CHƯƠNG XVIII – MỘT NGÔI SAO

 

Tôi trở lại với các sự kiện diễn ra ngay sau thảm họa của Nhà hát Opéra-Comique.

Nhà hát Opéra-Comique được chuyển đến Quảng trường Châtelet ở Nhà hát Các dân tộc trước đây, sau này trở thành Nhà hát Sarah-Bernhardt. Ông Paravey được bổ nhiệm giám đốc. Tôi biết ông Paravey từ hồi ông lãnh đạo Nhà hát lớn Nantes với tài năng thực sự.

Hartmann đề xuất vói ông hai tác phẩm: Vua Ys của Édouard Lalo và Werther còn tồn đọng của tôi. Tôi chán nản đến mức muốn chờ ngày tác phẩm được đưa ra ánh sáng còn hơn.

Ở phía trên tôi vừa kể về sự hình thành và số phận của tác phẩm này.

Một ngày nọ, tôi nhận được lời mời ăn tối rất nhã nhặn ở một đại gia đình người Mỹ. Tôi đã từ chối như vẫn hay làm – tôi không có thời gian, hơn nữa cũng không mấy thích thú kiểu tiêu khiển này – nhưng người ta vẫn ân cần nài nỉ đến mức tôi không thể khăng khăng khước từ. Dường như trái tim sầu não của tôi phải gặp ở đó một điều gì đó có thể xua tan nỗi tuyệt vọng của mình! Ai mà biết được?…

Tôi được xếp vào bàn cạnh một một nhà soạn nhạc nữ rất tài năng. Ở phía bên kia người ngồi cạnh tôi là một nhà ngoại giao Pháp mà tôi thấy là có vẻ nhã nhặn thái quá. “Est modus in rebus, – cái gì cũng có giới hạn”; và có lẽ cùng với câu ngạn ngữ rất cổ này nhà ngoại giao của chúng ta nên nhớ lời khuyên mà một bậc thầy trong lĩnh vực này, Talleyrand lừng lẫy, đã đưa ra: “Nhất là đừng có nhiệt tình quá mức!”

Tôi sẽ không nghĩ đến việc kể lại chi tiết những cuộc trò chuyện diễn ra trong khung cảnh quyến rũ này, cũng như không nghĩ đến việc chép lại thực đơn bữa ăn này. Cái tôi nhớ là mớ lộn xộn ô hợp nhiều loại ngôn ngữ gây chưng hửng hoàn toàn, bao gồm tiếng Mỹ, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp.

Nhưng tại sao ở trên đất Pháp người ta không chỉ nói tiếng Pháp mà còn nói thứ tiếng khác nữa?

Vậy nên những người Pháp ngồi cạnh đã thu hút hoàn toàn sự chú ý của tôi. Điều này khiến tôi vẫn còn nhớ cuộc trò chuyện thú vị giữa nhà soạn nhạc nữ và quý ông ngoại giao:

Quý ông. – Thế ra bà vẫn luôn là con của các nàng Thơ ư, hỡi Orphéa mới?

Quý bà. – Âm nhạc chẳng phải là niềm an ủi cho những tâm hồn đang đau khổ hay sao?…

Quý ông (khéo lấy lòng). – Bà không thấy tình yêu mạnh mẽ hơn âm thanh để xóa đi những buồn bực trong lòng ư?

Quý bà. – Hôm qua tôi thấy được an ủi, tôi đã phổ nhạc cho Chiếc bình vỡ.

Quý ông (vẻ thơ mộng). – Chắc chắn là một bản dạ khúc..

Tôi nghe thấy vài tiếng cười cố nén lại. Cuộc trò chuyện ngay lập tức chuyển hướng.

Khi bữa tối kết thúc chúng tôi sang phòng khách để chơi nhạc; tôi đang định khéo léo lẻn đi thì có hai phụ nữ bận đồ đen, một trẻ, một nhiều tuổi hơn bước vào.

Chủ nhà vội bước đến chào hỏi và gần như cùng lúc đó tôi được giới thiệu với họ.

