Carlos Kleiber tại một buổi hòa nhạc ở Pompei năm 1987. Photo © Marcello Mencarini

“Ông vượt trội hơn tất cả chúng tôi, là nhạc trưởng giỏi nhất thế giới. Ông có khí chất mạnh mẽ, điều này mang lại cho bản thân khả năng phi thường để truyền đạt niềm tin cho một dàn nhạc. Ông khiến họ cảm thấy họ có thể thực hiện được.” – Mark Elder

Khó nắm bắt, lập dị, ương bướng, thất thường… đó chỉ là vài từ ngữ nhẹ nhàng mà giới phê bình dùng để miêu tả Carlos Kleiber, người mà họ rất khó chịu về sự cứng rắn của ông nhưng vẫn phải công nhận: “Đó là nhac trưởng đáng tôn kính nhất từ thời Arturo Toscanini!” (New York Times). Không thể chối cãi được rằng Kleiber là một nhạc trưởng rất khắt khe, người theo chủ nghĩa hoàn hảo và chỉ làm việc khi nào và ở đâu ông cảm thấy thích thú. Một sự thật hiển nhiên rằng Kleiber thường xuyên huỷ các buổi biểu diễn, không thích phỏng vấn, có không nhiều bản ghi âm và từ chối gắn bó lâu dài với một nhà hát hay một dàn nhạc. Ông chỉ huy không thường xuyên, danh mục các tác phẩm biểu diễn không lớn và không tạo ra những scandal ồn ào dư luận, nếu có chỉ là việc rất hay huỷ bỏ chương trình vào những phút cuối cùng. Vậy cái gì tạo nên sự đặc biệt nơi ông? Đó có lẽ là do sự độc nhất trong cách cảm nhận của ông về dòng chảy, giai điệu và sự chuyển động, ông biểu diễn với sự căng thẳng và buông lơi không giống với bất kỳ ai. Hoặc chính các cử chỉ duyên dáng tự nhiên đã tỏa ra đầy chất nhạc. Các động tác chỉ huy của ông luôn giàu các sắc thái tình cảm một cách tuyệt vời và ông sử dụng chúng với sự trôi chảy hiếm thấy. Xem Kleiber biểu diễn khiến chúng ta thấy được rằng mối quan hệ chặt chẽ giữa nhạc trưỏng và các nhạc công là trên hết. Điều này nổi bật lên với sự quyến rũ sâu sắc trong các bản thu của Deutsche Grammophon. Và có lẽ như nhà phê bình Harvey Sachs đã nhận xét: “Những yếu tố cảm xúc mãnh liệt trong quá trình sáng tác nhạc của ông thường hoạt động hoàn toàn phù hợp với trí thông minh đầy hoài nghi và sự hiểu biết tuyệt vời về kiến trúc âm nhạc của ông.”

Carlos Kleiber (tên khai sinh là Karl) sinh ngày 3/7/1930 tại Berlin là con của nhạc trưởng nổi tiếng người Áo Erich Kleiber, người thời điểm này đang là giám đốc của Berlin State Opera. Mẹ của cậu, bà Ruth Goodrich là người Mĩ. Chính bà Ruth mới là người dạy con trai mình những nốt nhạc đầu tiên. Carlos còn có một người chị gái là Veronica. Mặc dù không phải người Do Thái nhưng ông Erich phản đối chế độ Hitler về mặt chính trị và đạo đức, vì vậy cả gia đình họ đã phải chạy trốn khỏi chế độ Đức Quốc xã đến định cư tại Argentina. Tại đây, cậu theo học piano và timpani, cũng như hát và soạn nhạc dù rằng chính Erich không muốn con mình theo đuổi âm nhạc chuyên nghiệp. Còn bà Ruth lại là người ủng hộ chồng mình vô điều kiện, như Carlos nhớ lại: “Mẹ tôi là một người phụ nữ mạnh mẽ và rất bảo vệ chồng. Không gì có thể xen vào giữa họ, kể cả những đứa con”. Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, cả gia đình đã chuyển về sinh sống tại châu Âu. Ông Erich tiếp tục sự nghiệp chỉ huy và Carlos đã lần đầu tiên xuất hiện trên sân khấu nhưng với tư cách nhạc công timpani khi chơi cùng dàn nhạc trong Götterdämmerung (Richard Wagner) dưới sự chỉ huy của cha mình vào cuối năm 1948. Ngay cả khi Carlos đã bước đầu thành đạt trong sự nghiệp của mình thì trong một bức thư gửi một người bạn, Erich viết: “thật là một điều phí phạm khi nó trở thành nhạc sĩ”. Sau chiến tranh, Kleiber chuyển đến Thuỵ Sỹ học hoá học dưới sức ép của người cha. Nhưng chỉ một năm sau chàng trai trẻ quay trở về Buenos Aires. Ông Erich hiểu rằng để Carlos học hoá học là một sự lãng phí thời gian và cuối cùng cũng chịu thoả hiệp. Erich chấp nhận để cậu con trai mình theo đuổi âm nhạc. Tuy nhiên, con đường trở thành nhạc trưởng của Carlos lại vô cùng khác thường. Cậu không hào hứng với piano và hoà thanh hay đối âm đồng thời cũng không có được cao độ tuyệt đối. Nhưng chàng trai trẻ tỏ ra đặc biệt xuất sắc trong việc đọc tổng phổ, vô cùng nhanh chóng trong việc nắm bắt được tác phẩm. Nhà viết tiểu sử Charles Barber đánh giá: “Cũng như nhiều ngôn ngữ và sự hiểu biết sâu rộng về văn học và thơ ca, Carlos là một người tự học, gần như hoàn toàn tự học. Là một nhạc trưởng, ông là sự sáng tạo của chính mình”.

Năm 1952, anh bắt đầu sự nghiệp chỉ huy của mình tại nhà hát La Plata, Buenos Aires. Thần tượng của Kleiber là Fritz Busch, Bruno Walter and Arturo Toscanini, những người mà chỉ cần xem và nghe họ chỉ huy là anh có thể học hỏi và tiếp cận trực tiếp với các tác phẩm. Năm 1953, Kleiber quay trở lại châu Âu và tăng dần số lượng các tác phẩm trong danh mục biểu diễn của mình khi chỉ huy tại Gärtnerplatz Theater, Munich. Một năm sau đó anh là nhạc trưởng chính, thường xuyên chỉ huy các vở operetta tại Potsdam, Tây Đức dưới nghệ danh Karl Keller. Những năm tiếp theo, Kleiber tiếp tục trau dồi tài năng và kinh nghiệm biểu diễn trong những nhà hát nhỏ của các thành phố tại Áo, Đức và Thụy Sĩ. Sau một thời gian ngắn làm việc tại Volksoper, Vienna, anh đến làm việc tại Deutsche Oper am Rhein, Düsseldorf rồi Zurich Opera và cuối cùng từ năm 1966 đến 1968, Kleiber là chỉ huy chính tại Württembergisches Staatstheater, Stuttgart. Đây cũng chính là những ràng buộc cuối cùng của anh với các nhà hát.

Kleiber không thích lề lối làm việc kiểu công chức, các ràng buộc hợp đồng, các tục lệ xã hội thông thường và cực lực phản đối việc coi âm nhạc là một thứ hàng hóa để kinh doanh. Ông không bao giờ có người đại diện và luôn tự mình đứng ra thương lượng các bản hợp đồng biểu diễn và ghi âm. Ông cũng thường xuyên từ chối các cuộc phỏng vấn và lấy cớ rằng mình khó tìm ra từ ngữ để nói rõ về bản thân. Từ năm 1968 đến 1978, ông làm việc với tư cách nhạc trưởng khách mời tại Bayerische Staatsoper, Munich. Thỉnh thoảng ông cũng quay trở lại Sttugart. Lần đầu tiên ra mắt của ông tại Vương quốc Anh là vào năm 1966 khi ông chỉ huy vở opera Wozzeck của Alban Berg tại Edinburgh Festival, tác phẩm mà chính cha ông là nhạc trưởng trong buổi ra mắt lần đầu vào năm 1925. Các buổi ra mắt của ông tại Vienna State Opera và Bayreuth lần lượt vào các năm 1973 và 1974, đều với Tristan und Isolde của Wagner. Đây là một trong những tác phẩm đỉnh cao của ông, Claudio Abbado đánh giá rằng không một nhạc trưởng nào chỉ huy Tristan und Isolde tuyệt vời bằng Kleiber. Ông tiếp tục gắn bó với Bayreuth và Tristan und Isolde cho đến tận năm 1978. Năm 1974, Kleiber lần đầu xuất hiện tại Covent Garden, London và La Scala, Milan, chỉ huy Der Rosenkavalier của Richard Strauss – một trong những tác phẩm trước kia luôn gắn liền với tên tuổi của cha ông. Tiếp theo đó ông chỉ huy lần đầu với Chicago Symphony Orchestra vào năm 1979, đây cũng là lần đầu tiên xuất hiện của ông tại Mĩ; Berlin Philharmonic năm 1982 và Metropolitan Opera vào ngày 22/1/171988 trong La Bohème (Giacomo Puccini) cùng Luciano Pavarotti và Mirella Freni, đã được New York Times khen ngợi: “Phong cách chỉ huy uyển chuyển, chi tiết cao của ông đôi khi khiến người ta nhớ đến Herbert von Karajan… màn trình diễn Puccini, trong hố nhạc và trên sân khấu, đã khiến người nghe say mê”.

Kleiber có một vóc dáng cao, gầy, rất quý phái và ẩn chứa sau đó là một sự hiểu biết tường tận các tác phẩm một cách vô cùng sâu sắc. Nhạc trưởng Bernard Haitink miêu tả ông là một thiên tài, một con người vô cùng đặc biệt. Là một người cầu toàn thậm chí là cực đoan, Kleiber luôn tỏ ra không thích các bản thu âm, ông thường nói: “các bản thu chưa xuất bản mới là những bản thu âm tốt”. Tuy nhiên vào năm 1973, ông cộng tác với Deutsche Grammophon và đồng ý thu âm vở opera Der Freischütz của Carl Maria von Weber cùng Staatskapelle Dresden – dàn nhạc trước kia luôn có được sự cộng tác chặt chẽ và thân thiết của cha ông. Bản thu này đã giành được rất nhiều lời khen ngợi. Daily Telegraph, London viết: “Kleiber đã mang đến một sức sống mới, một sự tuơi mát trên từng nốt nhạc, sự sôi nổi của nhịp điệu và cách chọn tốc độ của ông chỉ cho chúng ta thấy rằng ông hiểu tác phẩm này như thế nào”. Năm 1975, ông cùng Vienna Philharmonic ghi âm bản Giao hưởng số 5 của Ludwig van Beethoven. Đĩa nhạc này thuyết phục đến nỗi có nhà phê bình đã viết trên tạp chí Times: “đây có thể so sánh với việc Homer đang thuật lại Iliad”. Nếu như Leonard Bernstein luôn biết cách phải bắt đầu tác phẩm như thế nào thì Kleiber lại rất biết cách để kết thúc nó. Kleiber quan niệm: “Nơi tác phẩm kết thúc là chỗ mà kỉ niệm bắt đầu”. Ông luôn có cách tiếp cận tác phẩm rất độc đáo và khác người, trong một lần dàn dựng bản Giao hưởng số 33 của Mozart cùng với Chicago Symphony Orchestra, ông nó với dàn nhạc: “Tôi muốn âm thanh của chương chậm phải được tạo ra giống như bố mẹ kéo mạnh đứa con mình ra khỏi cửa hàng bán đồ chơi khi họ đi dạo trên đường phố”.

Kleiber rất nổi tiếng vì sự kén chọn của mình. Ông khắt khe trong việc lựa chọn kịch mục, chỉ hạn chế mình trong một vòng tròn nhỏ hẹp dù bất cứ ai tiếp xúc với Kleiber đều biết được rằng số lượng tác phẩm mà ông hiểu biết là vô cùng rộng lớn và ông chỉ đưa lên sân khấu một số lượng rất ít trong đó. Kleiber cũng luôn đòi hỏi một khoảng thời gian luyện tập rất dài. Chưa kể Kleiber còn rất thường xuyên huỷ bỏ biểu diễn vào giờ phút cuối cùng, bất chấp việc có thể vé đã được bán hết sạch. Chính vì vậy, mỗi lần xuất hiện của Kleiber là một sự kiện thật sự, được vô số người hâm mộ âm nhạc cổ điển đón chào. Karajan, người rất ngưỡng mộ tài năng của Kleiber cho biết: “Carlos có thiên tài chỉ huy, nhưng ông ấy không thích làm việc đó. Ông ấy nói với tôi: ‘Tôi chỉ chỉ huy khi tôi đói’. Và điều đó đúng. Ông ấy có một cái tủ lạnh. Ông ấy lấp đầy nó, tự nấu ăn cho mình và khi nó vơi đến một mức nhất định, ông ấy nghĩ: ‘Bây giờ tôi có thể tổ chức một buổi hoà nhạc’”. Mặc dù khó tính và đòi hỏi cao, nhưng các nghệ sĩ biểu diễn luôn thấy Kleiber tài năng và dễ gần. Kleiber có thói quen gửi cho các nhạc công một mẩu giấy ghi chú nhỏ, được gọi là Kleibergrams, ví dụ: “Tôi nghĩ đoạn này có thể mạnh mẽ hơn. Cảm ơn và trân trọng. Thân ái, C Kleiber”.

Ông nhận được tôn kính không chỉ từ các nhạc trưởng khác mà còn từ các nhạc công của dàn nhạc và ca sĩ. Harold Nash, trưởng bè trombone của Orchestra of the Royal Opera House nhớ lại: “Trí tuệ của ông ấy thật đáng kinh ngạc, và sau đó là thẩm mĩ âm nhạc, kỹ thuật phi thường và tính cách điên rồ thay đổi rất nhiều từ ô nhịp này sang ô nhịp khác – bạn có thể thấy khuôn mặt thay đổi khi hợp âm thay đổi”! Plácido Domingo thì nhận xét rằng: “Kleiber là một phù thủy và kinh nghiệm của tôi chỉ ra rằng không có gì âm nhạc hơn là được dàn dựng tác phẩm cùng với ông. Kleiber luôn chú ý đến mọi thứ và tôi luôn luôn cố gắng làm hài lòng ông không phải vì tôi tôn trọng ông mà vì tôi biết rằng Kleiber luôn đúng!” Còn Ileana Cotrubas thì nhấn mạnh vào tính cách cá nhân của Kleiber: “Ông ấy là người hướng nội. Nếu bạn chỉ muốn chạm vào một phần nhỏ trong cuộc sống riêng tư của ông, ông ấy giống như một con ốc sên chui ngay vào vỏ và chỉ thoát ra sau đó. Ông ấy cũng khiêm tốn đến mức không thể cưỡng lại được. Có một lần giữa các buổi tập, ông hỏi tôi rằng tôi đã từng hát với Leopold Stokowski chưa. Khi tôi trả lời là có, ông rất phấn khích và hỏi: “Làm ơn cho tôi biết – ông ấy đã tạo ra âm thanh tuyệt vời đó từ dàn nhạc như thế nào, ông ấy đã làm gì”? Ông sẽ không bao giờ biết có bao nhiêu người yêu nhạc và nhạc công đã hỏi tôi câu hỏi tương tự về Carlos Kleiber”. Còn Margaret Price, lựa chọn bất ngờ nhưng vô cùng thành công của Kleiber cho vai Isolde trong bản thu âm danh tiếng Tristan und Isolde của ông lại thấy: “rất tỉ mỉ: ông đã gửi cho tôi tổng phổ đầy rẫy những ghi chú mà ông ấy muốn tôi suy nghĩ và thực hiện. Khi tôi đến Munich để tập luyện cùng ông, ông đã rất ngạc nhiên khi thấy tôi thực sự đã tiếp thu mọi thứ mà ông đã yêu cầu cụ thể, ông rất vui và hạnh phúc. Nhưng đồng thời ông muốn tôi đưa ra cách diễn giải riêng của mình. Ông không giống như một số nhạc trưởng tập đi tập lại và mong đợi bạn biểu diễn chính xác theo cách họ đã tập. Mặc dù ông rất cụ thể, ông cũng cho bạn rất nhiều sự tự do và muốn điều đó trong buổi biểu diễn”.

