Tác giả: Hector Berlioz.
Tác phẩm: La damnation de Faust, Op. 24
Libretto: Chính Berlioz viết với sự bổ sung từ Almire Gandonnière, được dựa trên tác phẩm Faust của Johann Wolfgang von Goethe.
Thời gian sáng tác: Được hoàn thành vào năm 1846.
Công diễn lần đầu: Ngày 6/12/1846 tại Opéra-Comique, Paris.
Độ dài: Khoảng 2 giờ.
Nhân vật/Loại giọng:
Faust: Tenor
Marguerite: Soprano
Méphistophélès: Bass/Baritone
Brander: Bass
Thành phần dàn nhạc: 3 flute (tất cả đều kiêm piccolo), 2 oboe (cả hai đều kiêm English horn), 2 clarinet, bass clarinet, 4 bassoon, 4 horn, 2 trumpet, 2 cornet, 3 trombone, 2 tuba (nguyên bản là 1 ophicleide, 1 tuba), timpani, snare drum, bass drum, cymbals, suspended cymbal, triangle, tam-tam, bell, 2 harp, 15 violin 1, 15 violin 2, 10 viola, 10 cello và 9 double bass.

Beethoven từng thừa nhận sự hối tiếc của mình vì chưa đưa được Faust của Goethe vào âm nhạc. Có lẽ nhà soạn nhạc không ngờ được rằng lời nhận xét đơn giản của mình đã tạo nên một trong những mối quan tâm hàng đầu trong âm nhạc cổ điển châu Âu thế kỷ 19. Một năm sau khi Beethoven qua đời, Berlioz đã có cơ hội khám phá trực tiếp cả Beethoven và Faust. Với Berlioz, đó đều là những khám phá vĩ đại. Sau khi nghe các bản giao hưởng số 3 và 5 của Beethoven, Berlioz đã thốt lên: “Beethoven đã mở ra trước mắt tôi một thế giới âm nhạc mới cũng như Shakespeare đã mở ra một vũ trụ thi ca mới”. Berlioz cũng đã đọc Faust qua bản dịch của Gérard de Nerval và viết trong hồi ký của mình: “Tôi không thể đặt nó xuống. Tôi đọc nó liên tục, trong bữa ăn, tại nhà hát, trên đường phố, khắp mọi nơi”.

Một số nhà soạn nhạc nổi bật trong thế kỷ 19 dành sự quan tâm của mình cho Faust. Schubert là người đầu tiên khi ông sáng tác Gretchen am Spinnrade, D. 118. Sau đó chúng ta có thể kể ra nhiều cái tên khác như Schumann, Liszt, Gounod, Boito và sau đó là Mahler với bản Giao hưởng số 8 của mình. Và Berlioz cũng là một trong số họ. Ông đã lên ý tưởng sáng tác Faust ngay từ khi đọc phần I của tác phẩm. Ban đầu, Berlioz dự định cho một bản giao hưởng hoặc ba lê. Tháng 9/1828, một ý tưởng nảy ra với ông và Berlioz đã vội vàng ghi lại một giai điệu cho nhân vật Marguerite – bản ballad “Le roi de Thulé” viết cho giọng hát và piano. Tìm tòi trong Faust, ông nhận ra có 7 đoạn được Nerval dịch bằng văn xuôi chứ không phải thơ và Berlioz đã biến chúng thành âm nhạc dành cho giọng hát, hợp xướng và dàn nhạc. Berlioz đã cho xuất bản cả bộ 8 bản nhạc này và đánh số Op. 1. Ngày 10/4/1829, Berlioz đã gửi tổng phổ cho Goethe. Goethe đã không bận tâm đến bản nhạc vì người bạn của ông, nhà soạn nhạc Carl Friedrich Zelter cho rằng đó là thứ rác rưởi. Bản thân Berlioz cũng cảm thấy tác phẩm không được như ý. Ông đã thu hồi lại tác phẩm, cho rằng “nó dở tệ và thô thiển”, cố gắng thu hồi và xoá bỏ hết những gì đã in ra. Sau đó, ông đã cho xuất bản overture Waverly và vẫn đánh số Op. 1 để thay thế.

Mười sáu năm trôi qua trước khi Berlioz quay trở lại với Faust. Trong thời gian đó, sự điên rồ của ông với Symphonie fantastique, Harold en Italie hay Roméo et Juliette đã giúp Berlioz trở nên nổi tiếng. Có lẽ qua năm tháng, sự từng trải và kinh nghiệm đã giúp ông đủ bản lĩnh để đối đầu với Faust. Tháng 10/1845, Berlioz liên hệ với Almire Gandonniere, đề nghị một libretto cho một “opera hoà nhạc” dựa trên Faust với ý tưởng đưa 8 bản nhạc ban đầu vào một tác phẩm mới trước khi ông thực hiện chuyến lưu diễn tới các nước Trung Âu. Tuy nhiên, Gandonniere đã không thể hoàn thành theo tiến độ của Berlioz dẫn đến việc nhà soạn nhạc tự mình viết libretto cho Faust. Cho đến khi ông trở về nước vào tháng 5/1846, mọi công việc gần như đã được hoàn thành.