Người phụ nữ trẻ hơn xinh xắn lạ thường; người kia là mẹ của cô và cũng đẹp với vẻ đẹp hoàn toàn kiểu Mỹ mà Hoa Kỳ thường gửi đến cho chúng ta.

“Thưa thầy,” người phụ nữ trẻ nói với tôi bằng giọng hơi nhẹ, “tôi được mời đến ngôi nhà thân thiện này tối nay để hân hạnh được gặp thầy và để thầy nghe thử giọng hát của tôi. Tôi là con gái của một thẩm phán tối cao ở Mỹ và tôi đã mất cha. Cha tôi để lại cho chị em tôi và mẹ tôi một gia tài kha khá, nhưng tôi lại muốn lên sân khấu (và cũng đã bày tỏ điều đó). Nếu người ta trách cứ tôi thì khi thành công tôi sẽ đáp trả rằng thành công biện minh cho tất thảy!”

Không cần mào đầu thêm nữa, tôi đáp ứng luôn nguyện vọng này và ngay lập tức ngồi xuống bên đàn piano.

“Xin thứ lỗi,” cô nói thêm, “nếu tôi không hát nhạc của thầy. Làm thế trước mặt thầy sẽ cần sự táo bạo mà tôi chẳng có!”

Những lời này vừa được thốt ra giọng hát của cô liền vang lên với vẻ rực rỡ diệu kỳ trong aria của “Nữ hoàng Bóng đêm” trích từ Cây sáo thần.

Thật là một giọng hát tuyệt vời! Âm vực ba quãng tám từ Sol trầm tới Sol cao với đầy sức mạnh và pianissimo!

Tôi sửng sốt, thán phục, say mê! Khi những giọng hát như thế tồn tại, thật may mắn là họ có sân khấu để thể hiện; lãnh địa của họ là cả thế giới. Tôi phải nói rằng mình nhận ra ở người nghệ sĩ tương lai, cùng sự hiếm có của cơ quan phát âm, là một trí thông minh, một ngọn lửa, một cá tính được phản chiếu rực rỡ trong ánh mắt đáng ngưỡng mộ. Những phẩm chất này là điều tối quan trọng trên sân khấu.

Ngay ngày hôm sau tôi chạy đến nhà xuất bản của mình để kể với anh về niềm hứng khởi mình cảm thấy tại buổi thử giọng hôm trước.

Tôi thấy Hartmann đang bận rộn. Anh bảo: “Về một nghệ sĩ chứ gì… Tôi muốn nói với anh chuyện khác, để hỏi xem anh có muốn soạn nhạc cho kịch bản người ta vừa mang đến cho tôi hay không. Và anh nói thêm: “Đây là việc khẩn cấp vì người ta muốn dùng nhạc trong lễ khai mạc Triển lãm Toàn cầu sẽ diễn ra hai năm nữa, vào tháng 5 năm 1889.”

Tôi cầm lấy bản thảo, và mới xem được một hai cảnh, tôi đã thốt lên với niềm tin sâu sắc: “Tôi đã có nghệ sĩ cho vai diễn này!… Tôi đã có nghệ sĩ! Tôi nghe cô ấy hát hôm qua!… Đó là cô Sibyl Sanderson! Cô ấy sẽ sắm vai Esclarmonde, nữ chính của vở opéra mới mà anh đề nghị tôi viết!”

Đó chính là nghệ sĩ lý tưởng cho kịch bản lãng mạn năm màn của các ông Alfred Blau và Louis de Gramont.

Giám đốc mới của Nhà hát Opéra-Comique, người luôn tỏ ra tôn kính và hết sức thiện chí với tôi, đã ký hợp đồng với cô Sibyl Sanderson và chấp nhận, mà không cần thảo luận, mức thù lao chúng tôi đề xuất cho các buổi biểu diễn của cô.

Về yêu cầu bối cảnh cũng như phục trang, ông để tôi hoàn toàn tùy ý quyết định khi giao cho tôi toàn quyền làm chủ và chỉ đạo các nhà phối cảnh và thiết kế trang phục theo ý tưởng của riêng tôi.

