Thông tin chung

Tác giả: Maurice Ravel.
Tác phẩm: La Valse
Thời gian sáng tác: Năm 1919-1920.
Công diễn lần đầu: Ngày 12/12/1920 tại Paris với Camille Chevillard chỉ huy Lamoureux Orchestra.
Độ dài: Khoảng 12 phút.
Thành phần dàn nhạc: 3 flute (flute 3 kiêm piccolo), 3 oboe (oboe 3 kiêm English horn), 3 clarinet, 2 bassoon, contrabassoon, 4 horn, 3 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, bass drum, snare drum, triangle, cymbals, glockenspiel, tambourine, tam-tam, crotale, castanet, 2 harp và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Ravel chưa bao giờ giấu giếm sự ngưỡng mộ của mình đối với các điệu waltz của Johann Strauss. Ngay từ năm 1906, ông đã có những ý tưởng ban đầu về một tác phẩm lấy cảm hứng từ những điệu waltz thành Vienna. Ông đã đặt tên trước cho bản nhạc là Wien (tiếng Đức của Vienna) với hi vọng nó sẽ trở thành “sự tôn sùng điệu waltz thành Vienna”. Mặc dù vậy, trong nhiều năm trời, vì nhiều lý do khác nhau, Ravel đã không thực sự bắt tay vào sáng tác tác phẩm này.

Một sự kiện lớn diễn ra đã ảnh hưởng nặng nề lên sự nghiệp sáng tác của Ravel. Cuộc Chiến tranh thứ nhất đã khiến ông hiểu thế là sự khủng khiếp và tàn bạo. Vì sức khoẻ kém, ông được miễn nghĩa vụ quân sự nhưng dưới góc độ nào đó vẫn tham gia cuộc chiến dưới vai trò tài xế xe tải và xe cứu thương. Hơn thế nữa, mẹ của ông đã qua đời khi Ravel đang ở trên chiến trường. Cả hai sự kiện này đã giáng những đòn nặng nề vào thế giới quan của ông. Ông không thể khôi phục lại năng lượng sáng tác dồi dào như trước kia. Mặc dù chất lượng của những bản nhạc không vì thế mà giảm sút, thậm chí không hề thiếu những kiệt tác nhưng màu sắc trong đó đã thay đổi rất nhiều, trở nên u ám và nhiều góc cạnh hơn. Cách nhìn nhận các bản waltz thành Vienna cũng không còn như xưa.

Năm 1919, Ravel quyết định quay trở lại với dự án dang dở này là nhờ vào lời đề nghị của Sergei Diaghilev, người từng có lần hợp tác rất tốt đẹp với Ravel trước đó vào năm 1912 với vở ballet Daphnis và Chloé. Lần này, Diaghilev lại tiếp tục đặt hàng Ravel sáng tác âm nhạc cho một vở ballet nữa. Ravel đã mô tả ý tưởng âm nhạc về tác phẩm La Valse của mình: “Qua những đám mây vần vũ, những cặp đôi đang nhảy waltz có thể được nhận ra một cách mờ nhạt. Những đám mây dần dần tan đi. Một hội trường rộng lớn với đám đông đang quay cuồng. Khung cảnh ngày một tươi sáng hơn. Ánh sáng chùm đèn bùng lên ở fortissimo. Một triều đình, khoảng năm 1855”.

Phân tích

Tác phẩm bắt đầu trong sự tĩnh lặng của màn sương mù với tiếng double bass, sau đó được cello và harp gia nhập. Cứ như thể chúng ta đang chuẩn bị nghe điệu waltz từ một thế giới khác. Âm thầm và từ từ, các nhạc cụ chơi những giai điệu rời rạc và rồi gắn kết với nhau thành một nét nhạc nhẹ nhàng trên bassoon và viola. Cuối cùng harp báo hiệu cao trào của các nhạc cụ với những giai điệu duyên dáng “ánh sáng chùm đèn bùng lên” bắt đầu.
Dưới sự dẫn dắt của bè violin, một loạt các điệu watlz nối tiếp nhau, mỗi điệu chứa những đặc điểm, tính chất khác nhau mở đầu bằng các biến tấu trên oboe, flute và violin, rụt rè, nhẹ nhàng nhưng ngọt ngào và thanh lịch. Sau đó là một giai điệu hảo sảng và sôi động trên bè đồng và timpani. Giai điệu chính được chơi trên violin với sự trợ giúp của cymbals và bè đồng. Âm nhạc chợt trở nên dịu dàng, giai điệu vẫn do violin cầm trịch nhưng lần này được trợ giúp với những tiếng ngân nga sang trọng của clarinet và cello. Nó chợt biến mất trong giây lát nhưng rồi nhanh chóng trở lại trong những biến tấu ngông cuồng và hoa mỹ của kèn đồng. Một đoạn chen kịch tính của violin với bè đệm của kèn gỗ. Castanet với tiếng pizzicato như tô điểm thêm tính cách của điệu waltz, được kết thúc trong tiếng bassoon vụng về và hài hước.

Âm nhạc tái hiện lại những chất liệu trước đó, trước khi tiếng vuốt violin ngọt ngào mà sâu sắc vang lên. Cello với các nốt bán cung và những nét vuốt từ phía harp đóng vai trò bè đệm. Giai điệu được lặp lại trên kèn gỗ. Khi nó kết thúc lại đồng thời mở ra một cao trào mới và rồi bị cắt ngang bằng những tiếng flute say đắm. Flute chơi những giai điệu vui tươi hơn, được lặp lại nhiều lần với phần đệm đến từ triangle và glockenspiel. Âm nhạc dường như trở nên khao khát hơn với tiếng violin, được phụ hoạ với harp và những nốt láy trên horn. Một lần nữa, khi gần kết thúc, âm nhạc lại được đẩy lên cao trào nhưng rồi nhanh chóng trở về “màn sương mù” của phần mở đầu.