Kleiber cũng là người nhạy cảm, dễ bị tổn thương và thường tự nghi ngờ bản thân. Ngày 9/6/1981, ông lần đầu tiên chỉ huy London Symphony Orchestra, thay thế cho Karl Böhm, với bản Giao hưởng số 3 của Franz Schubert và Giao hưởng số 7 của Beethoven. Bất chấp việc khán giả tỏ ra vô cùng hài lòng bằng những tràng pháo tay vang dội, báo chí tại London lại tỏ ra khó tính hơn. Daily Telegraph gọi buổi hoà nhạc là “một sự kiện thảm hoạ không vui vẻ, gây hoang mang vì sự thô lỗ và vô cảm”, trong khi Guardian nói về “sự cường điệu và kỳ quặc”. Và Kleiber thề sẽ không chỉ huy thêm một buổi hoà nhạc nào nữa tại Anh và ông đã giữ lời. Tuy nhiên, ông vẫn quay lại đây trong những vở opera. Kleiber cũng không hiếm lần bở dở giữa chừng khi đang tiến hành thu âm. Trong một lần hợp tác cùng Arturo Benedetti Michelangeli trong Concerto piano số 5 “Emperor” của Beethoven, sau khi chứng kiến một nghệ sĩ cello của dàn nhạc hỏi Michealangleli: “Maestro, ngài muốn tốc độ nào?”, Kleiber đã dứt khoát từ chối làm việc tiếp và ngay lập tức trở về nhà. Năm 1989, ông nhận lời chỉ huy 5 đêm La Traviata cùng Metropolitan Opera nhưng có hai ca sĩ chính bị ốm và dù nhà hát đã có người thay thế những Kleiber vẫn bỏ đi chỉ sau hai đêm diễn. Hay như trong một lần chỉ huy tại La Scala, trong thời gian chuyển màn, Kleiber đã chạy vào phía sau sân khấu để đòi ăn thua đủ với baritone Renato Bruson vì thấy rằng ông này đã không hát đúng với ý đồ của mình. Kleiber là một người kín tiếng, ông không muốn tiếp xúc với giới truyền thông, gần như không bao giờ trả lời phỏng vấn, từ chối tham gia vào những bữa tiệc. Kleiber từng nói với Bernstein: “Tôi muốn trồng trong một khu vườn. Tôi muốn có ánh nắng mặt trời. Tôi muốn ăn, uống, ngủ và làm tình và thế là tất cả”.

Năm 1988, sau khi Karajan quyết định nghỉ hưu, vị trí danh giá giám đốc âm nhạc của Berlin Philharmonic – một trong những dàn nhạc gianh giá nhất thế giới đã được toàn thể ban lãnh đạo thống nhất dành cho Kleiber nhưng ông đã từ chối và vì vậy Abbado mới trở thành người kế vị Karajan. Các nhà phê bình đã tốn rất nhiều giấy mực để viết, phân tích, bình luận, đánh giá về việc ông miễn cưỡng ưng thuận làm việc cùng với các dàn nhạc Vienna Philharmonic và Concertgebouw Orchestra và các nhà hát nổi tiếng trên thế giới tại Vienna, Munich, Bayreuth, London, Milan và New York nhưng đặc biệt họ luôn dành những ưu ái đặc biệt nhất cho ông. Quả thật, Kleiber đã trở thành người nghệ sĩ vĩ đại nhất trong thời đại của mình. Ông là bậc thầy vô song về sự kiểm soát tuyệt vời dòng chảy của giai điệu với khả năng kỳ lạ là biết khi nào tạo ra sự căng thẳng và khi nào thì giải toả chúng. Kleiber truyền đạt tới các nhạc công của mình với một bảng màu đa dạng về sắc thái. Không hề có sự trùng lặp trong mỗi lần xuất hiện của ông. Kleiber thường nói với dàn nhạc trước khi biểu diễn: “Chúng ta hãy làm khác đi một chút vào đêm nay”. Domingo cho biết: “Ông ấy đã tiếp thu tổng phổ đến mức ông có thể đọc xuyên qua các nốt nhạc để khám phá ra tất cả sự kịch tính và cảm xúc của bản nhạc, mọi thứ mà nhà soạn nhạc đã tưởng tượng. Nó có vẻ rất tự nhiên và đơn giản, nhưng ngay cả với tất cả sự chuẩn bị, nó vẫn nghe có vẻ tự phát. Mỗi đêm là một trải nghiệm khác nhau. Ông ấy không bao giờ lặp lại… Với sự chỉ huy của ông, tôi cảm thấy rằng âm nhạc và tôi hoàn toàn là một.”

Buổi biểu diễn cuối cùng của Kleiber diễn ra vào năm 1999 tại Tây Ban Nha, trong chương trình này ông cùng với Bavarian Radio Symphony Orchestra công diễn các bản giao hưởng số 4 và 7 của Beethoven và overture Die Fledermaus của Johann Strauss II. Tuy nhiên, thỉnh thoảng sau đó ông vẫn xuất hiện trong một vài chương trình hoà nhạc mang tính chất riêng tư hoặc từ thiện. Sau khi nghỉ hưu, ông về sống với vợ mình là Stanka Brezovar, nữ diễn viên ballet người Slovenia tại quê nhà của bà. Ông mất ngày 12/7/2004 và được chôn tại Konjšica, Slovenia bên cạnh người vợ của mình, người đã mất trước đó vào tháng 12/2003. Trước sự ra đi của Kleiber, tổng thống Áo Heinz Fischer cho biết đó là một tổn thất lớn lao của đất nước và ông “là một trong những nhạc trưởng quan trọng nhất của thế kỷ 20”.

BBC Music Magazine số ra ngày 17/3/2011 đã thông báo kết quả bình chọn nhạc trưởng vĩ đại nhất mọi thời đại, dựa trên việc phỏng vấn 100 nhạc trưởng đương thời như Colin Davis, Valery Gergiev hay Mariss Jansons. Kleiber đã ngự trị ở ngôi vị số một, vượt qua Bernstein và Abbado. Susanna Mälkki, một trong những thành viên bỏ phiếu đã đánh giá: “Carlos Kleiber đã mang đến một nguồn năng lượng đáng kinh ngạc cho âm nhạc… Đúng vậy, ông ấy đã có thời gian tập luyện nhiều hơn khoảng năm lần so với các nhạc trưởng ngày nay, nhưng ông ấy xứng đáng vì tầm nhìn của ông ấy rất đáng chú ý, ông ấy biết mình muốn gì và sự chú ý của ông ấy đến từng chi tiết thực sự đã truyền cảm hứng”. Jeremy Pound, phó biên tập viên của BBC Music Magazine thì nhận xét: “Việc yêu cầu 100 nhạc trưởng vĩ đại ngày nay nêu tên thần tượng và nguồn cảm hứng của họ là một trải nghiệm hấp dẫn. Nhất là khi rất nhiều cá nhân lựa chọn Carlos Kleiber, người trong suốt cuộc đời mình đã chỉ huy ít buổi hòa nhạc hơn hầu hết những nhạc trưởng khác chỉ huy chỉ trong vài năm. Sự chú ý đáng kinh ngạc đến từng chi tiết, lòng nhiệt thành tuyệt đối với âm nhạc và trình độ biểu diễn đáng kinh ngạc của Kleiber không bao giờ có thể bị nghi ngờ – có lẽ “ít hơn là nhiều hơn” chính là con đường thực sự dẫn đến sự vĩ đại thực sự”? Không chỉ là một tài năng trong lĩnh vực âm nhạc, Carlos Kleiber còn là một con người rất uyên bác, sử dụng thông thạo sáu ngoại ngữ và có được sự hiểu biết rất sâu sắc về văn học cũng như chính trị. Và đối với những người say mê nhạc cổ điển, thật dễ hiểu khi họ chấp nhận những phiền toái do tính lập dị của ông mang lại vì họ hiểu rằng chính sự khác thường đó đã góp phần tạo nên một nhạc trưởng Carlos Kleiber phi thường của thế kỉ 20.

Cobeo tổng hợp

Nguồn:
interlude.hk
nytimes.com
telegraph.co.uk
theguardian.com
en.wikipedia.org
independent.co.uk
metorchestramusicians.org