalier (1911) và mọi nỗ lực sau đó của ông đều không mang lại hiệu quả. Cùng với đó là sự hợp tác của Strauss với chế độ Đức quốc xã cũng khiến rất nhiều người quay lưng lại với ông (Strauss không ủng hộ Hitler nhưng bắt buộc phải dựa dẫm vào chính quyền để họ không làm hại đến cô con dâu và những đứa cháu Do Thái của mình). Đã có những chỉ trích nặng nề “Strauss thiếu mọi động lực đạo đức… Ông ta là một kẻ giả dối cũng như một thiên tài”.
Tuy nhiên, chất lượng giảm sút của vở opera chỉ là so với những tác phẩm khác của chính Strauss. Bản thân Capriccio vẫn có rất nhiều khoảnh khắc tuyệt vời. Vở opera mở đầu bằng một đoạn giới thiệu của dàn nhạc có sự tham gia của lục tấu đàn dây, gợi nhớ lại phong cách âm nhạc thời kỳ Gluck và khép lại bằng những câu nhạc độc tấu của horn, nhạc cụ thân thuộc nhất của Strauss khi cha của nhà soạn nhạc, ông Franz Strauss là horn chính của Munich Court Orchestra trong hơn 45 năm: “Mẹ kể về thời thơ ấu của tôi rằng tôi thường mỉm cười khi nghe thấy tiếng horn và khóc lớn khi nghe violin”. Capriccio là vở opera thứ 15 và cũng là cuối cùng của Strauss.
Cobeo



