“Cô ấy xinh đẹp, cô ấy hóm hỉnh, cô ấy thông minh. Tất nhiên, giọng hát của cô ấy rất tuyệt vời. Cô ấy có một khí chất như vậy! Nhưng cô ấy cũng là một đồng nghiệp xuất sắc. Thật dễ dàng để làm việc với cô ấy. Đó là khả năng tập trung vào những gì quan trọng – cô ấy hiểu rằng đó không thể là tôi, tôi, tôi, mà chỉ có thể là chúng ta, chúng ta, chúng ta. Cùng nhau, chúng ta sẽ tốt.” – Wolfgang Brendel
Khởi đầu sự nghiệp với những vai coloratura soprano như Nữ hoàng đêm tối (Die zauberflöte, Wolfgang Amadeus Mozart), Zerbinetta (Ariadne auf Naxos, Richard Strauss) hay Oscar (Un ballo in maschera, Giuseppe Verdi) nhưng về sau Lucia Popp có xu hướng thể hiện nhiều hơn những vai diễn trữ tình như Susanna (Le nozze di Figaro, Mozart), Ännchen (Der Freischütz, Carl Maria von Weber), Marzelline (Fidelio, Ludwig van Beethoven) hay Sophie (Der Rosenkavalier, Richard Strauss). Và khi giọng hát của bà phát triển hơn nữa, Popp thậm chí đã hoá thân vào những nhân vật đòi hỏi nhiều sức mạnh hơn như Eva (Die Meistersinger von Nürnberg, Richard Wagner). Tất cả chúng đều được Popp thể hiện với một sự quyến rũ đáng kinh ngạc và giành được những thành công rực rỡ. Bất chấp sự xuất hiện ngay sau đó của Edita Gruberová, người cũng có một danh mục biểu diễn gần tương tự với bà, Popp vẫn là danh ca Tiệp Khắc gây được tiếng vang mạnh mẽ nhất trên trường quốc tế. Thật không may mắn, bà đã qua đời ở tuổi 54 khi vẫn đang còn ngự trị trên đỉnh cao sự nghiệp, để lại rất nhiều tiếc nuối trong lòng những người hâm mộ.
Lucia Popp sinh ngày 12/11/1939 tại Záhorská Ves, lúc đó thuộc Cộng hoà Slovak, một phần của Đức Quốc xã (sau là nước Tiệp Khắc, nay là Slovakia) với tên khai sinh là Lucia Poppová (bà sử dụng họ Popp để biểu diễn ở nước ngoài). Thuở nhỏ, Lucia hoà mình vào thiên nhiên, như bà sau này kể lại “thường đi chân trần với bầy ngỗng” và chủ yếu sống với bà ngoại, người thường kể cho cháu của mình nghe về chuyện bà, chị gái của bà và cô con gái (mẹ của Lucia) từng nhiều lần đến Vienna để thưởng thức các vở opera. Cha của cô, ông Rudolf vốn là một nhân viên của bộ Ngoại giao, từng làm tuỳ viên văn hoá cho đại sứ quán ở London nhưng do quan điểm chính trị tự do của mình đã phải chuyển sang làm việc tại công ty Thoát nước và Khí đốt. Mẹ Lucia rất yêu ca hát, bà sở hữu một giọng soprano trữ tình rất đẹp, từng biểu diễn trong một số chương trình hoà nhạc nhưng chưa bao giờ xuất hiện trong một vở opera. Trong nhà họ có một cây đàn piano và khi mẹ học những tác phẩm mới thì cô bé Lucia đứng bên cạnh, song ca cùng mẹ mình. Lucia khi đó đã nhiều lần hoá thân thành Rodolfo, Cavaradossi hoặc Pinkerton. Tuy nhiên, bất chấp năng khiếu và tình yêu ca hát, ước mơ ban đầu của Lucia là theo học nghề y với ước muốn trở thành bác sĩ nhi. Cô không thể thực hiện điều đó tại Bratislava nên đã đăng ký học ở Brno trong hai học kỳ. Nhưng cuối cùng Lucia lại quyết định theo học tại khoa Sân khấu của Học viện Biểu diễn nghệ thuật Bratislava từ năm 1958. Như Popp nhớ lại, điều này đến với bà lúc đó thật tự nhiên: “Đột nhiên tôi nhận thấy rằng mình phải trở thành một diễn viên, hoặc thứ gì tương tự như vậy”.
Ở tuổi 19, Popp với vẻ ngoài trẻ trung, trong sáng, ngây thơ, sở hữu một sắc đẹp dịu dàng với mái tóc vàng óng ả. Một ngày kia, tại trường, cô được yêu cầu hoá thân thành Nicole trong Bourgeois Gentilhomme của Molière, một vai diễn yêu cầu Popp phải hát và năng khiếu thanh nhạc của cô đã được phát hiện. Popp đã được thuyết phục chuyển sang học tại khoa Âm nhạc và theo học lớp của Anna Hrušovská-Prosencová, nguyên là giọng soprano coloratura của Vienna Volksoper và sẽ là giáo viên thanh nhạc duy nhất trong cuộc đời Popp. Ấn tượng ban đầu của Hrušovská-Prosencová với cô học trò của mình không ở giọng hát mà là trí thông minh của Popp. Giọng hát của Popp ban đầu được xác định là mezzo-soprano nhưng thực chất lại là soprano coloratura. Họ đã làm việc với nhau không biết mệt mỏi trong suốt bốn năm trời. Popp nhớ về giọng hát của mình khi đó: “Tôi có đáy và đỉnh và không có gì ở giữa”. Chính Hrušovská-Prosencová là người đã giúp học trò mình lấp đầy khoảng trống đó.
Trong quá trình học, Popp đã có được những vai diễn đầu tiên của mình tại học viện như Philine (Mignon, Ambrose Thomas) hay Blonde (Die entführung aus dem serail, Mozart). Tài năng của Popp đã được ghi nhận, ngay khi còn là sinh viên, cô đã được nhiều lần mời cộng tác cùng Nhà hát Bratislava trong những vai nhỏ. Ngày 17/4/1963, khi đang là sinh viên năm thứ tư, Popp đã có màn xuất hiện chói sáng trong Nữ hoàng đêm tối tại Nhà hát Bratislava. Khi tất cả khán giả đều mong chờ một tài năng opera mới xuất hiện tại Tiệp Khắc thì một sự kiện xảy ra đã thay đổi toàn bộ cuộc đời của Popp. Chỉ mười ngày sau buổi biểu diễn đáng nhớ trên, Popp cùng mẹ đi du lịch tới Vienna để thăm chị gái của bà ngoại cô trong khi cha cô, ông Rudolf phải ở nhà vì chính quyền không cho phép toàn bộ gia đình xuất ngoại. Tình cờ lúc đó, Vienna State Opera đang tổ chức buổi thử giọng để tìm kiếm ca sĩ cho vai Nữ hoàng đêm tối cho mùa diễn năm sau. Popp đã không ngần ngại đăng ký, cô nhớ lại buổi thử giọng hôm đó: “Khi tôi đang hát trước hội đồng, cả nhà hát ùa vào hội trường. Sau đó, gần như trong suốt buổi tối, tôi phải hát liên tục theo yêu cầu của những chuyên gia đến muộn và cũng muốn nghe xem họ thực sự sẽ thuê ai từ phía sau Bức màn sắt. Và tôi đã hát với lòng biết ơn. Cuối cùng, ef-ká (hiệu ứng sức nặng của màu sắc) trong tiếng Slovakia cũng giống như trong tiếng Đức”. Popp đã trúng tuyển ngay lập tức. Ban giám khảo bất ngờ trước giọng hát tuyệt đẹp của một ca sĩ hoàn toàn vô danh. Họ đã liên lạc với Herbert von Karajan, người đang giữ cương vị giám đốc nghệ thuật của Vienna State Opera và dưới sự chấp thuận của ông, Popp được đề nghị ký một hợp đồng ba năm. Giờ đây cô đã phải đứng trước một tình huống khó xử lớn. Cô có một tương lai rộng mở ở phía trước mang tầm vóc quốc tế hoặc trở về nước, tiếp tục phấn đấu để phát triển sự nghiệp. Cha mẹ Popp đều biết đến một cuộc sống thực sự tự do với những tháng ngày ở London và họ hiểu rằng cơ hội cho cô con gái mình là ở đâu. Họ cũng hiểu những hậu quả mà mình phải gánh chịu khi Popp ở lại Vienna. Qua những trao đổi bằng điện thoại, với một số ngôn ngữ được mã hoá từ trước nhằm tránh tình trạng bị nghe trộm, họ quyết định để Popp ở lại Vienna một mình còn mẹ cô trở về nước. Đó là một quyết định quan trọng và dũng cảm. Kể từ lúc đó, trong suốt năm năm trời, cho đến mùa xuân Prague năm 1968, họ không thể gặp gỡ con gái mình mà chỉ có thể liên lạc qua thư từ và thỉnh thoảng, bằng điện thoại. Giờ đây, Popp là một kẻ đào tẩu và có thể phải gánh chịu những hình phạt nghiêm khắc nếu quay trở về Tiệp Khắc.
Nỗi buồn và sự cô đơn của Popp được nhanh chóng bị loại bỏ bằng một cuộc sống bận rộn. Cô hình dung lại công việc lúc đó như “xây dựng từ mái nhà trở xuống”. Gần như không biết tiếng Đức, Popp đã có thể sử dụng nó một cách cơ bản chỉ trong vòng vài tháng (cô đã viết thư về nhà bằng tiếng Đức cho gia đình để chứng minh trình độ của mình). Sau đó là các khoá học tiếng Ý, Anh và Pháp. Tuy nhiên, ngôn ngữ sau cùng ít được cô sử dụng nhất vì khi đó tại Đức vẫn có truyền thống hát các vở opera bằng tiếng Đức. Trong sự nghiệp của Popp, cô cũng ít khi hát các vở opera Pháp và đó được coi là một điều tiếc nuối lớn vì có một số vai như Juliette (Roméo et Juliette, Charles Gounod), Mireille (Mireille, Gounod) hay đặc biệt là Manon (Manon, Jules Massenet) được coi là vô cùng phù hợp với chất giọng của Popp. Ngày 22/6/1963, Popp lần đầu tiên ra mắt tại Vienna State Opera trong vai diễn nhỏ Barbarina (Le nozze di Figaro) bên cạnh Geraint Evans, Anneliese Rothenberger và Hermann Prey dưới sự chỉ huy của Joseph Keilberth. Ngay trong mùa hè năm đó, tại liên hoan Salzburg, Popp hát những vai nhỏ trong các vở opera như Iphigenie en Aulide (Christoph Willibald Gluck) hay Die zauberflöte cùng Karl Böhm và những danh ca như Nicolai Gedda, Pilar Lorengar hay Christa Ludwig. Ngày 28/10/1963, với vai diễn đã giúp cô trúng tuyển vào nhà hát, Nữ hoàng đêm tối, Popp đã toả sáng tại Vienna State Opera cùng với những bạn diễn Luigi Alva, Hilde Gulden và Gottlob Frick. Gundula Janowitz cũng có một vai diễn nhỏ trong chương trình này. Gulden, người được cho là không mấy thiện cảm với những ca sĩ trẻ cũng chạy đến chúc mừng và ôm hôn Popp. Danh tiếng của cô đã ngay lập tức lan xa và Walter Legge đầy quyền lực đã mời cô ký hợp đồng thu âm cho EMI Classics. Lần xuất hiện đầu tiên, không gì khác là Nữ hoàng đêm tối với vai chính thuộc về Gedda và Janowitz. Những giọng ca tên tuổi khác góp mặt là Frick, Ludwig và Elisabeth Schwarzkopf. Nhạc trưởng Otto Klemperer ban đầu không đồng ý cho Popp góp mặt, ông muốn một ca sĩ tên tuổi hơn. Tuy nhiên, giọng ca tuyệt vời với những nốt Pha cao chót vót đầy ấn tượng đã khiến Klemperer sửng sốt. Schwarzkopf đã gọi Popp là tương lai của opera. Tuy nhiên, bất chấp việc đã gây dựng được những danh tiếng nhất định, Popp, lúc này mới 24 tuổi, vẫn chỉ được coi là một người mới vào nghề và chủ yếu được giao những vai diễn nhỏ như Karolka, Jana (Jenůfa, Leoš Janáček), Naiad (Ariadne auf Naxos) hay Ca sĩ người Ý (Capriccio, Richard Strauss). Vai chính hiếm hoi của Popp tại Vienna State Opera thời điểm này là Arabella trong vở opera cùng tên của Richard Strauss.
Nghệ sĩ piano, nhạc trưởng György Fischer, trợ lý của Karajan tại Vienna State Opera chính là người đệm đàn cho Popp trong buổi thử giọng. Anh tự hào là người đầu tiên phát hiện ra tài năng của Popp và đem lòng say mê cô. Họ kết hôn vào mùa hè năm 1965 và đi nghỉ tuần trăng mật tại Ý đúng vào thời điểm Karajan chọn Popp cho vai diễn Xenia trong Boris Godunov (Modest Mussorgsky) tại liên hoan Salzburg. Ông không báo trước cho Popp và cô chỉ biết đến điều này qua báo chí và cho rằng nó không quan trọng. Sau đó, Karajan lại giao Nữ hoàng đêm tối cho Popp, vai diễn mà cô đã cảm thấy chán ngán nên đã từ chối. Năm 1968, một lần nữa Karajan lại mời Popp hợp tác, nhưng lần này là với Freia (Das rheingold, Wagner) lạ lẫm khiến cô không thể nhận lời. Điều này khiến cho tên của Popp và Karajan, người đã đồng ý để cô ký hợp đồng với Vienna State Opera không bao giờ xuất hiện cùng nhau trong một chương trình nào nữa. Ngay từ những năm khởi đầu sự nghiệp này Popp đã có cảm giác sợ hãi sân khấu khi phải hát một vai diễn trong quá nhiều buổi liên tiếp nhau. Mùa hè năm 1965, Vienna State Opera dàn dựng Die zauberflöte và Popp một lần nữa được giao vai Nữ hoàng đêm tối. Cô tỏ ra miễn cưỡng và muốn huỷ bỏ các buổi diễn tiếp theo, bất chấp việc bạn diễn Fritz Wunderlich động viên. Cô viết thư về cho gia đình: “Con đã có mọi thứ mà nghề này cần, ngoại trừ điều quan trọng nhất: thần kinh. Con không đủ mạnh mẽ để sống như thế này và khi nó tiếp tục, con sẽ kết thúc trong bệnh viện tâm thần hoặc nghiện rượu hay ma túy. Mỗi ngày con đều rất sợ: vì ngày càng già đi, đối thủ cạnh tranh, khoảnh khắc ai đó đẹp hơn hoặc giỏi hơn sẽ đến và điều đó sẽ xảy ra”. Trên thực tế, điều này thường xuyên xuất hiện trong suốt sự nghiệp của Popp. Sau khi Popp qua đời, người chồng thứ ba Peter Seiffert kể lại rằng vợ mình không cảm thấy thoải mái, không bao giờ có được những khoảnh khắc thực sự yên tĩnh.
Không hề có bất cứ kỹ xảo nào trong việc hát opera của Popp. Ở bà luôn toát ra những phẩm chất cá nhân sâu sắc, đó là sự chân thành và tính toàn vẹn trong cảm xúc. Popp có một giọng hát trong trẻo, ngọt ngào với sự tinh khiết đáng kinh ngạc. Lắng nghe Popp hát, ta cảm nhận được niềm vui vô bờ bến của một người nghệ sĩ đang đắm mình trong công việc yêu thích, như chính bà đã từng nói: “Nếu tôi không hoạt động âm nhạc như một nghề, tôi chắc chắn sẽ làm nó như một sở thích”. Đó là một giọng hát lấp lánh ánh bạc, có sự dịu ngọt của mật ong và tràn đầy cảm hứng vô tư của tuổi trẻ, bà có thể tạo ra một vầng hào quang rạng rỡ hiếm có nhưng cũng có thể khiến người nghe cảm nhận được một sự thấm thía đến đau đớn. Khi Popp cất giọng, đã có nhà phê bình văn hoa ví von với một chuyên gia thổi thuỷ tinh (Tiệp Khắc vốn nổi tiếng với những sản phẩm pha lê) tạo ra một bảo vật lộng lẫy và mong manh không gì sánh được. Chính điều kỳ diệu này đã khiến Popp không chỉ được ngưỡng mộ mà còn có cả sự yêu mến của khán giả và đồng nghiệp.
Ngày 11/5/1966, Popp ra mắt khán giả Covent Garden trong Oscar (Un ballo in maschera) bên cạnh Jons Vickers và Shirley Verrett dưới sự chỉ huy của István Kertész. Tạp chí Opera Magazine đã hoàn toàn bị vẻ quyến rũ và nữ tính của Popp chinh phục và khẳng định đây sẽ là một phát hiện tuyệt vời. Tổng giám đốc Rudolf Bing của Metropolitan Opera luôn nhất quán trong phong cách điều hành của mình là mời những giọng ca thành danh tại châu Âu tới biểu diễn tại nhà hát đã dành cho Popp một ngoại lệ. Ông đã mời giọng ca trẻ mới ở mức triển vọng này cộng tác cùng nhà hát ngay trong mùa diễn đó. Bà đã có buổi biểu diễn đầu tiên tại Metropolitan Opera trong vai diễn tạo dựng nên tên tuổi của mình Nữ hoàng đêm tối, cùng với những bạn diễn quen thuộc Gedda, Lorengar hay Prey. Nhà phê bình Harold C. Schonberg đã tỏ ra thích thú với giọng hát của Popp: “Cô ấy đã khiến hai aria lớn của mình khác xa những bài tập trong tuyệt vọng như thông thường. Thực sự là cô ấy đã lao động vất vả, những nốt Pha cao không hề bị the thé, cô duy trì được cao độ và âm sắc và thậm chí còn hát rõ ràng những chùm ba mà không hề bị díu”.
Sau màn ra mắt thành công tại Metropolitan Opera, Popp trở về Áo, tiếp tục các buổi biểu diễn của mình tại Vienna State Opera. Tuy nhiên, bà đã bị hụt mất một vai diễn sau này sẽ gắn bó với tên tuổi của Popp. Leonard Bernstein sẽ chỉ huy Der Rosenkavalier vào tháng 4/1968 và Popp được giải thích rằng Bernstein không thích bà hát trong Sophie, vai diễn từng được Popp hát trước đó. Reri Grist sẽ là người đảm nhận. Để trả đũa, Popp đã có một hành động theo phong cách Maria Callas. Trong buổi công diễn tác phẩm vào ngày 13/4/1968, Popp đã mua vé ở hàng đầu tiên và đưa ra những lời nhận xét vào thời gian tạm nghỉ. Ba năm sau đó, Popp đã giành lại được chính vai diễn này trong bản thu âm của Bernstein cùng Vienna Philharmonic cho CBS. Năm 1968 là năm có nhiều ý nghĩa trong cuộc đời của Popp. Với việc diễn ra sự kiện Mùa xuân Prague, cuối cùng thì cha mẹ bà cũng có thể đến thăm và thưởng thức các buổi biểu diễn của con gái mình tại Vienna. Bất chấp việc chế độ cộng sản giành lại quyền điều hành đất nước vào tháng 8 năm đó, Popp cuối cùng cũng được nhập cảnh về quê nhà, nhưng với tư cách công dân Áo, sau khi phải trả một số tiền lớn để “bồi thường” cho những năm tháng học tập tại Tiệp Khắc. Chồng bà, Fischer, đảm nhận công việc trợ lý nhạc trưởng cho Kertész tại Nhà hát Opera Cologne và Popp đã toả sáng tại đây trong một chuỗi chương trình 7 vở opera của Mozart dưới sự chỉ huy của Kertész. Đây cũng là thời điểm Popp giảm dần những vai diễn màu sắc để hát nhiều hơn trong các vai trữ tình.
Trong thời gian gắn bó với Nhà hát Opera Cologne, bà vẫn tiếp tục cộng tác với nhiều nơi khác trên thế giới. Buổi biểu diễn lần thứ hai tại Metropolitan Opera của bà vào tháng 1/1970, vẫn là trong Nữ hoàng đêm tối đã khiến Popp tiếp tục lâm vào chứng sợ hãi sân khấu nặng nề, đặc biệt trong đêm diễn được phát thanh trực tiếp. Bà có cảm giác mình sẽ chết sân khấu và bà quyết định rằng vai Nữ hoàng đêm tối không còn dành cho mình nữa. Giọng hát của Popp lúc này cũng trở nên thấp hơn, những nốt cao đã bắt đầu mờ dần, thiếu đi sự chắc khoẻ. Bà vẫn xuất hiện trong Die zauberflöte, nhưng là trong Pamina. Chủ yếu cùng với chồng mình, bắt đầu từ năm 1969, Popp đã tổ chức rất nhiều các chương trình hát lied và thành công đáng kinh ngạc. Với Popp: “Hát lied để làm sạch giọng hát”. Bà cố gắng hát Franz Schubert và Robert Schumann nhiều nhất có thể nhưng cũng đưa vào các buổi hoà nhạc những bài hát từ quê nhà, điều không gặp phải sự cạnh tranh từ Prey hay Dietrich Fischer-Dieskau. Cuộc sống vợ chồng của Popp với Fischer rạn nứt, họ chia tay nhau và năm 1973, Popp bắt đầu một mối quan hệ với Peter Jonas, người ngay sau đó trở thành trợ lý cho Georg Solti tại Chicago Symphony Orchestra. Điều này dẫn tới việc Popp có nhiều lần cộng tác cùng Solti, người rất ngưỡng mộ giọng hát của bà.
Ngày 23/4/1976, với vai Sophie, bà đã có màn ra mắt tại La Scala, dưới sự chỉ huy của Carlos Kleiber. Trong những năm cuối thập niên 70, bà chủ yếu hát tại Vienna và Munich và tập trung nhiều vào các vở opera của Richard Strauss. Vai diễn đáng chú ý của Popp trong thời gian này là Marschallin (Der Rosenkavalier), bà đã khắc hoạ đậm nét bức chân dung một quý cô tuyệt vời, người phụ nữ luôn quyết tâm duy trì những hành động có tiêu chuẩn rất cao của riêng mình, cho dù có bị khiêu khích, người đã che giấu sự đau khổ bên dưới những cư xử chuẩn mực, có vẻ đẹp hoàn hảo. Ngày 22/2/1982, tại Covent Garden, Popp hát Eva (Die meistersinger von Nürnberg) dưới sự chỉ huy của Colin Davis, một vai diễn cạnh tranh với Marschallin về sự nổi tiếng. Cuộc sống cá nhân của Popp cũng là đề tài đàm tiếu một thời gian khi bà bị đồn có các mối quan hệ với Kleiber và Plácido Domingo. Popp chia tay với Jonas và kết hôn với người chồng thứ ba kém bà 15 tuổi, giọng tenor người Đức Seiffert vào năm 1986.
Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ tại Tiệp Khắc, năm 1990, Popp mới có cơ hội quay trở về biểu diễn tại quê nhà, lần đầu kể từ năm 1963. Bà vẫn tiếp tục các buổi biểu diễn trên sân khấu opera và hoà nhạc cho đến khi qua đời vào ngày 16/11/1993 ở Munich vì căn bệnh ung thư não ở tuổi 54. Di hài bà được đưa về chôn cất tại nghĩa trang Slávičie údolie, Bratislava. Một trong những soprano vĩ đại nhất trong nửa sau thế kỷ 20 của Mozart và Richard Strauss đã yên nghỉ. Cả thế giới opera thương tiếc bà. Solti buồn bã: “Trong sự nghiệp lâu dài của tôi, cô ấy là một trong những nghệ sĩ tôi yêu thích nhất. Giọng hát của cô ấy có một sức mê hoặc, lôi cuốn và trên hết là chất lượng tự nhiên chỉ có ở khả năng cảm thụ âm nhạc của cô ấy. Trong tâm trí tôi, sẽ không bao giờ có một Sophie trong Rosenkavalier hay một Susanna của Figaro ngang hàng với cô ấy. Thế giới phải vui mừng vì cô ấy đã để lại một di sản phong phú và tuyệt vời được ghi lại”. Đúng như vậy, mặc dù bản thân Popp từng nói: “Thu âm là một sự gian lận, nhưng tôi thích nó”, chỉ với một vài ngoại lệ như Elisabeth (Tannhäuser, Wagner), tất cả những vai diễn mà Popp từng hát trên sân khấu đều được ghi âm lại, cùng với đó là rất nhiều những đĩa nhạc thu lại các lied, tác phẩm thanh nhạc lớn cũng như trích đoạn opera là một di sản quý báu để lưu giữ lại những giá trị nghệ thuật của Popp, một trong những giọng hát đáng trân trọng nhất của thế kỷ 20.
Cobeo





