Tác giả: Franz Schubert.
Tác phẩm: Sonata piano số 18 giọng Son trưởng, D. 894 (Op. 78)
Thời gian sáng tác: Tháng 10/1826.
Độ dài: Khoảng 35-40 phút.
Đề tặng: Schubert đã dành tặng tác phẩm cho người bạn thân của mình Joseph von Spaun (1788-1865).
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Molto moderato e cantabile (Son trưởng)
Chương II – Andante (Rê trưởng – Si thứ – Rê thứ)
Chương III – Menuetto: Allegro moderato – Trio (Si thứ – Si trưởng)
Chương IV – Allegretto (Son trưởng)

Sonata piano giọng Son trưởng của Schubert là một trong 3 sonata piano hiếm hoi và là bản cuối cùng được xuất bản trong cuộc đời nhà soạn nhạc. Các tác phẩm này bị lu mờ trước những bản nhạc cùng thể loại của Beethoven và chìm trong quên lãng gần một thế kỷ trước khi được các nghệ sĩ piano khám phá lại. Robert Schumann đã gọi bản sonata piano này, được hoàn thành vào tháng 10/1826 là “tác phẩm hoàn hảo nhất của Schubert, cả về hình thức lẫn ý tưởng”. Tuy nhiên, nhà xuất bản Tobias Haslinger, Vienna trong lần xuất bản đầu tiên đã đặt tiêu đề tác phẩm là “Fantasie, Andante, Menuetto und Allegretto” Op. 78”, có lẽ lý do là để làm cho bản nhạc trở nên hấp dẫn hơn về mặt thương mại dưới dạng tập hợp các phần riêng lẻ thay vì một sáng tác lớn. Vì vậy, nhiều thập kỷ sau, nó vẫn được gọi là Sonata “Fantasia”. Tình hình tài chính của Schubert không cho phép ông tranh cãi với nhà xuất bản. Tác phẩm được Schubert đề tặng cho Joseph von Spaun, người từng theo học với Schubert tại School of the Court Chapel, Vienna và sau này trở thành người bạn thân thiết, người ủng hộ mạnh mẽ cho “Schubertiade” – những buổi hoà nhạc thường được tổ chức tại nhà riêng để biểu diễn âm nhạc của Schubert.

“Tuyệt vời nhưng u sầu” là cách mà nhiều người nhận định về bản sonata piano này. Và bản nhạc xuất sắc ở cả tính chất và quy mô. Chỉ riêng chương I đã chiếm thời gian lên đến gần một nửa tác phẩm, thậm chí dài hơn cả một bản sonata thời kỳ Cổ điển của Haydn và Mozart. Những điều mà một nhà phê bình đương thời (người phản đối độ dài và sự lặp lại của chương nhạc) gọi là “hình dáng không quen thuộc và kỳ quái” của chương nhạc sẽ sớm khiến người nghe cảm thấy quen thuộc, thậm chí là yêu thích, khi Schubert dẫn dắt người nghe theo từng chặng đường của trí tưởng tượng không ngừng nghỉ của mình.

Chương I mở đầu với sự nhẹ nhàng, thanh tao đáng kinh ngạc với cường độ pianissimo, không khỏi có một sự so sánh với những chương chậm tuyệt vời trong các tác phẩm của Beethoven. Chương nhạc được viết ở nhịp 12/8, khá lạ lẫm đối với các sáng tác của Schubert. Chủ đề chính đầu tiên ở giọng Son trưởng được chơi lặp lại. Chương nhạc có hình thức sonata với chủ đề hai tươi vui hơn, được chuyển từ giọng Si thứ sang Si trưởng. Âm nhạc trở nên cấp bách hơn, được đẩy lên cao trào trong phần phát triển. Schubert giữ nguyên hình thức truyền thống, phần tái hiện được chuyển về giọng chính Son trưởng.

Chương II là một bài hát không lời tuyệt đẹp ở nhịp 3/8, có hình thức 5 phần đơn giản ABABA. Âm nhạc tràn đầy sự lạc quan với những hoà âm lãng mạn đầy biểu cảm. Chủ đề chính được viết ở giọng Rê trưởng với hai phần xen kẽ có sự tương phản đáng kể ở giọng Si thứ và Rê thứ.

Chương III ở giọng Si thứ về mặt hình thức là một Minuet đúng theo truyền thống nhưng dưới bàn tay của Schubert, đây thực chất là một Ländler, điệu nhảy Áo ưa thích rất hay được nhà soạn nhạc sử dụng. Mặc dù vẫn giữ được nhịp điệu khiêu vũ cơ bản nhưng tính chất chương nhạc lại dữ dội hơn mong đợi. Phần trio giữa chương nhạc được chuyển sang giọng Si trưởng, mang một vẻ đẹp đầy suy tư, trầm ngâm, tương phản với sự mãnh liệt của chương nhạc.

Chương IV là một rondo vui nhộn, ấm áp với nhiều nét nhạc khiêu vũ vây xung quanh giai điệu chính, duy trì sự thanh thoát cho toàn bộ tác phẩm. Tuy nhiên không phải không có những u tối, như những đám mây đen che khuất ánh mặt trời. Nhưng sau đó ánh sáng lại bừng lên, ánh mặt trời lại ló rạng. Phần Coda – phản chiếu tuyệt vời sự thanh bình trong các ô nhịp mở đầu của bản sonata, khép lại tác phẩm.

Sviatoslav Richter nổi tiếng vì cách thể hiện chậm rãi khi biểu diễn các sonata piano của Schubert. Chúng ta biết đến một ví dụ điển hình trong Sonata piano số 21, một sự “thôi miên xuất thần” khiến Gould quên đi tất cả những định kiến của mình về Schubert. Trong Sonata piano số 18 này cũng vậy, Richter thường biểu diễn trong khoảng 45 phút. Hầu hết những nghệ sĩ khác đều chơi với thời gian ngắn hơn. Như Wilhelm Kempff chỉ mất hơn 30 phút, Alfred Brendel: 35 phút, Radu Lupu và Arcadi Volodos: 38 phút, Grigory Sokolov: 40 phút. Claudio Arrau là có thời gian biểu diễn gần với Richter nhất. Richter cho biết rằng đây là bản sonata Schubert yêu thích của mình.

Ngọc Tú (nhaccodien.info)

Bình luận Facebook