Ngày 6/12/1848, La damnation de Faust (Tội đày địa ngục của Faust) được công diễn tại nhà hát Opéra-Comique, Paris. Tuy nhiên, đây được coi là một sự thất bại trong sự nghiệp của Berlioz. Tác phẩm chỉ được công diễn 2 lần trước khi bị đưa ra khỏi lịch diễn. Ông viết: “Những khán giả Paris thời thượng, những người đến xem các buổi hoà nhạc và được cho là yêu thích âm nhạc thì ở nhà một cách thoải mái, không quan tâm đến tác phẩm mới của tôi như thể tôi là một sinh viên nhạc viện vô danh nhất… Không có gì trong sự nghiệp của một nghệ sĩ làm tôi tổn thương sâu sắc hơn sự thờ ơ ngoài mong đợi này”. Cuối cùng Berlioz cũng học được cách không mong đợi gì ở khán giả Paris và tự an ủi mình rằng những nỗ lực táo bạo nhất của mình được đánh giá cao ở các nơi khác. Về thể loại của La damnation de Faust, bản thân Berlioz cũng gặp khó khăn trong việc xác định. Ban đầu ông định gọi nó là “opera hoà nhạc” nhưng rồi cuối cùng, khi đem đi xuất bản, tác phẩm được định danh là “truyền thuyết kịch”. Theo thời gian, La damnation de Faust được công nhận là tác phẩm xuất sắc của Berlioz, với nguồn cảm hứng dạt dào xuyên suốt.

Tóm tắt nội dung:

Màn I:
Vùng đồng bằng Hungary. Faust lẻ loi trước bình minh.
Học giả từng trải Faust trầm ngâm suy tưởng về sự tái sinh của thiên nhiên. Nghe những người nông dân ca hát và nhảy múa, ông nhận ra rằng niềm hạnh phúc giản dị của họ là thứ mà ông sẽ không bao giờ được trải nghiệm. Một đội quân hành quân ở phía xa (“Hungarian March”). Faust không hiểu tại sao những người lính lại say mê với vinh quang và danh vọng.

Màn II:
Miền Bắc nước Đức.
Chán nản, Faust trở lại việc nghiên cứu của mình. Ngay cả việc tìm kiếm sự thông thái cũng không còn truyền cảm hứng cho ông nữa. Ông mệt mỏi và định tự tử khi tiếng chuông nhà thờ vang lên và một bài thánh ca Phục sinh gợi ông nhớ lại thời tuổi trẻ, khi ông vẫn còn niềm tin vào tôn giáo. Bỗng nhiên, Méphistophélès xuất hiện. mỉa mai bình luận về sự biến đổi trong Faust. Hắn đề nghị đưa ông vào một cuộc hành trình và hứa sẽ khôi phục lại tuổi trẻ, kiến thức và toàn bộ mọi ước muốn của Faust. Faust chấp thuận.

Méphistophélès và Faust đến quán rượu Auerbach ở Leipzig, nơi chàng sinh viên Brander hát một bài hát về con chuột trong nhà bếp đang có một cuộc sống tốt đẹp thì bị chết vì một liều bả chuột (“Certain rate, dans une cuisine”). Những vị khách khác thốt lên “Amen” đầy mỉa mai. Méphistophélès tiếp tục một bài hát khác về con bọ chét đã đưa họ hàng của mình tràn vào quấy phá cả một triều đình (“Une puce gentile”). Chán ghét vì những lời thô tục của tất cả mọi người, Faust yêu cầu rời đi chỗ khác.

Trên đồng cỏ bên sông Elbe, Méphistophélès cho Faust thấy một giấc mơ về cô gái xinh đẹp Marguerite, Faust đã yêu nàng. Ông gọi tên cô và Méphistophélès hứa sẽ dẫn ông tới gặp cô. Cùng với một nhóm sinh viên và binh lính, họ đến nơi cô sinh sống.

Màn III:
Faust và Méphistophélès trốn trong phòng của Marguerite. Faust cảm thấy rằng Marguerite là một người lý tưởng với hình mẫu về một cô gái trong sáng và ngây thơ (“Merci, doux crépuscule!”). Marguerite bước vào và hát một bản ballad về vua Thulé, người luôn chung thuỷ trong buồn bã với tình yêu đã mất của mình (“Autrefois, un roi de Thulé”).

Méphistophélès triệu hồi những linh hồn để bỏ bùa mê, lừa dối cô gái và hát một serenade chế giễu từ bên ngoài cửa sổ, dự đoán rằng cô sẽ mất đi sự trong trắng của mình (“Devant la maison”). Khi những linh hồn biến mất, Faust bước đến. Marguerite thú nhận rằng cô đã mơ về anh, cũng như anh mơ về cô và họ bộc lộ tình yêu dành cho nhau. Ngay lúc đó, Méphistophélès xuất hiện, cảnh báo rằng danh tiếng của cô phải được cứu vãn; những người hàng xóm biết được trong phòng của cô có một người đàn ông và đã gọi mẹ của cô đến. Sau khi nói lời từ biệt vội vàng, Faust và Méphistophélès chạy trốn.

Màn IV:
Faust đã quyến rũ và sau đó bỏ rơi Marguerite nhưng cô vẫn mong chờ sự trở lại của anh (“D’amour l’ardente flamme”). Cô nghe thấy tiếng binh lính và sinh viên ở đằng xa, gợi nhắc đến lần đầu cô gặp Faust nhưng lần này không có anh trong số họ.

Faust kêu gọi thiên nhiên cứu chữa cho mình khỏi sự chán đời (“Nature immense, impénétrable et fière”). Méphistophélès xuất hiện và nói cho Faust biết rằng Marguerite đang ở trong tù. Trong khi chờ đợi Faust trở lại, cô đã cho mẹ mình sử dụng thuốc ngủ mà Faust trước đó đã để lại nhằm giúp bà ngủ say trong những đêm họ yêu nhau. Việc sử dụng thuốc quá nhiều đã dẫn đến cái chết của bà và cô sẽ bị treo cổ vào ngày hôm sau. Faust sợ hãi nhưng Méphistophélès tuyên bổ rằng mình có thể cứu được cô nếu Faust giao linh hồn của mình cho hắn. Faust đồng ý, họ phóng đi trên lưng hai con ngựa đen (“La course à l’abîme”).

Nghĩ rằng mình đang trên đường đến chỗ Marguerite, Faust sợ hãi khi thấy sự xuất hiện của ma quỷ. Phong cảnh ngày càng trở nên kỳ quái và khủng khiếp hơn. Cuối cùng Faust cũng nhận ra Méphistophélès đã đưa thẳng mình xuống địa ngục. Những con quỷ và linh hồn chết tiệt chào đón Méphistophélès bằng một thứ ngôn ngữ huyền bí và chào mừng Faust đã gia nhập cùng chúng.

Địa ngục chìm trong yên lặng khi Faust đến đó – sự dằn vặt mà anh phải chịu đựng là không thể miêu tả. Marguerite được cứu và chào đón trên thiên đàng.

Trong La damnation de Faust, dàn nhạc toả ra âm thanh rực rỡ, hài hoà trong giai điệu và mới mẻ trong hoà thanh trên nền một nhịp điệu kịch tính không ngừng nghỉ. Tác phẩm có nhiều trích đoạn khó quên: sự hấp dẫn trong Hungarian March, bài hát trong men rượu say về chú chuột (“Certain rate, dans une cuisine”); sự gợi cảm nhưng cũng đầy lạnh lùng băng giá trong sự mỉa mai của Méphistophélès (“Une puce gentile”) với phần đệm huyền bí từ cornet, trombone và bassoon; cuộc đụng độ ly kỳ của hai hợp xướng được hát cùng lúc: những người lính hát tiếng Pháp ở giọng Si giáng trưởng và những sinh viên hát tiếng Latin ở giọng Rê thứ; nhịp đập đầy xót thương của Marguerite: giai điệu viola ai oán trong (“Autrefois, un roi de Thulé”) hay tiếng English thổn thức trong (“D’amour l’ardente flamme”); lời kêu gọi đầy nhiệt huyết của Faust tới thiên nhiên cao cả (“Nature immense, impénétrable et fière”) hay những náo loạn kinh khủng trong màn cuối.

Hầu hết các buổi biểu diễn của La damnation de Faust đều ở dạng concert như một hình thức oratorio dù rằng một số nhạc trưởng và đạo diễn đã dàn dựng nó thành một vở opera. Mặc dù vậy, bối cảnh du hành liên tục tại nhiều địa điểm khác nhau đã trở thành một thách thức rất lớn khi dàn dựng ở hình thức này. Bản thân Berlioz cũng từng háo hức muốn xem tác phẩm của mình ở định dạng này nhưng ông phải thừa nhận rằng trình độ kỹ thuật thời đó không phù hợp để đưa tác phẩm trở nên sống động và kịch tính. Tuy nhiên, dù được biểu diễn dưới bất kỳ hình thức nào, La damnation de Faust là một tác phẩm nổi bật với sức mạnh gây kinh ngạc và ấn tượng ngay cả với những người nghe nhạc kỳ cựu nhất.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
cso.org
metopera.org
slsostories.org