CHICAGO SYMPHONY ORCHESTRA

Chicago Symphony Orchestra là một dàn nhạc có trụ sở tại thành phố Chicago, Mỹ. Được thành lập từ năm 1891, đây là một trong những dàn nhạc lâu đời nhất tại Mỹ. Phòng hoà nhạc của dàn nhạc có tên là Orchestra Hall, 2.522 chỗ, nằm tại khu phức hợp Symphony Center, được xây dựng từ năm 1904. Từ năm 1936, trong các mùa hè từ tháng 6-9 hàng năm, Chicago Symphony Orchestra tổ chức Ravinia Festival, lễ hội âm nhạc ngoài trời lớn nhất nước Mỹ tại Highland Park, Illinois. Chicago Symphony Orchestra cũng là thành viên của nhóm Big Five (5 dàn nhạc lớn tại nước Mỹ, cùng với New York Philharmonic, Boston Symphony Orchestra, Philadelphia OrchestraCleveland Orchestra). Năm 2008, tạp chí Gramophone tổ chức một cuộc bình chọn các dàn nhạc tốt nhất trên thế giới và Chicago Symphony Orchestra được vinh danh ở vị trí thứ 5 và là dàn nhạc tại Mỹ có thứ hạng cao nhất trong danh sách.

Năm 1889, ông Charles Norman Fay, một doanh nhân Chicago đã mời nhạc trưởng Theodore Thomas, người lúc này đang làm giám đốc âm nhạc của New York Philharmonic, tới để bàn về thành lập một dàn nhạc giao hưởng của thành phố Chicago. Fay đã đưa ra đề nghị: “Ông có đến Chicago nếu chúng tôi đưa cho ông một dàn nhạc cố định?”. Câu trả lời của Thomas đã trở nên rất nổi tiếng: “Tôi sẽ chết nếu họ đưa tôi một dàn nhạc cố định”. Ngày 17/12/1890, buổi họp đầu tiên để thành lập Orchestral Association, đơn vị quản lý dàn nhạc đã được Fay tổ chức tại Chicago Club.

Dàn nhạc đã được thành lập với cái tên ban đầu Chicago Orchestra đã có buổi hoà nhạc đầu tiên của mình vào ngày 16/10/1891 tại Auditorium Theater với Theodore Thomas, người lúc này đã chia tay New York Philharmonic để trở thành giám đốc âm nhạc đầu tiên của Chicago Orchestra, chỉ huy. Chương trình gồm có Overture “Faust” của Wagner, Concerto piano số 1 của Tchaiokvsky (Rafael Joseffy độc tấu), Giao hưởng số 5 của Beethoven và Overture “Husitská” của Dvořák. Trong nhiệm kỳ của mình, Thomas đã giới thiệu một số tác phẩm mới với khán giả Chicago, bao gồm các buổi ra mắt tại Mỹ các tác phẩm của Bruckner, Dvořák, Elgar, Glazunov, Grieg, Massenet, Smetana, Tchaikovsky và bạn của ông Richard Strauss. (Theo lời mời của Thomas, Strauss trở thành nhạc trưởng khách mời đầu tiên của dàn nhạc vào tháng 4/1904 cùng với vợ là Pauline với tư cách là soprano).

Thomas chưa bao giờ hài lòng với Auditorium Theater với tư cách một không gian biểu diễn; nó quá rộng đối với một dàn nhạc và gần như không thể bán được hơn 3.000 vé cho các buổi hòa nhạc bình thường. Ông đã hiện thực hóa ước mơ về một ngôi nhà lâu dài cho dàn nhạc của mình vào năm 1904, khi Orchestra Hall, do kiến trúc sư người Chicago Daniel H. Burnham thiết kế, được hoàn thành. Thomas chỉ huy buổi hoà nhạc khai trương tại đây vào ngày 14/12. Tuy nhiên, thật bi thảm, Thomas chỉ chỉ huy được hai tuần tại phòng hoà nhạc mới. Ông đã mắc bệnh cúm trong khi diễn tập cho buổi diễn ra mắt nhưng vẫn tiếp tục làm việc với tinh thần hăng hái như thường lệ của mình. Thomas chỉ huy dàn nhạc Chicago yêu quý của mình lần cuối cùng vào đêm Giáng sinh năm 1904. Ông qua đời vì viêm phổi vào ngày 4/1/1905. Đề ghi nhận những đóng góp của Thomas cho dàn nhạc, Chicago Orchestra đã được đổi tên thành Theodore Thomas Orchestra.