Nếu tôi toại nguyện với tình hình này thì về phần mình, ông Paravey không thể không tự chúc mừng về kết quả tài chính mà Esclarmonde mang lại cho ông. Đúng là phải nói thêm rằng tác phẩm đã được biểu diễn vào thời điểm rực rỡ tất yếu của Triển lãm Toàn cầu năm 1889. Buổi công diễn lần đầu diễn ra ngày 14 tháng 5 cùng năm đó.

Các nghệ sĩ xuất sắc có tên trên áp phích, cùng với Sibyl Sanderson, là các ông Bouvet, Taskin và Gibert.

Tác phẩm đã được trình diễn một trăm lẻ một buổi liên tiếp ở Paris thì tôi hay tin Nhà hát Hoàng gia Monnaie thuê Sibyl Sanderson để dàn dựng Esclarmonde ở Bruxelles. Việc này tất nhiên sẽ khiến cô biến mất trên sân khấu Nhà hát Opéra-Comique, nơi cô đã chiến thắng được vài tháng.

Tuy nhiên, nếu Paris phải chứng kiến sự im tiếng của nghệ sĩ này, người được biết bao khán giả đa dạng tán thưởng trong Triển lãm; nếu ngôi sao đã tỏa sáng rực rỡ ở đường chân trời nghệ thuật của chúng ta lại sắp sửa đi quyến rũ những thính giả khác, thì từ các nhà hát lớn hàng tỉnh đã có tiếng vọng về những thành công giành được, trong Esclarmonde, của các nghệ sĩ nổi tiếng như bà Bréjean-Silver ở Bordeaux; bà Nuovina ở Bruxelles; bà Verheyden cùng bà Vuillaume ở Lyon.

Dù thế nào đi nữa Esclarmonde vẫn phải lưu lại ký ức sống động về người nghệ sĩ xinh đẹp và hiếm có mà tôi đã chọn để dàn dựng tác phẩm ở Paris; vở diễn đã cho phép cô tạo dựng danh tiếng muôn đời.

Sibyl Sanderson!… Tôi chẳng khỏi cảm thấy xót xa khi nhớ đến người nghệ sĩ đã bị cái chết tàn nhẫn đốn gục ngay giữa lúc sắc đẹp đạt tới độ trọn vẹn và tài năng đương nở rộ rực rỡ. Manon lý tưởng tại Nhà hát Opéra-Comique; Thaïs không thể nào quên tại Nhà hát Opéra, các vai diễn này đã đồng nhất hóa với khí chất, với tinh hoa tâm hồn của thiên tư này, một trong những người có năng khiếu tuyệt vời nhất mà tôi từng biết.

Một thiên chức khôn cưỡng đã đẩy cô tới nhà hát, để trở thành người trình diễn hăng say một số tác phẩm của tôi; nhưng chúng tôi cũng vui sướng say sưa biết bao khi được viết ra các tác phẩm, các vai diễn dành cho những nghệ sĩ sẽ biến giấc mơ của chúng tôi thành hiện thực!

Chính với suy nghĩ biết ơn, khi nói về Esclarmonde, mà tôi dành những dòng này cho cô. Vô số khán giả từ khắp nơi trên thế giới đến Paris vào năm 1889 cũng lưu giữ ký ức về người nghệ sĩ từng là niềm vui và nguồn thích thú của họ.

…

Có một đám đông lớn, trầm lặng và chen chúc, đi theo đoàn người đưa tiễn Sibyl Sanderson đến nơi an nghỉ cuối cùng! Một tấm màn buồn thương dường như bao trùm tất cả.

Albert Carré và tôi đi theo quan tài. Chúng tôi bước ngay sau di hài thân thương tội nghiệp là cái còn sót lại của những gì từng là vẻ đẹp, sự duyên dáng, lòng tốt, tài năng cùng tất cả sự quyến rũ của nó; và bởi chúng tôi nhận thấy nỗi buồn chung này, Albert Carré, khi diễn giải tâm trạng của đám đông về người đẹp đã mất, đã thốt lên những lời súc tích hùng hồn sẽ luôn được nhớ đến:

– Cô ấy đã được yêu!

