Tác giả: Gustav Mahler.
Tác phẩm: Giao hưởng số 6 giọng La thứ “Bi kịch”, WAB. 104
Thời gian sáng tác: Năm 1903-1904. Tác phẩm được sửa chữa vào năm 1906.
Công diễn lần đầu: Ngày 27/5/1906 với tác giả chỉ huy tại Saalbau Essen, Đức.
Độ dài: Khoảng 80 phút.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Allegro energico, ma non troppo. Heftig, aber markig (Hung dữ nhưng dũng cảm)
Chương II – Scherzo: Wuchtig (Nặng nề)
Chương III – Andante moderato
Chương IV- Finale: Sostenuto – Allegro moderato – Allegro energico
Thành phần dàn nhạc: piccolo, 4 flute (flute 3 và 4 kiêm piccolo 2, 3), 4 oboe (oboe 3 và 4 kiêm English horn 2, 3), English horn, 4 clarinet, bass clarinet, 4 bassoon, contrabassoon, 8 horn, 6 trumpet, 4 trombone, tuba, timpani, bass drum, 2 snare drum, cymbal, triangle, cowbell, tam-tam, rute, chuông, glockenspiel, xylophone, celesta (có thể 2 nếu được), búa, 2 harp và dàn dây.

Giai đoạn năm 1903-1904 là một trong những thời kỳ hạnh phúc nhất của Mahler. Ông cùng vợ Alma và 2 cô con gái nhỏ, xinh xắn, đáng yêu đi nghỉ hè ở Carinthia, miền Nam nước Áo. Âm nhạc của Mahler được biểu diễn ngày càng nhiều. Uy tín và danh vọng của ông lên cao cả với tư cách nhà soạn nhạc cũng như giám đốc âm nhạc của Vienna State Opera. Cuộc sống gia đình ổn định và tràn ngập niềm vui. Thật nghịch lý khi chính trong thời điểm này, Mahler đã sáng tác một trong những tác phẩm u ám nhất của mình: Giao hưởng số 6, đó là còn chưa kể đến tập ca khúc Kindertotenlieder (Bài hát về cái chết của những đứa trẻ). Chúng ta có thể nghe thấy khung cảnh thanh bình đồng quê nơi ông nghỉ dưỡng trong tác phẩm này, nhưng đó không phải không khí chủ đạo. Ngược lại, đó là một bản giao hưởng bi kịch – theo đúng nghĩa đen. Bi kịch không phải là điều hiếm gặp, thậm chí là thường xuyên xuất hiện trong các giao hưởng của Mahler nhưng nó chỉ đóng vai trò là bàn đạp cho những thắng lợi vinh quang (các giao hưởng số 1, 5 và 7 hoặc là một sự chuyển đổi trạng thái (các giao hưởng số 3, 4 và 9). Những tác phẩm này có thể kết thúc trong chiến thắng, hân hoan vui sướng, trong niềm hạnh phúc yên lặng hoặc kể cả những lúc tối tăm nhất cũng chỉ là cam chịu và chấp nhận. Nhưng trong bản số 6 này, bi kịch đóng vai trò chính, mọi thứ nhấn chìm trong cay đắng và bi thảm. Một kết thúc chua chát nhất, thảm hoạ xảy ra, con người trở nên bất lực và tầm thường và rồi gục ngã trước sức mạnh số phận.

Alma đã viết trong nhật ký của mình (nhiều nội dung trong đó bị các nhà nghiên cứu âm nhạc nghi ngờ về tính chính xác): “Sau khi sáng tác chương đầu tiên, anh ấy đến… để nói với tôi rằng anh ấy đã cố thể hiện tôi trong một chủ đề: “Anh có thành công hay không anh không biết, nhưng sẽ phải cố gắng với nó”. Đây chính là chủ đề hai bay bổng (Pha trưởng) trong chương I Giao hưởng số 6. Trong chương III (Scherzo) anh ấy giới thiệu những trò chơi không theo nhịp điệu của hai đứa trẻ, chạy ngoằn nghèo trên cát. Đáng ngại là, giọng nói bọn trẻ ngày càng trở nên vỡ oà và cuối cùng tắt lịm đi trong tiếng thút thít. Chương cuối cùng, anh ấy miêu tả về bản thân và sự sụp đổ của anh ấy hoặc như sau này anh ấy nói, là người hùng của mình: “Đó là vị anh hùng, người đã nhận ba nhát dao của số phận, cú cuối cùng đã hạ gục anh ta như cái cây bị đốn ngã”. Không một bản nhạc nào xuất phát từ sâu thẳm trái tim anh ấy như thế này. Cả hai chúng tôi đều khóc ngày hôm đó. Âm nhạc và những gì nó báo trước khiến chúng tôi xúc động vô cùng.” Ba nhát dao số phận được Mahler thể hiện trong chương cuối của tác phẩm bằng ba nhát búa mạnh mẽ và được coi là tượng trưng cho ba điều nghiệt ngã mà Mahler phải chứng kiến vào năm 1907: Bị Vienna State Opera sa thải, cô con gái lớn 4 tuổi Maria qua đời và Mahler được chẩn đoán mắc bệnh tim, nguyên nhân gây ra cái chết 4 năm sau đó của ông.

Trên thực tế, về mặt hình thức Giao hưởng số 6 là tác phẩm bảo thủ nhất của Mahler. Nó mở đầu và kết thúc ở cùng một giọng (La thứ), có hình thức 4 chương truyền thống và không sử dụng giọng hát. Tuy nhiên, về nội dung biểu đạt, nó không hề bảo thủ một chút nào. Âm nhạc căng tràn trên toàn bộ một dàn nhạc lớn với những điệu hành quân không ngừng nghỉ, những giai điệu góc cạnh và hoà âm đầy khám phá. Đối nghịch với ý tưởng pha trộn kết cấu của thế kỷ 19, Mahler bị những hình thức đối âm tương phản xưa cũ hơn thu hút. Theo lời của nhạc trưởng Bruno Walter, người bạn, trợ lý và cũng là người diễn giải tài năng các tác phẩm của Mahler: “Giao hưởng số 6 bi quan một cách ảm đạm, nó miêu tả chén đắng của kiếp người. Ngược lại với bản số 5, nó nói “Không”, trên hết trong chương cuối cùng, nơi mà một thứ gì đó giống như cuộc xung đột không thể lay chuyển được “tất cả chống lại tất cả” được chuyển thành âm nhạc”. Tên gọi “Bi kịch” của bản giao hưởng dường như cũng xuất phát từ Walter. Trong cuốn Gustav Mahler của mình, Walter kể rằng “Mahler đã gọi bản giao hưởng là Bi kịch”. Trên thực tế, trong bản thảo gốc, tờ chương trình buổi biểu diễn ra mắt và lần xuất bản đầu tiên cũng như bản sửa đổi sau đó đều không có tiêu đề. Tuy nhiên, trong lần công diễn tác phẩm đầu tiên tại Vienna vào ngày 4/1/1907 cũng do Mahler chỉ huy, tờ chương trình có dòng chữ Bi kịch.

Hai chương giữa của bản giao hưởng cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Trong bản thảo gốc và ấn bản đầu tiên của tác phẩm năm 1906, chương II là Scherzo, chương III là Andante. Tuy nhiên trong những lần xuất bản sau đó cũng như tại đêm diễn ra mắt tác phẩm, Mahler đã thay đổi thứ tự hai chương này. Ông không đưa ra lời giải thích cụ thể nào. Trên thực tế, các lần biểu diễn sau đó đến năm 1919 vẫn theo thứ tự Andante/Scherzo. Mọi sự chỉ thay đổi khi nhạc trưởng Mengelberg của Concertgebouw Orchestra phân vân giữa các ấn bản khác nhau của tác phẩm, mặc dù ông có mặt trong đêm ra mắt ở Essen, đã liên lạc với Alma và bà đã trả lời chương Scherzo trước, Andante sau. Từ đó đến nay, các nhạc trưởng được tự do lựa chọn giữa hai phiên bản. Phe ủng hộ quan điểm Scherzo/Andante thì cho rằng về mặt âm nhạc, chương Andante kết thúc ở giọng Mi giáng trưởng cần được theo sau bằng một giọng song song, ở giọng Đô thứ bắt đầu chương IV. Còn phe ủng hộ quan điểm Andante/Scherzo thì cho rằng với một bản giao hưởng bảo thủ về mặt hình thức thì chương chậm ở sau chương I là hợp lý hơn và chính bản thân Mahler chỉ chỉ huy tác phẩm theo phiên bản này. Dù vậy, cũng không thiếu những nhạc trưởng từng chơi cả hai phiên bản như Claudio Abbado, Riccardo Chailly, James Levine hay Vladimir Ashkenazy.

Về phần những tiếng búa, trong những phác thảo ban đầu, Mahler định để 5 lần nhưng sau đó đã rút xuống còn 3 trong lần công diễn ra mắt. Tuy nhiên sau đó, ông đã bỏ đi nhát búa cuối cùng. Alma đưa ra lời giải thích rằng Mahler làm vậy trong một nỗ lực thất bại để tránh đi số phận của người anh hùng. Tuy nhiên nhiều người cho rằng đó đơn thuần ví lý do âm nhạc theo cái cách Mahler bỏ đi 2 nhát búa trong các phác thảo. Nhạc trưởng Eschenbach đồng ý với quan điểm này: “Đã có những cuộc thảo luận về nhát búa thứ ba. Tôi hoàn toàn chấp nhận việc loại bỏ nó của Mahler. Nếu chúng ta xem xét cẩn thận tổng phổ của bản giao hưởng chúng ta thấy rằng hai nhát búa đầu đều là những cuộc giao tranh đáng kinh ngạc. Số phận đã nện anh những nhát búa, đó là điều nằm ngoài phạm vi hiểu biết của chúng ta. Chúng ta đã hai lần cố gắng hết sức để chống lại Định mệnh. Tôi tin rằng Mahler bỏ đi cú đánh thứ ba bởi vì ông không muốn đưa ra một tuyên bố cuối cùng bi quan mà cũng có thể hiểu là cái chết của việc sáng tạo giao hưởng nói chung. Sau này ông còn tiếp tục sáng tác thêm các bản giao hưởng khác, vì vậy đây không phải là kết thúc”. Ngày nay, cũng tuỳ thuộc vào ý muốn của nhạc trưởng mà sẽ lựa chọn phiên bản 2 hoặc 3 nhát búa. Âm thanh của chiếc búa trong chương cuối cùng đã được Mahler miêu tả chi tiết: “Ngắn gọn và mạnh mẽ, nhưng âm vang buồn tẻ và có chất phi kim loại (như tiếng rìu rơi)”.

Chương I bắt đầu với một đoạn giới thiệu ngắn gọn sau đó là một đoạn hành khúc được chơi ở giọng thứ, âm nhạc đi xuống và âm lượng lớn truyền tải tính chất bi quan của âm nhạc. Cuộc hành quân vẫn tiếp tục, tiến lên trên con đường đen tối. Chương nhạc được viết theo hình thức sonata với phần trình bày được lặp lại. Chủ đề được nhiều người coi là Định mệnh xuất hiện lần đầu: tiếng timpani mạnh mẽ đập theo hợp âm La trưởng của trumpet và được chuyển sang La thứ u sầu trên oboe với ghi chú trumpet chơi nhẹ hơn trong khi oboe chơi với âm lượng lớn hơn. Một đoạn nhạc nhẹ nhàng trên kèn gỗ ở giọng Pha trưởng – chủ đề 2 được Alma kể rằng Mahler đang miêu tả mình, lãng mạn, bay bổng và cũng đầy năng lượng. Sự phát triển chương nhạc được định hình dựa trên sự đối lập của 2 chủ đề này, dường như chủ đề Định mệnh chiếm ưu thế hơn. Bỗng một nét âm thanh chen vào làm xáo động bầu không khí. Cowbell, celesta, kèn gỗ và dàn dây đã tạo ra một thứ âm thanh mà Mahler gọi là “sự cô đơn khi cách xa thế giới… âm thanh của tự nhiên, vang vọng từ xa xôi”. Chủ đề hành khúc trở lại, phá tan khung cảnh yên bình, người anh hùng trở về với thực tại. Phần tái hiện phức tại giới thiệu lại chủ đề Định mệnh. Phần coda có thể được gọi là “phần phát triển thứ hai” khi motif hành khúc yên lặng được chơi trên trombone bất ngờ gầm lên đột ngột với âm lượng fortissimo. Chương nhạc khép lại khi cả 8 horn vang lên chủ đề Alma sống động ở giọng La trưởng.

Chương II Scherzo khôi phục lại giọng La thứ, đảo ngược lại ngọn lửa của chương trước. Một chương nhạc với nhiều âm sắc kỳ lạ. Dường như nó là sự phủ nhận cho vẻ đẹp thông thường và tự nhiên. Các nhạc cụ chơi trong âm vực rộng nhất của mình, với âm sắc dường như được làm biến dạng: những tiếng violin rít lên, tiếng horn thô lỗ còn kèn gỗ thì rên rỉ. Chương nhạc bắt đầu với tiếng timpani thình thịch, âm lượng lớn và nghe hơi lạc điệu. Tâm trạng khá đáng ngại này gia tăng khi có thêm sự xuất hiện của kèn gỗ rì rào, xylophone lộp độp, dàn dây chơi col legno (dùng phần gỗ của cây vĩ kéo) và kèn đồng gầm gừ ở âm khu trầm. Âm nhạc chợt giảm dần cho đến khi chỉ còn một chiếc oboe đơn độc. Bóng tối tan biến, Trio đầu tiên bắt đầu với ghi chú grazioso (duyên dáng). Hầu hết các nhà âm nhạc học đều liên tưởng phần này cũng như Trio sau đó với “những trò chơi không theo nhịp điệu của hai đứa trẻ, chạy ngoằn nghèo trên cát” như trong hồi ký của Alma. Sự liên kết này chủ yếu bắt nguồn từ sự không ổn định trong nhịp điệu của chương nhạc, dao động giữa nhịp 3 và 4. Chương nhạc có sự trở lại của chủ đề Định mệnh trong tiếng trumpet. Phần Trio được Mahler miêu tả là lỗi thời gợi lên một khung cảnh kỳ lạ. Chúng dần thay thế cho Trio đầu tiên để chuẩn bị cho sự trở lại của chất liệu Scherzo ban đầu. Tiếng horn vang lên, phía dưới là những tiếng timpani thình thịch, mở đầu cho phần coda. Chương nhạc kết thúc theo cái cách gợi nhớ lại những gì Alma miêu tả trong nhật ký của mình “cuối cùng tắt lịm đi trong tiếng thút thít”.

Chương III là chương duy nhất không ở giọng La thứ mà ở giọng Mi giáng trưởng. Nhìn chung chương nhạc là một rondo theo dạng ABABA, với tất cả các điểm nhấn đều nằm ở trong chủ âm. Tuy nhiên, vì tất cả đều chung một tính chất “bài hát không lời” giống như chương Adagietto của bản Giao hưởng số 5 nên chúng ta hầu như quên đi dạng rondo của chương nhạc. Âm nhạc dường như đến từ một thế giới khác với chất trữ tình nồng nàn. Chương nhạc giới thiệu giai điệu của một bài hát ru nhẹ nhàng đơn giản nhưng hài hoà một cách bất thường, trên một phần đệm đu đưa, tiếng horn vẳng lại ai oán ở quãng 8. Giai điệu lướt qua 2 bè violin 1 và 2, tạo ra những làn sóng du dương. Một quãng 3 thứ của bè flute và dàn dây bắt đầu phần tiếp theo với các motif trước đó được phát triển thành những phần phức tạp hơn. English horn giới thiệu chủ đề 2. Cowbell được giới thiệu trở lại trong một cao trào sớm với tiếng kèn lệnh đi săn của horn. Âm nhạc chợt lắng xuống, phần tái hiện với bài hát ru trở lại trên oboe và horn, một sự biến điệu tuyệt vời được ghi chú là misterioso (huyền bí), khoảnh khắc lắng đọng và trầm tư. Một đoạn chorale của flute và clarinet được lấy chất liệu từ chủ đề đầu tiên. Chương nhạc kết thúc với một cao trào mới với tiếng cowbell lại xuất hiện trên chủ đề đầu tiên được trở lại trên tuba.

Chương IV mở đầu bằng đoạn giới thiệu mơ hồ – nó được tái hiện 3 lần sau đó. Chương nhạc có hình thức sonata được mở rộng, chứa đầy những chất liệu âm nhạc của 3 chương trước đó. Motif Định mệnh ở chương I xuất hiện trở lại. Chủ đề chính của chương xuất hiện trên horn được đệm bằng âm trầm của tiếng chuông, nó sẽ trở lại trong phần mở rộng sau đoạn chorale của kèn gỗ và horn. Phần Allegro moderato bắt đầu với những motif phấn khích từ bè kèn đồng. Tuba, chuông và cowbell tạo nên cảm giác nguy hiểm đáng sợ, bầu không khí tối sầm lại với những nét nhạc trang trí trên kèn đồng. Người Anh hùng ngã xuống sau tiếng búa đầu tiên. Tiếng kèn đồng gào thét, đoàn quân lao nhanh về phía trước trong một nhịp hành khúc trước khi bình tĩnh trở lại. Tiếng búa thứ hai. Càng thêm hỗn loạn. Motif Định mệnh lại xuất hiện. Âm nhạc tiếp tục trong một không khí đồng quê với tiếng chuông và bản hoà tấu thú vị dành cho violin và oboe. Tưởng như chiến thắng chắc chắn sẽ dành cho người Anh hùng sau đó trong một khúc khải hoàn nhưng tất cả chỉ là ảo ảnh. Sự xuất hiện lần cuối cùng của phần giới thiệu mơ hồ và chủ đề Định mệnh, nơi mà nhát búa thứ ba và cũng là cuối cùng rơi xuống (nếu lựa chọn phiên bản 2 nhát búa thì sẽ là một sự thinh không đáng sợ). Phần coda khép lại với tiếng trombone trang nghiêm, gần như một hành khúc tang lễ trong giọng La thứ, như một biểu tượng của sự thất bại, chủ đề Định mệnh khép lại tác phẩm.

Đây có lẽ là bản giao hưởng được sửa đổi nhiều và gây tranh cãi nhất của Mahler nhưng nó hoàn toàn xứng đáng là một tác phẩm đỉnh cao, tạo được dấu ấn mạnh mẽ. Trong một bức thư gửi cho Anton Webern, Alban Berg đã viết: “Chỉ có một thứ 6, bất kể Pastoral”.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
sfsymphony.org
orsymphony.org
theguardian.com
utahsymphony.org