Thông tin chung

Tác giả: Alexander Scriabin.
Tác phẩm: The Poem of Ecstasy, Op. 54
Thời gian sáng tác: Từ tháng 6/1905 đến 1907.
Công diễn lần đầu: Ngày 10/12/1908 tại New York với Modest Altschuler chỉ huy Russian Symphony Society.
Độ dài: Khoảng 20 phút.
Thành phần dàn nhạc: piccolo, 3 flute, 3 oboe, English horn, 2 clarinet, bass clarinet, 2 bassoon, contrabassoon, 8 horn, 5 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, triangle, cymbal, bass drum, tam-tam, glockenspiel, chuông, celesta, organ (hoặc harmonium), 2 harp và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Trong cuốn Những trải nghiệm tôn giáo (1901-1902), William James đã miêu tả những trải nghiệm đó là: “sự soi sáng, mặc khải, nhiều ý nghĩa và quan trọng” và viết rằng một người đã “ngay lập tức nói rằng bất chấp sự diễn đạt, không có báo cáo đầy đủ nào được đưa ra bằng lời”. Nhưng nếu những trải nghiệm thần bí không thể trình bày bằng lời, vậy liệu nó có được truyền tải bằng âm nhạc? Câu hỏi này đã trở thành một nỗi ám ảnh với Scriabin. Vào bình minh của thế kỷ 20, thế giới phương Tây có nhận thức ngày càng lớn về sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học và sự duy lý của xã hội. Khi bắt đầu có nhiều câu hỏi về những tôn giáo truyền thống và cách để hiểu thế giới, một số cảm thấy rằng quá trình tiến về phía trước của nhân loại để lại nhu cầu tâm linh của con người chưa được thoả mãn. Dưới những ảnh hưởng của thuyết thần trí, Schopenhauer, Nietzsche, Wagner, Scriabin tin rằng nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc, có sức mạnh lấp đầy khoảng trống này.

Scriabin luôn có những ý tưởng sáng tạo lớn lao và khác biệt trong tư duy. Bản giao hưởng số 1 của ông là tác phẩm gồm 6 chương, có cả ca sĩ đơn ca và hợp xướng. Và trong cả đời mình, ông luôn đau đáu về một tác phẩm vĩ đại “Mysterium” mà ông đã phác thảo từ năm 1903 và mong muốn được biểu diễn nó tại chân núi Himalaya ở Ấn Độ, một tác phẩm mà ông hy vọng sẽ mang tính đồng cảm cao và không chỉ tác động đến thính giác mà còn cả xúc giác và khứu giác của con người. The Poem of Ecstasy (Bài thơ về sự Ngây ngất) cũng là một tác phẩm như vậy, nó là sự tổng hoà của sự thần bí, huyền ảo, siêu nhiên, tự luyến, điên rồ dưới sự thống trị của tài năng thiên tài Scriabin.

Mặc dù là người rất tôn trọng những giá trị của quá khứ – ông rất yêu thích Chopin, nhiều tác phẩm piano do Scriabin sáng tác cũng được đặt những cái tên giống Chopin như prelude, etude, nocturne – nhưng những ý tưởng của ông đã vượt xa giới hạn của giao hưởng truyền thống đương thời. Cũng giống như hầu hết các tác phẩm của ông thời kỳ này, The Poem of Ecstasy chỉ có một chương duy nhất. Không chỉ phá cách về mặt hình thức, triết lý âm nhạc của Scriabin cũng đầy rẫy sự mới mẻ. Ông luôn thử nghiệm các phương thức sáng tạo mới, đặc biệt nhấn mạnh vào cái gọi là “hợp âm huyền bí”, một chuỗi các quãng 4 – tăng, giảm, quãng 4 hoàn hảo, tạo ra một sự đình chỉ và phá vỡ hệ thống âm thanh truyền thống. The Poem of Ecstasy, hay còn được gọi là bản giao hưởng số 4 của Scriabin được ông bắt đầu sáng tác vào mùa hè năm 1905 tại Genoa, Ý. Nhưng trên thực tế, ý tưởng đã được bắt đầu một năm trước đó khi ông viết Poème orgiaque, một bài thơ được dùng làm nền tảng cho tác phẩm (Scriabin làm thơ từ khi còn nhỏ). Trong bài thơ có những đoạn: “Linh hồn/Đôi cánh khát khao cuộc sống/Hãy bay lên/Trên đỉnh cao của sự phủ định/Trong những tia sáng của giấc mơ/Trỗi dậy một thế giới kỳ diệu/Với những hình ảnh và cảm xúc chân thật/Linh hồn đang chơi đùa/Linh hồn đang khao khát/Linh hồn với sự sáng tạo tất cả/Bản thân đầu hàng trong hạnh phúc của tình yêu…/Tôi gọi bạn đến cuộc sống, những sức mạnh tiềm ẩn/Dìm sâu trong vực thẳm mù mịt/Của linh hồn sáng tạo, rụt rè/Phôi của sự sống, tôi mang đến sự táo bạo!”. Rõ ràng, thuyết thần trí, một học thuyết triết học – tôn giáo về khả năng trải nghiệm trực tiếp với Thượng đế thông qua cảm giác thần bí và sự mặc khải, đã ảnh hưởng lớn đến các sáng tác của Scriabin thời kỳ này.

Phân tích

The Poem of Ecstasy là một tác phẩm lớn, tuy không dài. Nhưng nó đòi hỏi một biên chế dàn nhạc đồ sộ, đặc biệt là bộ đồng và bộ gõ. Trong khoảng 20 phút, bản nhạc luôn luôn dâng trào một cảm giác khao khát kéo dài hầu như không ngừng lại, lên đến đỉnh điểm và được giải thoát một cách đầy thoả mãn. Về mặt cấu trúc tác phẩm, Scriabin vẫn tuân theo cách phân chia truyền thống của hình thức sonata cổ điển: phần giới thiệu, phát triển, tái hiện và coda, tạo ra một cảm giác dễ theo dõi và đánh giá tác phẩm cũng như tích luỹ cảm xúc.

Về mặt âm nhạc, Scriabin đã tạo ra những thử nghiệm mới để theo đuổi tham vọng biểu lộ của mình, đưa hoà âm bán cung mãnh liệt của Wagner lên một tầm cao mới. Tác phẩm tràn đầy sự khao khát và căng thẳng và chỉ được giải quyết ở những nốt nhạc cuối cùng. Tương tự như vậy, mặc dù có số lượng nhạc cụ đồ sộ, nhưng Scriabin chỉ phát huy sức mạnh đầy đủ của nó trong phần kết. Để dẫn đến đó, âm nhạc là một mạng lưới các motif đan xen và liên quan đến nhau, đặc biệt tinh tế, gợi cảm và nổi bật dành cho trumpet và violin độc tấu. Tác phẩm mở đầu với sự chậm rãi và lặng lẽ, flute và violin độc tấu một giai điệu “uể oải với niềm ham muốn mãnh liệt”. Khi cường độ và số lượng nhạc cụ tăng dần, tiếng kèn trumpet, nhạc cụ độc tấu nắm giữ vai trò quan trọng nhất trong bản nhạc, bắt đầu thể hiện vai trò của mình với một giai điệu tương phản được ghi chú imperioso (uy nghiêm), ở đây trông giống như 2 khuôn mặt của sự khao khát, một bên được thoả mãn, còn bên kia thì không. Đột nhiên, âm thanh sấm sét xuất hiện làm gián đoạn, những giai điệu nhanh hơn, rung động mạnh hơn xuất hiện, được ghi chú volando (bay). Âm nhạc phần giữa hỗn loạn, dồn dập. Nhịp điệu ban đầu và motif trumpet lại được tái hiện, bay bổng hơn. Về cuối, motif này lại được biến đổi, “bùng nổ” trong một tiếng chuông quái gở nhưng hiệu quả, một thủ pháp sau này được nhiều nhà soạn nhạc khác tham khảo. Phần coda, với sự trở lại của motif chậm rãi ban đầu, nhưng ở hợp âm Đô trưởng huy hoàng, giải quyết toàn bộ mâu thuẫn, khép lại tác phẩm.

Trong tờ giới thiệu chương trình tại một buổi hoà nhạc tác phẩm tại Nga vào năm 1909, có ghi chú được cho là của chính Scriabin viết: “The Poem of Ecstasy là Niềm vui của Hành động được Giải phóng. Vũ trụ hay Linh hồn là sự Sáng tạo Vĩnh cửu không có Động lực Bên ngoài, một Trò chơi Thần thánh với các Thế giới. Linh hồn Sáng thế hay Vũ trụ của Trò chơi, không ý thức được tính Tuyệt đối của khả năng sáng tạo, đã tự mình lệ thuộc vào sự Cuối cùng và biến sáng tạo thành kết thúc. Nhịp đập của cuộc sống càng mạnh, nhịp điệu càng vội vã, thì nhận thức với Linh hồn càng rõ ràng cùng thể chất với sự sáng tạo, nội tại ở bên trong nó và cuộc sống là một vở kịch. Khi Linh hồn đạt đến đỉnh cao nhất của hoạt động và vượt ra khỏi sự bao phủ của mục đích luận và thuyết tương đối, khi nó hoàn toàn cạn kiệt nội dung và năng lượng hoạt động được giải phóng, đó là thời khắc sự Ngây ngất sẽ đến”.

Âm nhạc thời kỳ cuối của Scriabin luôn là như vậy, đưa khán giả vào một mê hồn trận với vô vàn những câu hỏi về triết lý cuộc sống, về tôn giáo, về sự sống, sự tồn tại và cái chết. Về mặt âm nhạc, hoà âm cũng như những chất liệu âm nhạc đều hoàn toàn mới. Về bản chất, Scriabin đang nỗ lực tìm kiếm những nền tảng mới cho sự hoà hợp. Các nguyên tắc mà ông khám phá ra rất thú vị, nhưng tương ứng với nó là sự phức tạp và khó hiểu của chúng. The Poem of Ecstasy rõ ràng là một trong những tác phẩm thành công của ông, thậm chí là thành công nhất vì tất cả mọi yếu tố trong cách thức sáng tác của Scriabin đều cân bằng.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
nyphil.org
www.sfsymphony.org
houstonsymphony.org