Âm nhạc đầy màu sắc, Ravel đã khai thác tiềm năng tối đa của các nhạc cụ, thể hiện tài năng phối khí siêu phàm, đúng với sở trường mà ông đã từng thể hiện trong nhiều tác phẩm trước đó. Đã không còn là những gì quen thuộc mà chúng ta thường tưởng tượng về Johann Strauss. Những gì Ravel kế thừa có lẽ chỉ là tiết tấu của điệu watlz còn những thứ khác hoàn toàn là của riêng nhà soạn nhạc.

Trong phần sau của tác phẩm, các chủ đề xuất hiện trong phần trước đó được sử dụng trở lại nhưng được phân mảnh và kết hợp theo nhiều cách khác nhau. Ravel đã thay đổi giọng cũng như phối khí lại khiến mọi thứ trở nên tươi mới và khó nắm bắt hơn. Điệu waltz ngày càng trở nên quay cuồng. Một điệu nhảy thần chết bắt đầu, âm nhạc trở nên rùng rợn, hoang dã một cách lạ kỳ. Các cao trào liên tục xuất hiện rồi dẫn tới một coda kết thúc tác phẩm với ô nhạc cuối cùng là ô nhạc duy nhất trong tổng phổ không mang nhịp điệu waltz.

Khi Diaghilev tới gặp Ravel để “nghiệm thu” tác phẩm, Ravel và Marcelle Meyer đã chơi tác phẩm này trên hai piano cho ông. Poulenc cũng có mặt ở đó và thuật lại: “Khi Ravel chơi hết tác phẩm, Diaghilev đã nói một điều mà tôi nghĩ rất đúng. Ông ấy nói: “Ravel, đó là một kiệt tác… nhưng nó không phải là một vở ballet… Đó là chân dung của một vở ballet… Đó là bức tranh của một vở ballet”. Tất nhiên, vở ballet sau đó đã không trở thành hiện thực. Nhưng La Valse đã trở thành một tiết mục nổi tiếng trong các phòng hoà nhạc. Mặc dù vậy, người nghe đã nhận ra nhiều thứ khác biệt hơn là những cặp đôi ôm nhau nhảy múa trong những hội trường sang trọng, đặc biệt trong đoạn kết hoang dã. Học trò của Ravel, Manuel Rosenthal cũng nhận ra “một sự đau khổ, một cảm giác chết chóc rất kịch tính”.

Rõ ràng, những hậu quả của thế chiến thứ nhất và sự qua đời của mẹ Ravel đã để lại dấu ấn rõ nét trong La Valse. Mặc dù vậy, dường như Ravel phủ nhận âm nhạc trong tác phẩm có màu sắc bi kịch hay liên quan đến cái chết. Năm 1922, ông đã trả lời nhà âm nhạc học Maurice Emmanuel: “Điệu nhảy này có vẻ như bi kịch, như những cảm xúc khác – sự gợi cảm, vui vẻ – được đẩy lên tới cực điểm. Nhưng chúng ta chỉ nên quan tâm đến những gì âm nhạc bộc lộ: Một quá trình tăng dần của sự gây ấn tượng, mà sân khấu xuất hiện cùng với ánh sáng và sự chuyển động”. Cũng trong năm này, khi trả lời phỏng vấn của một tờ báo Hà Lan, ông đã đi xa hơn: “Nó không liên quan gì đến tình hình hiện tại ở Vienna và nó không có bất kỳ ý nghĩa biểu tượng nào về mặt đó. Khi sáng tác La Valse , tôi không hình dung ra một điệu nhảy tử thần hay một cuộc đấu tranh giữa sự sống và cái chết. Tôi đã đổi tên ban đầu “Wien” thành La Valse , phù hợp hơn với bản chất thẩm mỹ của sáng tác. Đó là một cuộc khiêu vũ quay cuồng, gần như xuất thần trong ảo giác, một cơn lốc ngày càng đam mê và kiệt sức của các vũ công, những người bị khuất phục và phấn khích với không thứ gì khác ngoài waltz”. Đây rõ ràng là một tác phẩm mà sự cảm nhận của phần lớn khán giả lại khác biệt hoàn toàn so với ý đồ sáng tác của nhà soạn nhạc.

Trái ngược với nhận định của Diaghilev, La Valse vẫn được xuất hiện trên sâu khấu ballet vào năm 1951 với George Balanchine biên đạo cho New York City Ballet. Balanchine đã “phủ nhận” Ravel khi tạo ra một kịch bản nữ diễn viên chính bị một nhân vật nam hắc ám tiêu diệt. Tuy nhiên, phiên bản sau đó vào năm 1958 với Frederick Ashton biên đạo cho Royal Ballet, London thì trung thành với ý tưởng của nhà soạn nhạc. Tại đêm diễn ra mắt, Poulenc đã khen ngợi Ashton vì đã thể hiện đúng với những gì Ravel hình dung về tác phẩm của mình. Và dù được giải thích theo cách này hay cách khác, La Valse của Ravel vẫn tiếp tục mê hoặc người nghe theo cách mà ít có tác phẩm nào khác có thể sánh được.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
nyphil.org
sfsymphony.org
houstonsymphony.org