“Mọi thể loại nhạc đều hay, trừ loại nhàm chán.” – Gioachino Rossini
Gần như trong suốt thế kỉ 18, nền opera Ý bị chìm khuất. Thời kì Cổ điển là giai đoạn lên ngôi của các thể loại giao hưởng, concerto, sonata hay âm nhạc tôn giáo. Vinh quang trên sân khấu opera, nếu có, lại thuộc về nhà cải cách vĩ đại người Đức Christoph Willibald Gluck hay Wolfgang Amadeus Mozart. Và dù rằng những vở opera tiếng Ý vẫn thường xuyên được biểu diễn mà tiêu biểu là Le nozze di Figaro và Don Giovanni thì không phủ nhận được thực tế rằng tác giả của chúng, Mozart là một người Áo. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Gioachino Rossini được coi như ngôi sao sáng trong đêm đen, như ngọn hải đăng giữa đại dương mù mịt bão táp. Bằng tài năng siêu việt của mình, Rossini đã vực dậy nền opera Ý đang trong cơn khủng hoảng và chấn hưng lại nghệ thuật bel canto (hát đẹp) tưởng như đã bị chìm vào quên lãng. Cùng với hai nhà soạn nhạc đương thời khác là Gaetano Donizetti và Vincenzo Bellini, Rossini được coi là người khổng lồ của bel canto đồng thời, ông đã khai sinh ra một kỷ nguyên mới mà ở đó, opera Ý trở lại thời vàng son, giữ vững vị thế thống trị của nơi khai sinh ra nghệ thuật vĩ đại này, bất chấp sự trỗi dậy mạnh mẽ của những quốc gia hùng mạnh khác.
Gioachino Rossini sinh ngày 29/2/1792 tại Pesaro, một thị trấn nằm trên bờ biển Adriatic. Tên của cậu trong lễ rửa tội là Giovacchino nhưng sau này nhà soạn nhạc luôn ký tên mình là Gioachino. Cha cậu, ông Giuseppe là một nghệ sĩ kèn trumpet và horn còn mẹ, bà Anna là thợ may nhưng sở hữu một giọng hát tuyệt đẹp. Cuộc sống thơ ấu của Rossini được nhà văn Stendhal, tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Đỏ và Đen, đồng thời cũng là người nghiên cứu tiểu sử nhà soạn nhạc đã tóm lược: “Phần thừa kế mà Rossini nhận từ cha mình chính là di sản đích thực của một người Ý: một chút âm nhạc, một chút tôn giáo và một tập thơ của Ariosto (nhà thơ Ý thời Phục Hưng). Còn lại, việc giáo dục ông được giao phó cho “ngôi trường chân chính” của tuổi trẻ miền Nam: đó là sự bầu bạn của người mẹ, các cô gái trẻ trong đoàn hát, những nàng prima donna tương lai, cùng những chuyện tán gẫu từ mọi ngôi làng mà họ đi qua. Tất cả được bổ trợ và tinh lọc qua người thợ cạo mê âm nhạc và ông chủ tiệm cà phê ham tin tức ở ngôi làng thuộc Nhà nước Giáo hoàng (nơi Rossini sinh ra thời điểm này thuộc về Nhà nước Giáo hoàng, một thực thể chính trị do Giáo hoàng cai trị”. Ông Giuseppe từng bị đi tù hai lần. Một lần do chống đối chính quyền địa phương, lần khác do ủng hộ quân đội Napoleon, chống lại Giáo hoàng. Để kiếm sống, Anna đã trở thành ca sĩ, hát trong các vở opera hài hước trong suốt 10 năm trước khi giọng hát không hề qua đào tạo của bà bắt đầu yếu đi.
Năm 1802, cả gia đình cậu chuyển đến Lugo, gần Ravenna và Gioachino được giáo dục đầy đủ về tiếng Ý, tiếng Latin và âm nhạc. Ông Giuseppe đã dạy con trai mình chơi horn và vị linh mục Giuseppe Malerbe, người sở hữu một thư viện âm nhạc đồ sộ với nhiều tác phẩm của Joseph Haydn và Mozart đã hướng dẫn cậu những thứ khác. Chính thư viện này đã truyền nguồn cảm hứng lớn lao cho cậu bé. Gioachino thể hiện rõ năng khiếu tuyệt vời của mình khi 12 tuổi, cậu đã hoàn thành 6 bản sonata dành cho dàn dây (2 violin, cello và double bass). Đội hình kỳ quặc này xuất hiện là do thời điểm này Rossini đang sống nhờ tại nhà của Agostini Triossi, một nghệ sĩ double bass nghiệp dư. Nhà soạn nhạc cho biết, các bản sonata là: “Tác phẩm được tôi sáng tác và chép tay trong ba ngày, được trình diễn theo cách vớ vẩn nhất với Triossi, anh em nhà Morini và violin hai do chính tôi đảm nhận – mà thú thật, tôi là người… ít vớ vẩn nhất trong số đó”. Có thể, tập 6 sonata này còn nhiều thiếu sót, nhưng không thể phủ nhận đó là những tác phẩm rất đáng chú ý với một cậu bé 12 tuổi.