Còn lời tri ân nào giản dị hơn, cảm động hơn và thích đáng hơn để tưởng nhớ một người đã không còn nữa?…

Các con thân yêu ơi, cha vui lòng nhắc lại trong vài nét chấm phá khoảng thời gian đầy kỷ niệm thú vị mà mình đã dành để viết Esclarmonde.

Trong các mùa hè 1887 và 1888, tôi đến Thụy Sĩ và sống ở Vevey tại Khách sạn Lớn. Tôi tò mò muốn đi thăm thành phố xinh đẹp dưới chân rặng đồi Jorat bên bờ Hồ Geneva, nơi nổi tiếng với Lễ hội của những người trồng nho. Tôi nghe nói nó được ca ngợi nhờ nhiều lối đi dạo quyến rũ ở vùng xung quanh cùng vẻ đẹp và sự ôn hòa của khí hậu nơi đây. Tôi đặc biệt nhớ những gì mình đã đọc về nó trong Những lời bộc bạch của Jean-Jacques Rousseau, người có mọi lý do để yêu thành phố này. Bà Warrens sinh ra ở đó. Tình yêu ông dành cho thành phố nhỏ tuyệt vời này đã theo ông trong mọi hành trình.

Một công viên tuyệt vời vây quanh khách sạn và cung cấp cho các vị khách ở đó bóng mát từ những tán cây lớn, đồng thời dẫn họ đến một trong những đầu mút của nó, một bến cảng nhỏ nơi họ có thể lên thuyền du ngoạn trên hồ.

Vào tháng 8 năm 1887, tôi muốn đi thăm thầy Ambroise Thomas của tôi. Thầy đã tậu được một nhóm đảo trên biển, gần Côtes-du-Nord, và tôi đến tìm thầy ở đó. Chắc chắn chuyến thăm này khiến thầy rất vui vẻ bởi vào mùa hè năm sau tôi nhận được ở Thụy Sĩ những trang thư sau:

“Illiec, thứ Hai ngày 20 tháng 8 năm 1888.
“Cảm ơn vì lá thư tốt lành của anh, bạn thân mến ạ. Nó đã được chuyển tiếp cho tôi ở đây, trên hòn đảo hoang này, nơi anh đã đến vào năm ngoái. Anh làm tôi nhớ đến chuyến thăm thú vị mà chúng tôi thường hay nhắc đến nhưng đã để lại cho chúng tôi nỗi nuối tiếc vì chỉ giữ anh ở lại được hai ngày!
“Thế là quá ít!…
“Liệu anh có thể quay lại đây không, hay nói đúng hơn là liệu tôi có thể gặp lại anh ở đây không?
“Anh kể là anh làm việc một cách vui thích và anh có vẻ hài lòng… Tôi chúc mừng anh, và tôi có thể nói điều đó mà không ghen tị. Tôi mong là mình cũng có thể nói như thế về bản thân mình.
“Ở tuổi của anh, người ta tràn đầy tự tin và nhiệt huyết, nhưng ở tuổi của tôi thì!…
“Tôi đang viết tiếp, không phải không khó nhọc, một tác phẩm đã bị gián đoạn từ lâu, và điều tốt hơn là tôi cảm thấy đã được nghỉ ngơi trong sự cô quạnh, tránh xa khỏi những lo lắng và mệt mỏi của cuộc sống Paris.
“Tôi chuyển đến anh lời thăm hỏi trìu mến của bà Ambroise Thomas, và tôi xin tạm biệt anh, bạn thân mến, bằng một cái xiết tay thật chặt.
“Với tất cả trái tim mình.
“Ambrose Thomas.”

Đúng, như thầy tôi đã nói, tôi làm việc một cách vui thích.

Cô Sibyl Sanderson, mẹ cô và ba chị em gái cô cũng sống tại Khách sạn Lớn ở Vevey, và mỗi tối, từ năm đến bảy giờ, tôi để cô tập cảnh mà tôi đã viết trong ngày cho Esclarmonde tương lai của chúng tôi.

