CHƯƠNG XXVI – TỪ ARIANE ĐẾN DON QUICHOTTE

 

Sáng nay khi tôi đang viết tiếp Hồi ức của tôi thì biết một tin đau lòng: cái chết của một người bạn thời thơ ấu, bà Maucorps-Delsuc!

Tôi nợ giáo sư hoàn hảo này, người từng dạy xướng âm tại Nhạc viện, những lời khuyên quý giá đã góp phần giúp tôi giành được giải thưởng piano năm 1859. Bà Maucorps qua đời khi đã ngoài tám mươi tuổi và mang theo sang một thế giới khác những tình cảm biết ơn dịu dàng mà tôi dành cho bà, tương ứng với sự quan tâm trìu mến mà bà chưa bao giờ thôi dành cho tôi.

Tôi hồi hướng cho bà những tình cảm chân thành từ đáy lòng mình!

…

Tôi không bao giờ trao gửi một tác phẩm mà chưa tự tay gìn giữ nó trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm.

Tôi đã hoàn thành Thérèse – rất lâu trước khi vở này được trình diễn – thì Heugel bạn tôi cho tôi hay anh đã đồng ý với Catulle Mendès về việc viết phần tiếp theo của Ariane.

Mặc dù là một tác phẩm riêng biệt, nhưng theo suy nghĩ của chúng tôi, Bacchus nên tạo thành một tổng thể với Ariane.

Libretto được viết trong vài tháng. Và tôi rất quan tâm đến nó.

Ấy thế mà, và điều này phù hợp với tính cách của tôi, những do dự và nghi ngờ thường xuyên hành hạ tôi.

Trong số những câu chuyện thần thoại về các vị thần và á thần thời cổ đại, câu chuyện kể về các anh hùng Hindu có lẽ là câu chuyện ít được biết đến nhất.

Việc nghiên cứu các truyện thần thoại, vốn cho đến gần đây chỉ là một mối quan tâm thuần túy do tò mò ngay cả trong giới học giả cổ điển, đã trở nên quan trọng hơn nhờ công trình của các học giả hiện đại khi họ nhận thấy vai trò của nó trong lịch sử tôn giáo.

Chắc hẳn bộ óc thông thái của Catulle Mendès đã rất đắc ý khi mang đến đó nguồn cảm hứng luôn nhiệt thành và giàu màu sắc từ thi thần thơ mộng của mình.

Trường ca tiếng Phạn Râmayana của Valmiki, vừa là kinh điển tôn giáo vừa là sử thi, với những ai đã đọc sử thi siêu phàm này còn gây tò mò và lớn lao hơn cả Niebelungen, sử thi của nước Đức thời Trung cổ kể lại cuộc đấu tranh của gia đình Niebelungen chống lại Etzel hay Attila và sự hủy diệt của gia đình này. Người ta không hề phóng đại khi gọi Ramayana là Odyssée của Ấn Độ. Trường ca này đẹp tuyệt vời như tác phẩm bất hủ đã trải qua nhiều thế kỷ của Homère xa xưa.

Tôi thuộc lòng truyền thuyết này sau khi đã đọc đi đọc lại, nhưng tôi phải cân nhắc bổ sung những từ ngữ, những câu thơ, thậm chí cả những tình tiết không thể giải thích đủ rõ ràng cho kiểu công chúng thường bị phân tâm.

Lần này tôi soạn nhạc một cách miệt mài, bền bỉ. Tôi vật lộn, tôi gạt bỏ, tôi bắt đầu lại. Cuối cùng tôi đã hoàn thành Bacchus sau khi đã cống hiến cho nó rất nhiều ngày tháng!

Bảng phân vai mà ban quản lý mới của Nhà hát Opéra, các ông Messager và Broussan, chấp thuận cho chúng tôi như sau: Lucienne Bréval lại vào vai Ariane; Lucy Arbell, để tưởng nhớ thành công rực rỡ của cô trong Perséphone, là Nữ hoàng Amahelly, tình nhân của Bacchus; Muratore, Thésée của chúng tôi, đồng thời đảm nhận vai Bacchus, và Gresse nhận lời vào vai thầy tu cuồng tín.

Ban quản lý mới, vẫn chưa mấy chắc chắn, muốn tạo cho tác phẩm của chúng tôi một bối cảnh tuyệt vời.

Tôi đã kể là trước đây khi dàn dựng vở Pháp sư người ta đã đối xử tàn nhẫn với giám đốc xuất sắc Gailhard của chúng tôi, người chơi lá bài chót trước khi rời Nhà hát Opéra – điều không ngăn cản ông quay trở lại một thời gian ngắn sau đó và thậm chí còn được yêu mến hơn trước. Giờ đây họ cũng rất khắc nghiệt với Bacchus.

Thời điểm Bacchus được dàn dựng, công chúng và báo chí vẫn phân vân về giá trị thực sự của ban giám đốc mới.

Việc dàn dựng một tác phẩm trong các điều kiện này nghĩa là phải đối mặt với hiểm họa đến hai lần. Tôi đã nhận ra điều đó nhưng đã quá muộn, vì dù có nhiều khiếm khuyết tác phẩm này dường như không đáng chịu nhiều sỉ nhục đến vậy.

Tuy nhiên công chúng, những người để mình bị cuốn theo cảm xúc chân thành, đã thể hiện sự nhiệt tình đầy an ủi ở một số đoạn trong tác phẩm. Họ đặc biệt đón nhận cảnh đầu màn ba bằng những tràng pháo tay và nhiều tiếng kêu đòi diễn lại. Màn ballet lấy bối cảnh một khu rừng Ấn Độ được đánh giá rất cao.

Sự xuất hiện của Bacchus trên cỗ xe của mình được dàn dựng một cách tuyệt vời và thành công rực rỡ.

Đáng lẽ chỉ cần kiên nhẫn thêm một chút là đám khán giả thiện tâm này hẳn đã vượt thắng tâm trạng tồi tệ mà tôi đã được cảnh báo trước.

Một ngày tháng 2 năm 1909, khi tôi vừa hoàn thành một trong các màn của Don Quichotte (tôi sẽ kể chuyện này sau), vào bốn giờ chiều tôi chạy đến nhà xuất bản Le Ménestrel của mình để gặp Catulle Mendès như đã hẹn. Tôi tưởng mình đã đến muộn nên khi bước vào tôi bày tỏ sự hối tiếc vì đã để cộng sự của mình phải đợi. Một nhân viên nhà xuất bản đáp lại tôi bằng những lời này: “Anh ấy sẽ không đến đâu. Anh ấy chết rồi!”

Tôi choáng váng trước tin tức kinh hoàng này. Một cú đánh bằng dùi cui cũng không thể làm tôi suy sụp hơn thế! Một lát sau, tôi mới biết các chi tiết của thảm họa khủng khiếp.

Khi bình tâm lại tôi chỉ có thể nói: “Chúng ta mất Bacchus ở Nhà hát Opéra rồi! Trụ cột quý giá nhất của chúng ta đã không còn nữa!…”

Sự tức giận nhằm vào Catulle Mendès mà lời chỉ trích chính xác và sắc sảo của anh gây nên chỉ là cái cớ để những kẻ bị cạo gáy trả thù.

Những nỗi sợ này hoàn toàn có cơ sở bởi những nghi ngờ mà tôi đã đề cập ở trên, và nếu sau đó Catulle Mendès có mặt tại các buổi tập của chúng tôi, anh hẳn đã trợ giúp được rất nhiều.

Tôi dành lòng biết ơn vô song cho các nghệ sĩ đáng ngưỡng mộ Bréval, Arbell, Muratore, Gresse. Họ đã chiến đấu một cách xuất sắc và tài năng của họ đã tạo niềm tin vào một tác phẩm tuyệt vời.

Người ta thường chuẩn bị sẵn tinh thần đối phó với cảm xúc khó chịu. Tôi cảm ơn các ông Messenger và Broussan vì ý tưởng này dù nó chẳng có tác dụng gì.

Tôi đã viết một khúc nhạc quan trọng (hạ màn) để đệm cho trận chiến thắng lợi của bầy khỉ trong rừng Ấn Độ trước đội quân công phạt của Bacchus. Tôi đã rất vui khi nhận ra, ít nhất là tôi tin vậy, giữa những phần phát triển giao hưởng tiếng kêu của những con tinh tinh khủng khiếp được trang bị những khối đá mà chúng đẩy xuống từ đỉnh núi.

Những con đèo chắc chắn không mang lại may mắn. Thermopylae! Roncesvalles! Hiệp sĩ Roland cũng như Léonidas đều nhận được bài học xương máu đó. Mọi sự dũng cảm của họ đều vô ích.

Trong khi viết khúc nhạc này, tôi đã nhiều lần đến Vườn Bách thảo để nghiên cứu thói quen của loài động vật có vú này! Tôi yêu những người bạn này, những sinh vật mà Schopenhauer đã thật ác ý khi nói rằng nếu Châu Á có khỉ thì Châu Âu có người Pháp! Schopenhauer người Đức không thân thiện với chúng ta lắm!

Một thời gian lâu trước khi người ta quyết định, sau nhiều cuộc thảo luận, đưa Bacchus ra diễn tập (vở sẽ không được trình diễn cho đến năm 1909 vào cuối mùa diễn), tôi may mắn được soạn nhạc cho Don Quichotte, vở opéra ba màn mà Raoul Gunsbourg đã rất mong muốn có cả đề tài lẫn dàn diễn viên cho Nhà hát opéra Monte-Carlo.

Các con thân yêu ơi, các con có thể đoán được là tâm trạng cha rất tệ hại khi nghĩ đến những gian truân mà Bacchus đã mang đến cho mình dẫu trong tâm khảm cha không có điều gì để tự trách mình dù là với tư cách con người hay tư cách nhạc sĩ.

Don Quichotte đã bước vào đời tôi như một liều thuốc xoa dịu. Tôi thực sự cần nó. Từ tháng 9 năm trước tôi bị đau do thấp khớp cấp tính và thời gian tôi phải nằm trên giường còn nhiều hơn thời gian rời khỏi giường. Tôi tìm được một kiểu bàn làm việc cho phép tôi viết được trong tư thế nằm.

Tôi gạt bỏ những suy nghĩ về Bacchus và số phận bất định của nó trong tương lai, và ngày lại ngày tôi tiếp tục sáng tác Don Quichotte.

Henri Cain đã rất khéo léo, theo phong cách của mình, xây dựng một kịch bản dựa trên vở hài kịch anh hùng của Le Lorain, một thi sĩ đã bị cảnh nghèo đói giết chết tương lai tươi sáng. Tôi suy tôn vị anh hùng của nghệ thuật này, người có diện mạo giống hiệp sĩ mặt dài của chúng ta!

Điều làm tôi say mê và quyết định viết tác phẩm này là một sáng tạo tuyệt vời của Le Lorain, thay cô hầu gái thô thiển trong quán trọ, Dulcinée của Cervantes, bằng nàng Dulcinée Xinh đẹp cá tính và mặn mà. Những nhà viết kịch nổi tiếng nhất của Pháp không có ý tưởng tuyệt vời này. Nàng đã mang đến cho tác phẩm của chúng tôi một yếu tố là cái đẹp cao cả trong vai trò người phụ nữ và sức hấp dẫn của thi ca uy quyền đối với Don Quichotte sắp chết vì tình yêu, lần này là tình yêu đích thực, dành cho một Dulcinée Xinh đẹp, người biện minh cho niềm đam mê này ở mức độ cao như vậy.

Vậy nên tôi vô cùng vui mừng đợi đến ngày biểu diễn. Sự kiện này diễn ra tại Nhà hát Opéra Monte Carlo vào tháng 2 năm 1910. Chao ôi buổi ra mắt thật tuyệt vời và tráng lệ!

Nồng nhiệt biết bao cách người ta chào đón các nghệ sĩ tuyệt vời của chúng tôi: Chaliapin, Don Quichotte lý tưởng; Lucy Arbell, lộng lẫy và phi thường trong vai nàng Dulcinée Xinh đẹp, và Gresse, Sancho hài hước một cách hoàn hảo nhất!

Suy ngẫm về tác phẩm được trình diễn năm lần trong cùng một mùa tại Monte Carlo này, một hiện tượng độc đáo trong biên niên sử của nhà hát này, tôi cảm thấy toàn thân run rẩy vì hạnh phúc khi nghĩ đến việc một lần nữa được trông thấy xứ sở trong mơ này, Cung điện Monaco và Hoàng thân điện hạ trong dịp trình diễn vở Roma sắp tới.

Tôi đã dành nhiều ghi chép về tác phẩm này cho cuốn Hồi ức của tôi năm 1912.

Những niềm vui mới đã được hiện thực hóa trong các buổi diễn tập Don Quichotte tại Nhà hát Lyrique Gaîté, nơi tôi nhận được sự chào đón chân thành, cởi mở và trìu mến nhất từ các giám đốc, anh em nhà Isola.

Dàn diễn viên của Monte Carlo đã thay đổi khi ở Paris chúng tôi có nghệ sĩ xuất sắc Vanni Marcoux vào vai Don Quichotte và diễn viên hài bậc thầy Lucien Fugère vào vai Sancho. Lucy Arbell có được chiến thắng tại Monte Carlo nhờ được mời vào vai nàng Dulcinée Xin đẹp tại Nhà hát Lyrique Gaîté.

Nhưng trên đời có hạnh phúc nào trọn vẹn?

Ý nghĩ cay đắng và u sầu này chắc chắn là không liên quan đến thành công vang dội của các nghệ sĩ của chúng tôi và bản dàn dựng của anh em nhà Isola vốn được tổng đạo diễn Labis hỗ trợ rất tốt.