Hai năm sau, Rossini được cho theo học tại Liceo Musicale, Bologna (nay là Nhạc viện Giovanni Battista Martini) mới mở trước đó. Tại đây, cậu học thanh nhạc, cello, piano và sáng tác một cách chính quy. Rossini bắt đầu thử sức với những tác phẩm quy mô lớn và hoàn thành một mass, một cantata cũng như vài tác phẩm khí nhạc. Rossini cũng có những buổi biểu diễn đầu tiên trước khán giả với tư cách ca sĩ và nghệ sĩ piano. Cậu chỉ học tại đây trong hai năm và mặc dù nhận được lời đề nghị tiếp tục ở lại, Rossini đã từ chối. Chế độ học thuật nghiêm ngặt của Liceo Musicale đã mang lại cho cậu một kỹ thuật sáng tác vững chắc, nhưng như người viết tiểu sử của Rossini, Richard Osborne đã nói: “Bản năng tiếp tục học tập trong thế giới thực của ông cuối cùng đã khẳng định được chính nó”. Năm 1810, theo đề nghị của tenor Domenico Mombelli, Rossini đã sáng tác vở opera đầu tiên của mình Demetrio e Polibio (Demetrio và Polibio) với kịch bản của vợ Mombelli. Tuy nhiên, phải đến hai năm sau đó, tác phẩm mới được dàn dựng. Bàn bạc với cha mẹ, Rossini nhận định opera sẽ là tương lai của mình. Khi đó, trung tâm opera ở đông bắc nước Ý là Venice. Dưới sự giám hộ của nhà soạn nhạc Giovanni Morandi, một người bạn của gia đình, chàng trai trẻ 18 tuổi đã lên đường tới Venice vào cuối năm 1810.
Ngay lập tức, Rossini đã giành được những thành công bước đầu. Tháng 11/1810, tại nhà hát nhỏ Teatro San Moisè, hài kịch một màn La cambiale di matrimonio trở thành vở opera đầu tiên của Rossini được dàn dựng và nhà soạn nhạc nhận được khoản thù lao đáng kể: “Bốn mươi đồng scudi – một số tiền mà tôi chưa từng thấy bao giờ được gom lại một chỗ”. Rossini đánh giá San Moisè là nhà hát lý tưởng cho một nhà soạn nhạc trẻ đang học nghề. Tại đây chỉ có một nhóm nhỏ ca sĩ, không có hợp xướng, chủ yếu dàn dựng những vở opera hài một màn, có bối cảnh khiêm tốn và đòi hỏi ít thời gian tập luyện. Nối tiếp thành công, Rossini tiếp tục sáng tác ba vở opera cho nhà hát: L’inganno felice (Cú lừa may mắn, 1812), La scala di seta (Chiếc thang lụa, 1812), và Il signor Bruschino (Ngài Bruschino, 1813). Rossini mở rộng địa bàn hoạt động của mình tới Bologna và Rome đồng thời đón nhận thất bại đầu tiên. Ông thử sức với L’equivoco stravagante (Sự nhầm lẫn kỳ quặc), vở opera dài với hai màn hoàn chỉnh. Tác phẩm chỉ được công diễn ba lần và sau đó bị cảnh sát buộc phải đóng cửa vì nội dung liên quan đến việc đào ngũ của quân đội. Tháng 9/1812, Rossini giành được thành công lớn khi vở opera La pietra del paragone (Hòn đá thử vàng) đã được công diễn tới 53 buổi chỉ trong một mùa diễn tại La Scala. Điều này không chỉ mang đến cho nhà soạn nhạc một khoản tiền lớn mà còn giúp anh không phải đi nghĩa vụ quân sự và giành được danh hiệu maestro di cartello, tôn vinh những nhà soạn nhạc khiến khán phòng chật cứng khán giả.
Tuy nhiên bước ngoặt thực sự, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Rossini chỉ đến vào ngày 6/2/1813. Tancredi, vở opera seria nghiêm túc đầu tiên của ông, được dựa trên vở kịch Tancrède của Voltaire đã thành công vang dội tại La Fenice, nhà hát danh giá nhất Venice. Stendhal đánh giá là đứng đầu trong số những kiệt tác của nhà soạn nhạc và miêu tả đây là “một tia sét thực sự từ bầu trời trong xanh đối với nhà hát trữ tình Ý”. Còn theo Osborne, tác phẩm đã Rossini, dù ít hay nhiều, thành tác giả opera đương đại hàng đầu ở Ý. Tancredi đã đưa danh tiếng Rossini vượt ra khỏi biên giới nước Ý, tới London và thậm chí cả New York. Để thoả mãn khán giả, ông đã phải sửa chữa lại màn cuối, mang tới một kết thúc bi kịch gần với nguyên bản. Chỉ vài tuần sau, Rossini tiếp tục được tôn vinh với thắng lợi của vở opera hài kịch L’italiana in Algeri (Cô gái Ý ở Algeri), được hoàn thành chỉ trong một khoảng thời gian ngắn. Năm 1814, sự nghiệp của Rossini trở nên trầm lắng hơn. Cả Il turco in Italia (Người Thổ ở Ý) lẫn Sigismondo chỉ giành được sự chú ý vừa phải, không làm thoả mãn khán giả ở Venice và Milan. Tuy nhiên, năm 1815 lại đánh dấu một giai đoạn mới quan trọng trong sự nghiệp của nhà soạn nhạc. Tháng 5, Rossini chuyển tới Naples để đảm nhận cương vị giám đốc âm nhạc cho các nhà hát tại đây, bao gồm cả Teatro di San Carlo.
Rossini không được đón chào tại Naples, ông bị coi là kẻ ngoại lai của truyền thống opera quý giá nơi đây. Vào cuối thế kỷ 18, đây là thủ đô opera của nước Ý với những ký ức về Domenico Cimarosa vẫn còn tươi mới và Giovanni Paisiello vẫn ngự trị. Tuy nhiên, bằng tài năng của mình, Rossini đã chinh phục toàn bộ khán giả và giới phê bình nơi đây. Vở opera đầu tiên của ông công diễn tại San Carlo là Elisabetta, regina d’Inghilterra (Elizabeth, Nữ hoàng nước Anh) với nhiều chất liệu được tái sử dụng từ các tác phẩm trước đây, nổi bật là phần overture, được trích dẫn từ Aureliano in Palmira và sau này còn được đưa vào tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà soạn nhạc Il barbiere di Siviglia (Người thợ cạo thành Seville). Như các học giả nghiên cứu về Rossini, Philip Gossett và Patricia Brauner đã viết trong cuốn sách của họ, việc làm này mang ý nghĩa: “Dường như Rossini muốn tự giới thiệu mình với công chúng Naples bằng cách mang đến một tuyển tập những phần nhạc hay nhất từ các vở opera mà ít có khả năng được phục dựng tại đây”. Elisabetta, regina d’Inghilterra được đón nhận hết sức nồng nhiệt, cũng như sự thành công của của L’italiana in Alger đã củng cố vững chắc vị thế của Rossini tại Naples. Tại đây, lần đầu tiên Rossini có thể thường xuyên làm việc với một dàn nhạc và hợp xướng ở trình độ cao nhất. Lịch trình tập luyện được lên kế hoạch chi tiết khiến việc phải vội vàng sáng tác để đáp ứng về mặt tiến độ thời gian là không cần thiết. Vì vậy, đây là quãng thời gian nổi bật của Rossini cả về số lượng và chất lượng. Từ năm 1815-1822, ông đã hoàn thành 18 vở opera, trong đó 9 là cho Naples và 9 dành cho các nhà hát khác. Tại đây, Rossini cũng gặp soprano người Tây Ban Nha Isabella Colbran, đang là ca sĩ chủ lực của San Carlo và đã dành tặng nhưng vai diễn quan trọng trong các vở opera mới nhất của cho cô. Colbran đã trở thành nàng thơ của nhà soạn nhạc, Rossini cho biết đó là: “người diễn giải vĩ đại nhất âm nhạc của ông”. Hai người kết hôn sau đó vào năm 1822, bà lớn hơn ông 7 tuổi.
Ngày 20/2/1816 tại Teatro Argentina, Rome, Il barbiere di Siviglia được công diễn. Mặc dù ngày nay vở opera được coi là kiệt tác của nền opera thế giới, là opera buffa của tất cả các vở opera buffa như buổi ra mắt tác phẩm bị phản đối dữ dội. Trước đó Paisiello đã có tác phẩm cùng tên và những người hâm mộ nhà soạn nhạc này coi đây là một sự xúc phạm ghê gớm. Họ xúi giục những người khác, la ó và chế giễu suốt buổi biểu diễn, thậm chí còn gây sự cả trên sân khấu. Tuy nhiên, từ đêm thứ hai, vở opera đã được đón nhận và nhanh chóng phổ biến trên khắp châu Âu. Sự nổi tiếng của Il barbiere di Siviglia cũng khiến Rossini khó chịu. Vai nữ chính Rosina vốn được dành cho contralto. Tuy nhiên, đây là một giọng hiếm và nhiều soprano muốn đảm nhận vai diễn này vì nó quá tuyệt vời. Vì vậy, nhà soạn nhạc đã phải dịch giọng cho vai diễn nhiều lần. Không chỉ có vậy, lối hát hoa mỹ nhằm khoe giá trị giọng hát của bản thân, bỏ qua những chỉ dẫn cụ thể trong tổng phổ của nhà soạn nhạc vẫn rất thịnh hành thời bấy giờ. Có giai thoại kể rằng, danh ca Adelina Patti từng trình bày aria “Una voce poco fa” (Il barbiere di Siviglia) cho Rossini thưởng thức. Sau đó nhà soạn nhạc hỏi: “Tuyệt vời, quý cô yêu dấu, ai đã sáng tác phần cô vừa hát vậy?”. Rossini từng thốt lên rằng: “Opera sẽ tuyệt vời biết bao nếu không có ca sĩ”, dường như bày tỏ sự thất vọng của mình trước sự tự do quá trớn của các ca sĩ, họ đứng trên sân khấu để khoe bản thân mình chứ không phải phụng sự nghệ thuật. Rossini chính là nhà soạn nhạc đầu tiên viết ra một cách đầy đủ và rõ ràng các đoạn fioritura (hoa mỹ) dành cho ca sĩ trong tổng phổ, yêu cầu họ tuân thủ một cách nghiêm ngặt.
Sáng tác Rossini dành cho Naples chủ yếu là các vở opera seria có quy mô lớn, như Otello (1816), Mosè in Egitto (1818) hay La donna del lago (1819). Tuy nhiên, tác phẩm nổi bật nhất của Rossini thời gian này là La Cenerentola, phiên bản Cô gái Lọ Lem của nhà soạn nhạc được ra mắt tại Rome vào 25/1/1817. Đến năm 1820, Rossini bắt đầu không còn cảm thấy thoải mái khi ở Naples. Sự thất bại trước đó của Ermione khiến nhà soạn nhạc buồn chán. Và khi nhà quản lý Domenico Barbaia ký một hợp đồng biểu diễn dài ngày tại Vienna, Rossini đã rất phấn chấn. Tại đây, ông được đón chào như một người anh hùng, được miêu tả là “sự cuồng nhiệt chưa từng có” hay “cơn sốt Rossini”. Sáu vở opera của Rossini được công diễn tại đây trong vòng ba tháng. Học trò và trợ lý của Ludwig van Beethoven, Anton Schindler, trước sự hâm mộ của khán giả đã mô tả đó là một “cuộc cuồng hoan sùng bái thần tượng”. Tại đây, Rossini đã tham dự buổi biểu diễn bản Giao hưởng số 3 “Eroica” của Beethoven. Ông vô cùng xúc động: “Tại Vienna, lần đầu tiên tôi được xem buổi biểu diễn một trong những bản giao hưởng của ông, Eroica. Âm nhạc đó đã làm tôi choáng ngợp. Tôi chỉ có một suy nghĩ duy nhất, là được gặp thiên tài vĩ đại đó, được gặp ông ấy, dù chỉ một lần”. Ông đã đến thăm Beethoven và rất hào hứng về cuộc gặp gỡ này, được Antonio Salieri thu xếp. Rossini sững sờ trước căn nhà tồi tàn mà người đàn ông vĩ đại này đang sống: “Một nỗi buồn khó tả hiện rõ trên khuôn mặt ông, trong khi dưới hàng lông mày rậm rạp, như trong hang động sâu thẳm, đôi mắt, dù nhỏ bé, dường như đang nhìn chằm chằm”. Mặc dù cuộc trò chuyện gặp phải trở ngại vì căn bệnh điếc của Beethoven và Rossini không biết tiếng Đức nhưng ông đã kể lại rằng Beethoven đánh giá tài năng của Rossini không phù hợp với opera seria mà ông “trên hết, nên làm nhiều Barbiere (Thợ cạo) hơn”. Sau này, Beethoven còn tâm sự với một người bạn: “Rossini là một nhà soạn nhạc tài năng và giàu giai điệu; âm nhạc của ông ấy rất hợp với tinh thần phù phiếm và nhục cảm của thời đại, và năng suất sáng tác của ông ấy thì chỉ cần vài tuần là làm được điều mà người Đức phải mất cả năm trời mới viết xong một vở opera”.
Trở về Ý, Rossini tập trung hoàn thành Semiramide cho La Fenice, vở opera cuối cùng của ông cho sân khấu Ý. Colbran hát vai chính nhưng tất cả đều thấy rõ rằng giọng hát của bà đã suy tàn nghiêm trọng. Tuy nhiên, Semiramide lại rất thành công, được biểu diễn trong suốt nhiều năm sau đó. Osborne đã nhận xét vở diễn đã “kết thúc sự nghiệp của Rossini tại Ý một cách ngoạn mục”. Tháng 11/1823, hai vợ chồng ông lên đường tới London theo một hợp đồng đã được ký kết trước đó. Trên đường đi có ghé qua Paris, nơi dù không được như Vienna, nhưng Rossini vẫn giành được những sự kính trọng từ đồng nghiệp, giới phê bình và khán giả. Nhiều buổi biểu diễn tại đây sau khi kết thúc, Rossini được mời lên sân khấu và đón nhận những tràng pháo tay vang dội. Ông thực sự cảm thấy yêu mến bầu không khí nghệ thuật tại đây. Một hợp đồng với thù lao cao đã được ký kết tại đây, sẽ bắt đầu có hiệu lực từ năm 1824. Tại London, những màn trình diễn của Colbran đã thực sự trở thành thảm hoạ. Dư luận càng trở nên gay gắt hơn khi vở opera mới của Rossini không được biểu diễn như quảng cáo. Trên thực tế, nhà tổ chức Vincenzo Benelli đã vỡ nợ dẫn đến việc không thể thực hiện hợp đồng với Rossini nhưng giới âm nhạc và khán giả London không biết điều đó nên nhà soạn nhạc phải gánh chịu cơn thịnh nộ. Bản thân Rossini cũng không thích London, chuyến vượt biển Manche khiến ông cảm thấy mệt mỏi, thời tiết và những món ăn tại đây không giúp tâm trạng nhà soạn nhạc thoải mái hơn. Rossini nhanh chóng trở về Paris để bắt tay vào một chặng đường mới.
Ngoài những vở opera, Rossini còn nổi tiếng về tính thèm ăn của mình. Có một giai thoại rằng trong đời mình, Rossini chỉ khóc có ba lần: lần đầu tiên khi chứng kiến vở opera đầu tay của mình thất bại, lần thứ hai nghe Niccolò Paganini chơi đàn và lần thứ ba là khi đi tàu phải chứng kiến một con gà tây nhồi nấm truffle rơi xuống biển. Rossini coi việc ăn uống là hoạt động đáng ngưỡng mộ nhất và ông từng triết lý rằng “sự thèm ăn đối với dạ dày cũng giống như tình yêu đối với trái tim”. Vì thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi các đầu bếp và nghệ nhân ẩm thực đã sáng tạo nhiều món ăn để vinh danh ông, và cho đến nay đã có hơn một trăm món mang tên “alla Rossini” (theo kiểu Rossini). Ăn uống, yêu đương, ca hát và tiêu hóa, theo Rossini “thật ra là bốn màn của vở opera hài mang tên cuộc đời, và chúng trôi qua nhẹ như những bong bóng trong một chai sâm banh. Ai để chúng vỡ tan mà không tận hưởng thì đúng là kẻ ngốc hoàn toàn”. Có lẽ Rossini dành những năm tháng này ở Paris không chỉ vì sự đón nhận của khán giả nơi đây mà còn vì những món ăn tuyệt vời của xứ sở này. Trong thời gian ở Paris, Rossini đã kết bạn với Antonin Carême, thiên tài ẩm thực, người từng nói về Rossini là “người duy nhất thực sự hiểu tôi”. Tại Paris, công việc chính của Rossini là sáng tác một grand opéra (một vở opera lớn, ít nhất là 4 màn, thường có cốt truyện xoay quanh các sự kiện lịch sử kịch tính) và một opera buffa (hoặc seria) đồng thời sửa chữa một số tác phẩm cũ cho phù hợp với sân khấu Pháp. Tuy nhiên sự qua đời của nhà vua Louis XVIII và Charles X đăng quang đã khiến kế hoạch của Rossini phải thay đổi.
Tác phẩm mới đầu tiên của Rossini cho sân khấu Paris là Il viaggio a Reims (Chuyến đi đến Reims), vở opera một màn được biểu diễn chào mừng sự lên ngôi của Charles X vào tháng 6/1825. Đây là vở opera bằng tiếng Ý cuối cùng của nhà soạn nhạc. Tác phẩm chỉ được xuất hiện bốn lần do Rossini muốn sử dụng những chất liệu tuyệt vời nhất trong này cho một vở opera có giá trị lâu dài hơn, đó là Le comte Ory (Bá tước Ory), được sáng tác vào năm 1828. Để có thể hoà nhập với Paris, Rossini đã học tiếng Pháp, làm quen với cách hát tiếng Pháp trong opera, bỏ qua nhiều chi tiết cầu kỳ, nghiên cứu sở thích của khán giả Paris, bổ sung nhiều điệu nhảy, màu sắc thánh ca và tăng quy mô cho dàn hợp xướng. Những vở opera bằng tiếng Pháp đầu tiên của Rossini là Le siège de Corinthe (Cuộc vây hãm thành Corinth, 1826) và Moïse et Pharaon (Moïse và Pharaon, 1827), trên thực tế là phiên bản sửa đổi của Maometto II (Maometto đệ nhị) và Mosè in Egitto trước đó. Tháng 8/1829, Guillaume Tell được công diễn ra mắt tại Paris. Đây là vở opera đồ sộ nhất của Rossini, được viết theo phong cách grand opéra quen thuộc với nước Pháp. Vở opera được dựa theo vở kịch Wilhelm Tell của Friedrich Schiller, kể lại câu chuyện người anh hùng Thuỵ Sĩ thế kỷ 14 Wilhelm Tell. Tác phẩm được đón nhận nồng nhiệt. Dàn nhạc và hợp xướng sau buổi biểu diễn đã kéo đến nhà Rossini và trình diễn lại màn II để tôn vinh ông. Tờ báo Le Globe bình luận rằng một kỷ nguyên âm nhạc mới đã bắt đầu. Còn Donizetti thì nhận xét màn đầu tiên và màn cuối của vở opera được Rossini viết, nhưng các màn giữa thì do Chúa thực hiện. Cho đến ngày nay, đoạn cuối “Cuộc hành quân của những binh lính Thuỵ Sĩ” trong overture của tác phẩm là giai điệu nổi tiếng nhất của Rossini, nổi bật trong văn hoá đại chúng. Đây là một thành công không thể nghi ngờ nhưng nó không phải là vở opera được biểu diễn thường xuyên vì quá khó hát, đặc biệt là vai tenor của nhân vật Arnold.
Không ai nghĩ rằng Guillaume Tell là vở opera cuối cùng của opera. Lúc này nhà soạn nhạc mới 37 tuổi và tỏ ra tràn đầy ý tưởng sáng tạo. Nhà phê bình Francis Toye đã đặt ra cụm từ “Sự Từ Bỏ Vĩ Đại” và gọi việc Rossini giải nghệ là một “hiện tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử âm nhạc và khó tìm được điểm tương đồng trong toàn bộ lịch sử nghệ thuật”: “Có nghệ sĩ nào khác từng cố ý, ngay vào thời kỳ đỉnh cao của cuộc đời, từ bỏ hoàn toàn hình thức sáng tạo nghệ thuật đã khiến mình nổi tiếng khắp thế giới văn minh như vậy không”? Còn nhà thơ Heinrich Heine thì so sánh Rossini với William Shakespeare rằng hai thiên tài nhận ra khi họ đã đạt được điều không thể vượt qua và sẽ không tìm cách theo đuổi. Tuy nhiên, lại có một số ý kiến khác cho rằng Rossini từ bỏ opera khi chứng kiến Giacomo Meyerbeer và Fromental Halévy thành công trong các vở grand opéra. Còn Osborne thì lại đưa ra giả thuyết vì lý do sức khoẻ. Lúc này Rossini có sức khoẻ không tốt, cả về thể chất lẫn tinh thần. Ông mắc bệnh lậu dẫn đến các tác dụng phụ là viêm niệu đạo và khớp. Rossini cũng trải qua những cơn trầm cảm, được cho là bắt đầu khi mẹ ông qua đời vào năm 1827.
Sau khi giã từ opera, 25 năm sau đó Rossini sáng tác rất ít, bao gồm Soirées musicales (Những buổi dạ tiệc âm nhạc 1830-1835), một tập hợp mười hai bài hát dành cho đơn ca hoặc song ca và piano và Stabat Mater, mất đến 10 năm (1831-1841) để hoàn thành. Chất lượng nghệ thuật của những tác phẩm này ở mức rất cao, khiến nhiều nhà âm nhạc học hoài nghi về cảm hứng sáng tạo của ông. Rossini từng rời Paris để về sống tại Bologna nhưng sau đó lại trở lại Paris, làm dấy lên hi vọng rằng ông có thể sẽ sáng tác một vở opera mới. Thậm chí đã có tin đồn đó chính là Joan of Arc, dựa trên kịch bản của Eugène Scribe. Tuy nhiên, tất cả chỉ dừng lại ở phiên bản tiếng Pháp của Otello vào năm 1844. Tháng 9/1845, Colbran qua đời ở Bologna. Hai người đã ly thân nhiều năm trước đó. Một năm sau, Rossini kết hôn với cô gái người Pháp Olympe Pélissier mà ông đã có những mối quan hệ mờ ám từ những năm 1830. Ban đầu họ sống với nhau ở Bologna nhưng sau đó chuyển tới Florence vì những cuộc bạo loạn nổ ra ở đây do cuộc Cách mạng 1848. Đến đầu những năm 1850, sức khỏe tinh thần và thể chất của Rossini suy giảm đến mức vợ và bạn bè ông lo sợ cho sự tỉnh táo, thậm chí tính mạng của ông. Tháng 4/1855, Rossini thực hiện chuyến đi cuối cùng của mình từ Ý sang Pháp, sống tại Paris, nơi có điều kiện y tế tốt nhất châu Âu lúc bấy giờ.
Ông tiếp tục sáng tác trở lại. Chúng rất đa dạng, bao gồm các bài hát, độc tấu piano và các tác phẩm thính phòng cho nhiều sự kết hợp nhạc cụ khác nhau, với số lượng khá lớn, lên đến150 tác phẩm, chia làm 14 tập. Rossini gọi chúng là Péchés de vieillesse (Tội lỗi tuổi già). Trong đó thú vị nhất là tập IV với tên gọi Quatre hors d’œuvres et quatre mendiants (Bốn món khai vị và bốn người ăn xin) gồm hai tập, mỗi tập bốn tiểu phẩm nhỏ dành cho piano độc tấu. Trong đó Bốn món khai vị là: Củ cải đỏ, Cá cơm muối, Dưa chuột ngâm và Bơ; Bốn người ăn xin có: Mơ khô, Hạnh nhân, Nho khô và Hạt phỉ. Một ví dụ nữa cho thấy sự yêu thích của Rossini dành cho âm nhạc và ẩm thực. Rossini không cho biểu diễn công khai những tác phẩm này nhưng vẫn dành chúng cho những buổi tụ họp tại nhà riêng của ông. Những tối như vậy là một phần quen thuộc trong đời sống Paris như nhà văn James Penrose nhận xét rằng giới thượng lưu có quan hệ rộng rãi có thể dễ dàng tham dự các buổi tụ họp trí thức khác nhau gần như mỗi tối trong tuần –nhưng các tối thứ Bảy của vợ chồng Rossini nhanh chóng trở thành sự kiện được khao khát nhất: “một lời mời đến đó là phần thưởng xã hội cao quý nhất của thành phố”. Ngoài âm nhạc của mình, Rossini còn cẩn thận lựa chọn và giới thiệu những tác phẩm của Haydn, Mozart cũng như của cả những vị khách mời như Franz Liszt, Anton Rubinstein, Charles Gounod, Richard Wagner và Giuseppe Verdi. Petite messe solennelle, được Rossini dí dỏm gọi “Tội lỗi tuổi già cuối cùng của tôi” là tác phẩm duy nhất được công diễn, vào tháng 3/1864.
Sau ca phẫu thuật ung thư trực tràng không thành công, Rossini qua đời tại nhà riêng ở khu Passy, Paris vào ngày 13/11/1868 ở tuổi 76. Lễ tang của ông được tổ chức trọng thể tại nhà thờ Sainte-Trinité với hơn 4.000 người tham dự. Di hài Rossini được chôn cất tại Nghĩa trang Père Lachaise. Từ năm 1887, chúng được chuyển đến Vương cung thánh đường Santa Croce, Florence. Tài sản của ông ngoài một phần để lại cho vợ và một số người thân, Rossini dành gần như toàn bộ cho thành phố quê hương Pesaro. Ông cũng thành lập một quỹ có thu nhập hàng năm 6.000 franc, dùng để tài trợ hai học bổng mỗi năm dành riêng cho các nhà soạn nhạc và tác giả kịch bản người Pháp: “Tôi mong muốn để lại tại nước Pháp – nơi đã dành cho tôi sự đón tiếp nồng hậu như vậy – một minh chứng cho lòng biết ơn của tôi, cũng như ước muốn được nhìn thấy một bộ môn nghệ thuật mà tôi đã cống hiến cả đời được hoàn thiện hơn nữa”. Tài sản Rossini để lại đã được thành phố Pesaro sử dụng để thành lập một trường trung học âm nhạc tại dây. Năm 1940, nó được đổi tên thành nhạc viện Quốc gia Gioachino Rossini. Tổ chức quản lý cũng đổi tên thành Quỹ Rossini với sứ mệnh hỗ trợ hoạt động của Nhạc viện và nghiên cứu, phổ biến trên toàn thế giới về di sản của nhà soạn nhạc vĩ đại xứ Pesaro.
Một trong những công lao lớn nhất của Rossini đối với opera là khôi phục lối hát bel canto truyền thống. Ở đó, các ca sĩ có thể khai thác tối đa vẻ đẹp trong giọng hát của mình, tạo nên được âm thanh mượt mà, khả năng điều khiển hơi thở tinh tế, chạy nốt linh hoạt, kỹ thuật legato trau chuốt và tạo ra âm sắc đồng đều trên toàn bộ âm vực. Rossini tăng sức biểu cảm của dàn nhạc đồng thời góp phần loại bỏ thói quen khoe giọng một cách lố bịch và kệch cỡm của nhiều ca sĩ thời bấy giờ. Họ đã trở thành một phần của opera, hoà hợp cũng những thành phần khác, tạo nên một chỉnh thể thống nhất của toàn bộ tác phẩm. Ông cũng gần như loại bỏ aria da capo (có cấu trúc ABA hoặc ABA’) mà ở đó phần sau gần như được lặp lại y hệt, nhằm để ca sĩ khoẻ giọng nhưng đồng thời sẽ làm chậm lại diễn biến của câu chuyện. Rossini đã thay thế chúng bằng hình thức cantabile-cabaletta: đoạn mở đầu trữ tình, chậm rãi và sau đó âm nhạc sẽ kịch tính, ở tốc độ nhanh hơn tiến tới một cái kết rực rỡ, sâu sắc. Mở đầu từ aria “Di tanti palpiti” (Tancredi), phong cách này đã ảnh hưởng tới cả thế kỷ 19 trong opera Ý.
Rossini từng nói: “Âm nhạc là một loại ngôn ngữ hài hoà”. Quan điểm này của Rossini cho thấy âm nhạc như một hình thức giao tiếp biểu cảm và phổ quát. Đối với ông, âm nhạc có khả năng khơi gợi những phản ứng cảm xúc sâu sắc thông qua giai điệu, hoà âm và nhịp điệu. Rossini nhấn mạnh khả năng tạo ra sự cân bằng và thống nhất của âm nhạc, những phẩm chất cốt lõi trong cách tiếp cận sáng tác của ông. Mỗi nốt nhạc đều có mục đích cụ thể trong việc thúc đẩy kịch tính và củng cố cảm xúc. Khả năng kết hợp giai điệu giản dị với nhịp điệu phức tạp là dấu ấn đặc trưng trong phong cách âm nhạc của Rossini, khiến các tác phẩm của ông không chỉ dễ tiếp cận mà còn giàu giá trị nghệ thuật. Những cải cách của ông mang tầm cỡ thời đại và ảnh hưởng của ông lên những thế hệ đi sau không hề thua kém Gluck hay Wagner. Nhiều giai điệu của Rossini đẹp đến nỗi đã có vô vàn những phiên bản chuyển soạn chúng. Tuy nhiên, cuối thế kỷ 19 là thời điểm danh tiếng của Rossini trở nên phai nhạt nhất. Bernard Shaw từng chê bai vào năm 1886: “Rossini, người từng được cả thế giới tôn vinh, mà vở Semiramide từng khiến các thế hệ cha anh non nớt của chúng ta kinh ngạc như một kỳ quan Nineveh, cuối cùng lại không còn được xem là một nhà soạn nhạc nghiêm túc nữa”. Tuy nhiên, đó chỉ là tình trạng nhất thời, các tác phẩm opera của Rossini, mà đứng đầu là Il barbiere di Siviglia sẽ mãi luôn thống trị tại các nhà hát trên toàn thế giới.
Cobeo