Chẳng đợi đầu óc rảnh rang sau khi hoàn thành Esclarmonde, và biết được nỗi buồn của tôi về Werther mà tôi nhất quyết không muốn cho trình diễn ở nhà hát (vả lại cũng chưa ban giám đốc nào tạm ứng cho tác phẩm này), nhà xuất bản của tôi ngỏ lời với Jean Richepin, và họ quyết định giao cho tôi một đề tài lớn cho vở opéra về câu chuyện của Zarastra với nhan đề Pháp sư.

Trong mùa hè năm 1889, tôi đã phác thảo được một số cảnh trong tác phẩm.

Người bạn tuyệt vời của tôi, cây bút lịch sử uyên bác Charles Malherbe, người vừa buồn bã nói lời từ biệt cuối cùng với chúng ta, đã nhận thức được những khoảnh khắc rất hiếm hoi mà tôi vẫn chưa sử dụng đến. Tôi tìm thấy ở anh một cộng sự đích thực trong hoàn cảnh này. Quả nhiên anh đã chọn được, từ đám giấy tờ rải rác của tôi, một loạt bản thảo mà anh chỉ định cho tôi dùng trong các màn khác nhau của Pháp sư.

P. Gailhard, giám đốc Nhà hát Opéra của chúng ta, luôn là người bạn tận tụy nhất. Anh đã dàn dựng tác phẩm một cách xa hoa hiếm có. Nhờ anh mà tôi có được một dàn ca sĩ tuyệt vời với các bà Fierens và Lureau-Escalaïs, các ông Vergnet và Delmas. Màn ballet rất quan trọng và được biên đạo một cách kỳ diệu với ngôi sao Rosita-Mauri.

Tác phẩm dù được báo chí bàn tán rôm rả nhưng vẫn chỉ chạy được hơn 40 buổi diễn.

Một số người vui mừng vì có cơ hội tìm cách gây gổ với giám đốc của chúng tôi, người đang chơi lá bài chót và đã đi đến những tháng nắm quyền cuối cùng của mình. Nhưng nhọc công vô ích: chỉ một thời gian ngắn sau Gailhard sẽ lấy lại quyền lãnh đạo sân khấu opéra grande của chúng ta, nơi tôi thấy anh cộng tác với E. Bertrand khi dàn dựng Thaïs mà tôi sẽ nói đến sau.

Về việc này, tôi chợt nghĩ đến vài câu thơ của Ernest Reyer luôn hóm hỉnh. Chúng đây:

“Pháp sư” ở xa, “Werther” ở gần,
Và “Thaïs” ở dưới núi đá rồi;
Sức sáng tạo đáng ngưỡng mộ làm sao…
Còn tôi đây cày cuốc suốt mười năm
Trên cánh đồng “Thầy dòng bị bỏ bùa”.

Các con thân yêu ơi, thật ngạc nhiên khi chưa bao giờ được xem trình diễn tác phẩm này của Reyer. Đây là đề tài do chính ông kể, một cách nghiêm túc mà hài hước nhất, trong một trong những bữa tối hàng tháng của Học viện, tại nhà hàng Champeaux tuyệt vời ở Quảng trường Bourse.

“Màn đầu tiên và duy nhất!

“Phông cảnh thể hiện một quảng trường công; bên trái là biển hiệu của một quán rượu ngon. Đi vào từ bên phải là một thầy dòng. Thầy nhìn cánh cửa quán rượu. Thầy do dự; rồi cuối cùng quyết định bước qua ngưỡng cửa và đóng cửa lại. Dàn nhạc trỗi lên nếu muốn. Đột nhiên, người ta thấy bước ra là “thầy dòng… bị bỏ bùa… bị bỏ bùa hẳn là từ nhà bếp!”

Nhan đề tác phẩm được giải thích như vậy đấy; không liên quan gì đến thứ bùa ngải của một thầy dòng tội nghiệp!!!

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch