Tác giả: Franz Liszt.
Tác phẩm: Sonata piano giọng Si thứ, S. 178
Thời gian sáng tác: 1853. Những ý tưởng đầu tiên xuất hiện từ năm 1849.
Công diễn lần đầu: Hans von Bülow chơi ngày 27/1/1857 tại Berlin.
Độ dài: Khoảng 30 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được đề tặng cho Robert Schumann.
Tác phẩm có cấu trúc đặc biệt: 4 phần riêng biệt theo đúng hình thức sonata cổ điển (trình bày, phát triển, tái hiện, coda) nhưng được lồng ghép vào 1 chương nhạc duy nhất.
Lento assai (Giới thiệu) – Allegro enerico (Chương I) – Andante (Chương II chậm) – Fugato (Chương III: fugue 3 bè) – Allegro energico (Chương IV) – Prestissimo (Coda).

Sonata piano của Liszt được coi là một trong những kiệt tác không chỉ của nhà soạn nhạc mà còn cả trong kho tàng các tác phẩm dành cho piano. Tuy nhiên, khi nó mới ra đời, không phải ai cũng nghĩ như vậy. Được hoàn thành vào năm 1853, Liszt đã đề tặng bản sonata piano cho Schumann, như một lời đáp tạ đối với nhà soạn nhạc đã tặng tác phẩm Fantasie, Op 17 của mình cho Liszt. Năm 1854, tác phẩm được xuất bản, Liszt đã gửi một bản cho Schumann. Tuy nhiên, lúc này Schumann đã phát bệnh và ở trong nhà thương điên tại Endenich. Clara nhận được và ngày 25/5/1854, bà đã viết trong nhật ký: “Hôm nay Liszt đã gửi cho Robert một bản sonata dành tặng anh ấy và một vài thứ khác trong bức thư thân thiện cho tôi. Nhưng mọi thứ thật dễ sợ! Brahms đã chơi nó cho tôi, nhưng chúng khiến tôi hoàn toàn khổ sở… Không có gì ngoài những tiếng ồn ào. Đó không phải là một ý tưởng lành mạnh, tất cả mọi thứ đều rối rắm, không còn là một chuỗi hoà âm rõ ràng để có thể dò ra. Và giờ tôi vẫn phải cảm ơn ông ấy – thật sự là kinh khủng”. Thật may mắn, ý kiến của Clara không đại diện cho tất cả.

Sonata piano của Liszt là một trong những tác phẩm được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất trong toàn bộ lịch sử âm nhạc. Kể từ khi được xuất bản, các nhà âm nhạc học đã hăng hái lao vào nghiên cứu nguồn gốc và mục đích của nó. Từ cấu trúc đột phá cho đến những ám chỉ mơ hồ, không thiếu các khía cạnh để khám phá. Việc rời xa khỏi hình thức sonata cổ điển là một bước tiến chính thức đầy ý nghĩa trong sonata dành cho piano độc tấu từ thời điểm các thử nghiệm của Beethoven trong giai đoạn cuối của ông. Trong bản sonata của mình, Liszt không chỉ đơn thuần loại bỏ các quy tắc của sonata cổ điển mà vẫn giữ lại và tái khẳng định một số thuộc tính của nó. Ông kết hợp sonata 4 chương truyền thống thành một chương đơn lẻ, thay đổi cách đối xử với các chất liệu âm nhạc và từ bỏ công thức về thay đổi giọng trong sonata cổ điển. Sự khẳng định này dễ dàng được hỗ trợ thông qua việc phân tích hình thức sonata cổ điển, các tác phẩm trước đó ảnh hưởng lên bản sonata của Liszt và chính bản sonata này.

Nhìn bề ngoài, sonata của Liszt không quá khác biệt so với các sonata piano trước đó vào đầu thế kỷ 19. Tuy nhiên, nhiều tính chất đặc trưng sẽ xuất hiện phía dưới bề mặt. Đầu tiên là không có tiêu đề hay một chương trình gắn với tác phẩm. Điều này là hoàn toàn bình thường với các nhà soạn nhạc khác nhưng lại là bất thường với Liszt, có lẽ khoảng 90% các tác phẩm của ông là gắn với miêu tả nào đó. Nhiều nhà âm nhạc học tin rằng bản sonata là một tác phẩm quá điển hình nên Liszt chỉ đơn giản là không đặt tên. Dù vậy, một số vẫn cố gắng tiết lộ một số ý nghĩa ẩn. Phổ biến nhất là các giả thiết sau:
– Kể câu chuyện về Faust, với các chủ đề chỉ Faust, Margarete và Mephistopheles.
– Là một cuốn tự truyện của Liszt, kể về cuộc sống và tính cách của ông.
– Cuộc chiến giữa Thiện và Ác, giữa thần thánh và ma quỷ.
– Câu chuyện về vườn địa đàng và sự sụp đổ của loài người.
Tuy nhiên, nhiều người cũng cho rằng đây hoàn toàn là âm nhạc thuần tuý, không hề có ám chỉ về một câu chuyện hay chương trình nào.

Điều thứ hai là tác phẩm không có quãng nghỉ. Toàn bộ bản sonata khoảng 30 phút được chơi liền mạch. Liszt không phải là nhà soạn nhạc đầu tiên sử dụng kỹ thuật này. Trước ông, Beethoven đã rất nổi tiếng với chương 3-4 bản giao hưởng số 5 hay trong sonata piano số 23 “Appassionata” cũng như một vài tác phẩm khác. Tuy nhiên, tác phẩm chính ảnh hưởng lên bản sonata của Liszt lại là Fantasie “Người lang thang” của Schubert. Liszt rất ngưỡng mộ tác phẩm này và ông chính là nghệ sĩ đầu tiên biểu diễn nó trước công chúng. Thêm vào đó, ông còn phối lại tác phẩm cho piano và dàn nhạc cũng như cho 2 piano. Schubert đã liên kết 4 chương của tác phẩm với nhau và không nghi ngờ gì, điều này đã khiến Liszt cũng làm như vậy. Trong khi đây là một phát triển về cấu trúc quan trọng, nó lại không phải thuộc tính ảnh hưởng nhiều nhất đến Liszt. Nhà âm nhạc học, người nghiên cứu tiểu sử Liszt Alan Walker đã nhận xét: “Không chỉ 4 chương nhạc trong Fantasie được liên kết với nhau mà còn được thống nhất bằng cách sử dụng kỹ thuật “sự biến hoá của chủ đề” – trong trường hợp này, giai điệu đầu bài hát “Der Wanderer” của Schubert được xuất hiện nhiều lần dưới những hình thức khác xuyên suốt 4 chương nhạc”. Chính kỹ thuật này được Liszt áp dụng cho bản sonata của mình. Tuy nhiên, Liszt đã sáng tác tác phẩm của mình sao cho mỗi phần của tác phẩm “đóng góp vào 2 hình thức sonata đồng thời”, đưa kỹ thuật của Schubert lên một tầm cao mới.

Cấu trúc chính bao trùm toàn bộ bản sonata là đặc điểm khiến tác phẩm trở nên duy nhất. Như ở trên đã đề cập, âm nhạc liên tục tham gia vào 2 hình thức sonata riêng biệt. Hình thức đầu tiên là ở dạng sonata cổ điển với cấu trúc cụ thể: Chương Allegro (hình thức sonata-allegro: trình bày, phát triển, tái hiện); Chương chậm (andante, adagio, largo); Chương III (minuet/scherzo và Trio); Chương cuối (nhịp điệu nhanh, thường ở hình thức sonata-rondo). Trong sonata của Liszt cũng có hình thức 4 chương tương tự: Lento assai (giới thiệu) – Allegro enerico (Chương I) – Andante (Chương II chậm) – Fugato (Chương III: fugue 3 bè) – Allegro energico (Chương IV) – Prestissimo (Coda). Mặt khác, hình thức sonata thứ hai là cấu trúc của một chương sonata-allegro. Liszt đã sáng tác cụ thể sao cho các phần sau đây trùng khớp với nhau: Phần phát triển tương ứng với Allegro enerico; Phát triển –Andante và Fugato; Tái hiện – Allegro energico; Coda – Prestissimo. Khái niệm sáng tác với 2 hình thức cấu trúc liên kết với nhau sau này thường được gọi là hình thức sonata 2 chiều. Liszt đã cung cấp một giải pháp thành công về vấn đề cấu trúc sonata trong thế kỷ 19 nhưng phải đến đầu thế kỷ 20 mới được Schoenberg áp dụng.

Với bản sonata piano, Liszt đã hoàn thành điều mà những người khác không làm được. Ông đã kế tục và vượt qua các thử nghiệm, sự phức tạp và khéo léo theo truyền thống Beethoven. Trong hàng thập kỷ, Schubert, Schumann, Mendelssohn đã cố gắng với những bản sonata và giao hưởng của mình. Nhưng chỉ đến Liszt mới thực sự là người tái cấu trúc hình thức sonata trong khi vẫn giữ nguyên và phát triển một số tính năng nguyên sơ nhất. Bằng cách sáng tác một bản sonata theo hình thức 2 chiều, kết hợp 3 chủ đề âm nhạc đơn giản qua một quá trình chuyển đổi đáng kể và mạo hiểm với cách chuyển giọng phi chính thống, Liszt đã đạt được thành tựu đáng kinh ngạc về một sự tiếp cận chưa từng có kể từ các tác phẩm thời kỳ cuối của Beethoven. Bằng cách này, Liszt đã mang lại sức sống mới cho một thể loại mất hàng thập kỷ để tìm kiếm sự mới mẻ.

Cobeo