Nhưng hãy tự phán xét xem. Các buổi tập đã phải hoãn lại ba tuần lễ vì ba nghệ sĩ của chúng tôi liên tiếp bị ốm nặng. Tuy nhiên, một điều kỳ lạ và thực sự đáng ngưỡng mộ là ba nghệ sĩ biểu diễn của chúng tôi đã bình phục gần như cùng một lúc, và họ rời các căn phòng đã chứng kiến bệnh tình của họ vào đúng buổi sáng của ngày diễn ra buổi tổng duyệt. Các nghệ sĩ giỏi giang và xinh đẹp muôn năm!

Tiếng hoan hô cuồng nhiệt của công chúng hẳn là phần thưởng ngọt ngào và tuyệt vời dành cho họ khi họ bùng nổ vào ngày 28 tháng 12 năm 1910, trong buổi tổng duyệt kéo dài từ một đến năm giờ chiều.

Ngày đầu năm mới của tôi cũng vui như hội. Hôm đó tôi bị ốm rất nặng và trong lúc đang nằm trên giường bệnh, tôi nhận được danh thiếp của các học trò trung thành, thư từ của bạn bè, những người vui mừng trước thành công của tôi, những bông hoa tươi đẹp gửi đến vợ tôi và một bức tượng đồng tuyệt đẹp, một kỷ vật của Raoul Gunsbourg nhắc tôi nhớ về tất cả những gì tôi nợ ông để Don Quichotte có các buổi công diễn đầu tiên tại Monte-Carlo và được phục dựng tại chính nhà hát này.

Tôi biết rằng mùa diễn 1912 sẽ bắt đầu bằng việc phục dựng tác phẩm này trong các buổi diễn tập vở Roma vào tháng 2.

Trong năm đầu tiên của Don Quichotte, tại nhà hát của anh em nhà Isola đã có tám mươi đêm diễn liên tiếp tác phẩm này.

Tôi rất vui khi nhớ đến một số tình tiết gây ấn tượng mạnh đã khiến tôi cực kỳ hứng thú trong quá trình diễn tập tác phẩm này.

Trước hết, phải kể đến sự táo bạo lạ lùng của nàng Dulciée Xinh đẹp của chúng tôi, Lucy Arbell, khi muốn tự mình đệm guitare cho bài hát trong màn thứ tư. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, cô đã trở thành một nghệ sĩ chơi nhạc cụ này thực sự điêu luyện và có thể đệm các ca khúc nổi tiếng bằng tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý và thậm chí tiếng Nga. Đó là một sự đổi mới đầy thú vị khi giải phóng chúng tôi khỏi cách dàn dựng tầm thường khi để người diễn viên chà xát cây guitare lắp dây giả trong lúc một nghệ sĩ thực thụ chơi đệm trong cánh gà – việc khiến cử chỉ của người diễn viên không khớp với nhạc đệm. Cho đến nay không phải tất cả các Dulcinée đều có thể thực hiện được kỳ tích này của Lucy Arbell. Tôi cũng nhớ rằng nhờ biết khả năng thanh nhạc của cô mà tôi đã làm nổi bật vai diễn bằng các đoạn vocalise táo bạo và điều này sau đó đã làm ngạc nhiên không chỉ một nghệ sĩ biểu diễn; ấy thế nhưng một giọng nữ trầm buộc phải biết cách xướng nguyên âm [vocalise] như một giọng nữ cao. Nhà tiên tri và Người thợ cạo thành Séville đã minh chứng cho điều này.

Việc dàn dựng cảnh cối xay, được Raoul Gunsbourg sáng tạo một cách khéo léo, trở nên phức tạp hơn tại Nhà hát Lyrique Gaîté nhưng vẫn giữ được ấn tượng đã đạt được ở Monte-Carlo.

Việc trao đổi ngựa được giấu khán giả rất khéo đã khiến họ tin rằng Don Quichotte và người đóng thế là một!

Gunsbourg cũng có một khám phá khi dàn dựng màn thứ năm. Bất cứ nghệ sĩ nào trong một cảnh đau đớn, ngay cả khi anh ta là người đầu tiên trên đời, cũng đương nhiên muốn được nằm chết trên mặt đất. Gunsbourg thốt lên trong một khoảnh khắc thiên tài: “Một hiệp sĩ phải chết đứng!” “Và Don Quichotte của chúng tôi, lúc đó là Chaliapin, dựa vào một cái cây lớn trong rừng mà trút bỏ tâm hồn si tình và kiêu hãnh của mình.

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch