Tác giả: Georges Bizet.
Tác phẩm: Giao hưởng giọng Đô trưởng
Thời gian sáng tác: Khoảng tháng 10-11/1855.
Công diễn lần đầu: Ngày 26/2/1935 tại Basel, Thuỵ Sĩ dưới sự chỉ huy của Felix Weingartner.
Độ dài: Khoảng 30 phút.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Allegro vivo
Chương II – Andante. Adagio
Chương III – Allegro vivace
Chương IV – Finale. Allegro vivace
Thành phần dàn nhạc: 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, 4 horn, 2 trumpet, timpani và dàn dây.

Vào năm 1855, Bizet (ở tuổi 17 và vẫn đang là sinh viên Nhạc viện Paris) đã hoàn thành bản giao hưởng giọng Đô trưởng. Có lẽ tác phẩm này chỉ như một bài tập mà Bizet hoàn thành trong trường học. Nó không hề được biểu diễn hay thậm chí là nhắc tới trong suốt cuộc đời của nhà soạn nhạc và chỉ được phát hiện ra 80 năm sau đó. Bizet bắt đầu sáng tác bản giao hưởng này vào ngày 29/10/1855 sau khi ngưỡng mộ chứng kiến thành công vang dội của Giao hưởng số 1 giọng Rê trưởng của Charles Gounod, người thầy giáo đáng kính của mình. Ông hoàn thành tác phẩm của mình trong vòng 1 tháng.

Nhiều giả thiết đưa ra nhằm giải thích lý do tại sao sau khi sáng tác, Bizet không hề đề cập tới bản giao hưởng của mình, không có một động thái nào nhằm mang nó ra biểu diễn hay xuất bản. Phần lớn trong số đó chung nhận định rằng do bản giao hưởng của Bizet mang nhiều dấu ấn từ bản giao hưởng số 1 của Gounod. Không hẳn là sự sao chép nốt nhạc mà sự giống nhau đến từ cấu trúc và tính chất của tác phẩm. Có lẽ chính sự “vay mượn” này khiến Bizet ngần ngại mang nó ra ánh sáng. Một vài năm sau, Bizet đã nói: “Gounod là một nhà soạn nhạc rất độc đáo, chừng nào chúng ta còn bắt chước ông, chúng ta mãi vẫn chỉ là những cậu học trò”. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình âm nhạc đã so sánh hai bản giao hưởng trên và nhận định rằng bản giao hưởng của Bizet có chất lượng sáng tác vượt trội cả về mặt kỹ thuật cũng như giai điệu.

Sử dụng dàn nhạc tiêu chuẩn, khá khiêm tốn so với những bản giao hưởng khác cùng thời kỳ, bản giao hưởng của Bizet mang màu sắc của các tác phẩm Mozart khá rõ nét. Âm nhạc chứa đựng trẻ trung, tươi sáng, du dương, nhiều đường nét u buồn tinh tế và đầy quyến rũ, điển hình của chủ nghĩa Cổ điển, khá lạ lẫm so với những gì đang xảy ra xung quanh đó với Berlioz, Liszt hay Wagner.

Chương I Allegro vivo được viết ở hình thức sonata bao gồm 2 chủ đề chính. Chủ đề 1 vui tươi sôi nổi, dí dỏm, mang tính ngẫu hứng cao xuất hiện ngay lập tức chỉ sau một hợp âm mở đầu duy nhất, khá tương đồng với bản giao hưởng của Gounod. Và sau đó, theo đúng phong cách của Mozart, chủ đề 2 đơn giản, trữ tình, thanh lịch tương phản được thể hiện trên oboe. Chủ đề 2 được phát triển cho đến chủ đề 1 quay trở lại. Phần tái hiện bắt đầu với hợp âm rải trên horn dẫn tới một đoạn nhạc có cường độ tăng dần kết thúc chương nhạc trong sự tươi vui.

Chương II giọng La thứ mang một tâm trạng hoài cổ, u buồn với tiếng oboe solo đầy ám ảnh trên nền pizzicato của dàn dây xuất hiện sau phần giới thiệu nhẹ nhàng và bí ẩn với những hợp âm của horn và các quãng tám của kèn gỗ. Âm nhạc phảng phất màu sắc Tây Ban Nha mà chúng ta sẽ được thưởng thức rõ nét hơn 18 năm sau đó trong Carmen. Tuy nhiên, phần giữa chương nhạc lại xuất hiện 1 fugue trên bè dây đóng vai trò phần phát triển khá lạ lẫm, một nét tương đồng với bản giao hưởng của Gounod. Chủ đề oboe được tái hiện trong phần cuối chương nhạc.

Đúng theo truyền thống cổ điển, chương III ở giọng Son trưởng là một scherzo vui vẻ, mang tính vũ khúc rất cao. Chương nhạc cho thấy khả năng lớn lao của Bizet trong việc xây dựng kết cấu và màu sắc của dàn nhạc. Phần trio ở giọng Đô trưởng với sự xuất hiện của clarinet và bassoon trên nền bè thấp của dàn dây tạo nên một sự quyến rũ tuyệt vời, mở ra một không gian điền viên phóng khoáng và ấm áp.

Chương IV mở đầu với đoạn nhạc perpetuum mobile trên bè dây đóng vai trò chủ đề 1. Âm nhạc diễn ra trong tiết tấu nhanh, nhịp điệu vui tươi, sôi nổi và đầy tinh tế. Chủ đề 2 trữ tình và du dương trên kèn gỗ, tiên đoán cho những vở opera sau này của Bizet. Chương nhạc mang cấu trúc của một sonata đơn giản giống như chương I, sau phần phát triển chóng mặt, âm nhạc dường như còn trở nên nhanh hơn trong phần cuối, được dựa trên những chất liệu âm nhạc quen thuộc trước đó. Tác phẩm kết thúc trong sự tươi vui, hân hoan, duyên dáng và đầy phấn khích. Toàn bộ âm nhạc toát ra sự nhiệt tình, nồng nhiệt của tuổi trẻ, phù hợp với độ tuổi 17 của nhà soạn nhạc nhưng vẫn toát lên sự già dặn và kiến thức vững vàng về thủ pháp sáng tác.

Sau khi Bizet qua đời, đống bản thảo của ông được người vợ goá chia ra và gửi tặng cho những người bạn. Không biết bằng cách nào đó, tổng phổ của bản giao hưởng được học giả Jean Chantevoine tìm thấy tại Nhạc viện Paris vào năm 1933. Nhiều người không tỏ ra hứng thú với tác phẩm – của một sinh viên 17 tuổi và nổi tiếng với những vở opera cho đến khi D.C. Parker, người đang tìm tài liệu để viết một cuốn sách về tiểu sử của Bizet quyết định gửi nó cho nhạc trưởng người Áo Felix Weingartner. Nhận thức được tầm quan trọng của tác phẩm, Weingartner đã công diễn bản giao hưởng vào ngày 26/2/1935 tại Basel, Thuỵ Sĩ, gần 80 năm sau khi nó được hoàn thành. Bản giao hưởng nhanh chóng được khán giả yêu thích và đón nhận, vượt xa hơn nhiều các bản giao hưởng của Gounod. Năm 1947, biên đạo múa lừng danh George Balanchine rất hứng thú với thứ âm nhạc đậm chất vũ khúc này đã biến tác phẩm thành một vở ballet với tên gọi Le palais de cristal (Cung điện pha lê) nhưng sau đó cũng trở về với tên gọi gốc của tác phẩm: Bản giao hưởng giọng Đô trưởng.

Chúng ta thường hay nói về những thần đồng âm nhạc như Mozart hay Mendelssohn mà đôi khi quên đi rằng Bizet cũng là một trường hợp tương tự như vậy. Tuy nhiên, không được may mắn như những người tiền bối, trong suốt cuộc đời mình âm nhạc của ông đã không được khán giả đón nhận. Dù vậy, ngày nay những tác phẩm của ông, trong đó có bản Giao hưởng giọng Đô trưởng đã được tôn vinh đúng với giá trị thật của chúng.

Cobeo