Năm 1895, trong một lần tới châu Âu nhằm tìm kiếm thành viên cho dàn nhạc, Thomas đã gặp nghệ sĩ viola người Đức Frederick Stock và mời Stock tới Mỹ, gia nhập Chicago Orchestra. Stock đã nhận lời và năm 1899, ông được bổ nhiệm làm trợ lý chỉ huy. Sau sự qua đời của Thomas, Stock đã được tạm thời bổ nhiệm làm giám đốc âm nhạc. Ban lãnh đạo dàn nhạc đã gửi lời mời tới các nhạc trưởng Felix Mottl (người từng được Thomas nhắc tới với mong muốn sẽ thay thế mình), Hans Richter và Felix Weingartner nhưng đều bị từ chối. Và đến tháng 4/1905, Stock chính thức đảm nhiệm cương vị này. Cũng từ năm 1905, dàn nhạc bắt đầu biểu diễn tại Ravinia Festival và được thực hiện bán định kỳ cho đến năm 1931. Tháng 2/1913, dàn nhạc đổi tên thành Chicago Symphony Orchestra, với lý do sẽ dễ dàng gây quỹ hơn với một tổ chức mang tên cộng đồng. Ngày 1/5/1916, dàn nhạc thực hiện bản thu âm đầu tiên của mình với Columbia trong trích đoạn “Hành khúc đám cưới” từ tác phẩm Giấc mộng đêm hè của Mendelssohn.

Trong thời kỳ đầu đảm nhiệm vị trí giám đốc âm nhạc của Chicago Symphony Orchestra, Stock đã gặp phải không ít khó khăn. Uy tín của ông chưa đủ để đứng đầu một dàn nhạc lớn như vậy, Stock vẫn bị coi là một nhạc trưởng hạng hai. Tuy nhiên, theo năm tháng, ông đã giành được sự quý mến và tôn trọng từ các nhạc công. Họ đánh giá cao sự lao động miệt mài, đặc biệt trong những tác phẩm mới của Stock. Ông đã đảm nhiệm cương vị này trong 37 mùa diễn. Một kỷ lục tại Mỹ, chỉ kém Eugene Ormandy với 44 mùa diễn cùng Philadelphia Orchestra. Dưới sự dẫn dắt của ông, Chicago Symphony Orchestra đã duy trì được bản sắc của mình, phát triển bộ đồng trứ danh, nổi tiếng qua nhiều năm tháng. Từ mùa giải 1920-1921, Stock cùng dàn nhạc bắt đầu thực hiện các chương trình hoà nhạc cho những người trẻ tuổi cũng như thành lập Civic Orchestra of Chicago, một dàn nhạc tập sự dành cho các sinh viên. Mục tiêu của nó là tuyển chọn các nhạc công trẻ và đào tạo họ thành những người chuyên nghiệp. Đây là mô hình thuộc loại này đầu tiên trên đất Mỹ. Nhiều cựu sinh viên của Civic Orchestra of Chicago đã trở thành thành viên chính thức của Chicago Symphony Orchestra cũng như những dàn nhạc danh tiếng khác. Năm 1925, Chicago Symphony Orchestra lần đầu thực hiện chương trình biểu diễn của mình qua sóng phát thanh. Sau khi tạm dừng vào năm 1931 vì Đại suy thoái, các buổi hoà nhạc mùa hè tại Ravinia Festival được tiếp tục trở lại vào năm 1936 và duy trì định kỳ hàng năm. Kể từ năm 1959, nhiều nhạc trưởng đã được chỉ định làm giám đốc âm nhạc tại liên hoan này như Seiji Ozawa, James Levine hay Christoph Eschenbach… Mùa diễn 1940-1941, nhân dịp kỷ niệm 50 ngày thành lập Chicago Symphony Orchestra, dàn nhạc đã đặt hàng các nhà soạn nhạc sáng tác những tác phẩm để biểu diễn nhân dịp này như bản Giao hưởng giọng Đô trưởng của Stravinsky, Giao hưởng số 21 của Miaskovsky, Concerto cho dàn nhạc của Kodály và một số tác phẩm khác. Ngay sau khi bắt đầu mùa diễn thứ 50, Stock qua đời và thực sự trở thành “người cha thứ hai” của dàn nhạc. Năm 1941, một sự kiện lịch sử đã diễn ra khi Stock bổ nhiệm Helen Kotas làm bè trưởng bè horn, lần đầu tiên một người phụ nữ đảm nhiệm cương vị bè trưởng bộ hơi tại các dàn nhạc lớn nhất tại Mỹ.

Nhạc trưởng người Bỉ Désiré Defauw được mời làm giám đốc âm nhạc tiếp theo của Chicago Symphony Orchestra, thay thế cho Stock. Sau khi đã gây dựng được danh tiếng tại châu Âu, Defauw lần đầu tiên ra mắt khán giả Mỹ vào năm 1939 khi chỉ huy NBC Orchestra của Toscanini. Nhiệm kỳ của Defauw từ năm 1943-1947. Ông tích cực giới thiệu tới khán giả Chicago các tác phẩm của những nhà soạn nhạc đương đại như Barber, Bloch, Copland, Elgar, Milhaud, Sibelius hay Walton.

Ngay sau sự qua đời của Stock, ban giám đốc dàn nhạc đã có ý định mời nhạc trưởng người Ba Lan Artur Rodziński thay thế. Tuy nhiên nhiệm kỳ của ông với New York Philharmonic đã ngăn cản Rodziński đến với Chicago. Sau sự ra đi của Defauw, cuối cùng thì Rodziński cũng trở thành giám đốc âm nhạc của dàn nhạc. Dấu ấn lớn nhất của Rodziński là buổi biểu diễn vở opera Tristan und Isolde của Wagner với sự tham gia của Kirsten Flagstad tại Civic Opera House. Mặc dù với danh tiếng của mình, Rodziński được kỳ vọng sẽ đem lại thành công lớn cho dàn nhạc, nhưng sự bất đồng quan điểm giữa ông và ban lãnh đạo nhanh chóng xuất hiện và ông ra đi chỉ sau một mùa diễn.

Nhạc trưởng danh tiếng người Czech Rafael Kubelik lần đầu ra mắt cùng Chicago Symphony Orchestra vào ngày 17/11/1949 và sau 3 tuần lễ, ông đã được mời làm giám đốc âm nhạc thứ năm của dàn nhạc. Kubelik đã giới thiệu hơn 70 tác phẩm mới trong 3 mùa diễn từ 1950-1953, đặc biệt được khen ngợi trong những bản nhạc của những nhạc sĩ quê hương ông như Smetana, Dvorák hay Janáček. Ông cũng thực hiện một số bản ghi âm cùng dàn nhạc, trong đó bản thu tác phẩm Những bức tranh trong phòng triển lãm của Mussorgsky (phiên bản dàn nhạc của Ravel) được đánh giá rất cao. Công diễn quá nhiều tác phẩm mới, những yêu cầu khắt khe trong tập luyện và có sự cộng tác với những nhạc công da đen được coi là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đi của Kubelik. Tuy nhiên, sau này ông cũng còn nhiều lần hợp tác cùng dàn nhạc với tư cách khách mời.

Đã từng cộng tác với Chicago Symphony Orchestra nhiều lần trước đó, khi được bổ nhiệm làm giám đốc tiếp theo của dàn nhạc vào năm 1953, cái tên Fritz Reiner đã không còn xa lạ. Dưới nhiệm kỳ của ông, dàn nhạc đã thực hiện nhiểu bản thu âm với RCA, trong đó đáng kể là Concerto cho Orchestra của Bartók, Ein Heldenleben của Richard Strauss và Alexander Nevsky của Prokofiev. Cũng trong năm 1953, dàn nhạc bắt đầu thực hiện các chương trình truyền hình. Năm 1957, Reiner mời Margaret Hillis thành lập Chicago Symphony Chorus, trở thành dàn hợp xướng cố định đầu tiên tại Mỹ được liên kết với một dàn nhạc giao hưởng lớn. Chicago Symphony Chorus biểu diễn lần đầu tiên vào tháng 3/1958 trong Requeim của Mozart dưới sự chỉ huy của Reiner. Từ đầu những năm 1960, vì lý do sức khoẻ, ông phải chia sẻ công việc của mình với một số nhạc trưởng khách mời và từ chức giám đốc âm nhạc vào năm 1962. Ông được bổ nhiệm làm cố vấn âm nhạc cho Chicago Symphony Orchestra nhưng chỉ một năm sau, ông chính thức chia tay với dàn nhạc.

Nhạc trưởng người Pháp Jean Martinon được bổ nhiệm làm giám đốc âm nhạc tiếp theo của dàn nhạc. Với vị nhạc trưởng mới này, dàn nhạc đã chuyển đổi từ phong cách Đức mạnh mẽ, táo bạo trước đó sang phong cách Pháp uyển chuyển và mềm mại hơn. Trong nhiệm kỳ của mình, Martinon đã tích cực biểu diễn âm nhạc đương đại, với sự tài trợ của quỹ Rockefeller tại University of Chicago cũng như tổ chức các liên hoan âm nhạc Baroque. Cũng là một nhà soạn nhạc, vào mùa diễn 1965-1966, kỷ niệm 75 năm thành lập dàn nhạc, Martinon trình bày một số tác phẩm ra mắt thế giới, trong đó có bản giao hưởng số 4 “Altitudes” của mình. Martinon cũng có mâu thuẫn với một số nhạc công, đặc biệt là Ray Still, oboe chính của dàn nhạc. Sau 5 mùa diễn, Martinon đã chia tay dàn nhạc vào năm 1968.

Sau một mùa diễn trợ lý của Martinon, Irwin Hoffman tạm thời nắm giữ cương vị quyền giám đốc âm nhạc, năm 1969, Chicago Symphony Orchestra bổ nhiệm Georg Solti làm giám đốc âm nhạc tiếp theo. Đây là lần thứ 2 Solti nhận được lời mời, lần trước là sau khi Reiner từ chức. Cũng trong năm này, dàn nhạc cũng đề ra một chức vụ mới: nhạc trưởng khách mời chính được Carlo Maria Giulini đảm nhận. Một vài nhạc trưởng danh tiếng sau đó cũng giữ cương vị này như Claudio Abbado hay Pierre Boulez. Chính Solti đã đề nghị dàn nhạc mời Giulini vì cũng trong thời điểm này, Solti vẫn đang là giám đốc âm nhạc tại nhà hát Covent Garden, London và không thể dành 8 tháng/1 năm cho dàn nhạc. Khi Solti bắt đầu nhiệm kỳ của mình, tinh thần của dàn nhạc đang ở mức rất thấp và gánh món nợ khoảng 5 triệu đô la. Solti đặt ra mục tiêu là phải nâng tầm quốc tế của dàn nhạc. Cùng với Giulini, Solti đã dẫn dắt Chicago Symphony Orchestra thực hiện chuyến lưu diễn tại châu Âu vào năm 1971, tới 10 quốc gia. Đây là chuyến biểu diễn đầu tiên của dàn nhạc bên ngoài Bắc Mỹ kể từ khi thành lập hơn 80 năm trước đó. Cùng với hãng thu âm Decca, họ đã thực hiện rất nhiều bản có chất lượng nghệ thuật tuyệt vời. Solti đòi hỏi rất cao trong những buổi luyện tập nhưng thường tỏ ra thoải mái khi trình diễn. Dưới đũa chỉ huy của ông, lần đầu tiên Chicago Symphony Orchestra lần đầu biểu diễn trọn bộ các bản giao hưởng của Bruckner và Mahler. Solti cũng tích cực dàn dựng những tác phẩm mới như bản Giao hưởng số 3 của Lutoslawki hay bản Giao hưởng số 4 của Tippet, tác phẩm được dành tặng cho chính Solti. Ông cũng thực hiện thu âm một số vở opera cùng dàn nhạc như Die Meistersinger von Nürnberg, Der fliegende Holländer (Wagner), Fidelio (Beethoven) hay Moses und Aron (Schoenberg). Dưới sự chỉ đạo của Solti, dàn nhạc đã đạt được danh tiếng chưa từng có và khởi sắc cả về mặt nghệ thuật lẫn tài chính. Ông giã từ nhiệm kỳ của mình vào năm 1991 nhưng vẫn tiếp tục cộng tác với dàn nhạc và được trao tặng danh hiệu giám đốc âm nhạc suốt đời. Cùng với Chicago Symphony Orchestra, Solti đã có 999 buổi biểu diễn. Cả 2 đã lên kế hoạch cho buổi biểu diễn thứ 1.000 vào khoảng tháng 10/1997 nhưng Solti đã qua đời vào ngày 5/9 năm đó.

Nhạc trưởng người Argentina Daniel Barenboim được bổ nhiệm làm giám đốc âm nhạc thứ 9 của Chicago Symphony Orchestra vào năm 1991. Thường xuyên xuất hiện cùng dàn nhạc với cả 2 vai trò: nhạc trưởng và nghệ sĩ piano, Barenboim đã ghi dấu ấn của mình với dàn nhạc khi khai trương Symphony Center mới tại Chicago vào năm 1997 cũng như chỉ huy nhiều vở opera được đánh giá cao. Cùng với dàn nhạc, Barenboim đã thực hiện nhiều bản thu âm cho hãng Teldec. Trong nhiệm kỳ 17 năm của mình, Barenboim cùng dàn nhạc đã thực hiện 21 chuyến lưu diễn, duy trì được chất lượng nghệ thuật cũng như danh tiếng của dàn nhạc. Ông đã bổ nhiệm khoảng 40 nhạc công mới, trong đó có 9 người vào các vị trí bè trưởng. Barenboim đã giới thiệu khoảng 20 tác phẩm lần đầu được công diễn. Ông cũng tích cực ủng hộ sự tồn tại của Civic Orchestra of Chicago. Tuy nhiên, trong thời gian cộng tác với Chicago Symphony Orchestra, Barenboim đã nhiều lần tỏ ra thất vọng với các hoạt động gây quỹ cho dàn nhạc tại đây. Tháng 6/1994, sau khi Margaret Hillis nghỉ hưu sau 37 năm cống hiến, Barenboim đã bổ nhiệm Duain Wolfe làm giám đốc của Chicago Symphony Chorus.

Sau khi Barenboim chia tay dàn nhạc để đảm nhiệm vị trí nhạc trưởng khách mời chính tại nhà hát La Scala, Milan, Chicago Symphony Orchestra không có giám đốc âm nhạc trong 3 năm. Trong giai đoạn này, nhạc trưởng người Hà Lan Bernard Haitink được bổ nhiệm làm nhạc trưởng chính đầu tiên của dàn nhạc. Trên thực tế, Haitink đã nhận được lời mời làm giám đốc âm nhạc tiếp theo nhưng ông từ chối vì lý do tuổi tác. Năm 2007, dàn nhạc thành lập hãng thu âm riêng của mình CSO Resound và thực hiện nhiều bản thu âm số để phát hành trực tuyến và trên đĩa CD.

Năm 2010, nhạc trưởng người Ý Riccardo Muti được bổ nhiệm làm giám đốc âm nhạc thứ 10 của Chicago Symphony Orchestra. Trước khi đến với dàn nhạc, Muti cũng từng gắn bó với một dàn nhạc danh tiếng khác ở Mỹ khi là nhạc trưởng chính của Philadelphia Orchestra từ 1980-1992. Kể từ khi làm việc cùng Chicago Symphony Orchestra, ông đã chinh phục được khán giả tại đây và tạo được uy tín lớn hơn cho dàn nhạc. Muti định kỳ hàng năm tổ chức buổi biểu diễn miễn phí cho mọi người tại Công viên Thiên niên kỷ. Ông cũng cho phép sinh viên, người cao tuổi và những người có thu nhập thấp tham dự các buổi tập luyện của dàn nhạc. Dàn nhạc duy trì khoảng 130 buổi hoà nhạc hàng năm diễn ra trong 28 tuần lễ. Cam kết của Muti đối với sự xuất sắc về nghệ thuật và tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa dàn nhạc và các cộng đồng của nó tiếp tục đưa Chicago Symphony Orchestra đạt đến những thành tựu và danh tiếng ngày càng cao.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn: cso.org