“Người ta phải tìm ra biểu cảm khuôn mặt chính xác cho những gì người ta đang nói và hát. Nếu một người chỉ hát, mà không đặt vào đó bất kỳ trái tim hay tâm hồn nào, thì nó vẫn chỉ là một giọng hát đẹp chứ không phải một tâm hồn biết hát!” – Magda Olivero

Magda Olivero, người có sự nghiệp kéo dài qua gần năm thập kỷ, đã giúp bà trở thành một sợi dây liên kết quan trọng giữa những nhà soạn nhạc verismo đầu thế kỷ 20 với sân khấu opera hiện đại. “Soprano verismo cuối cùng” là biệt danh mà mọi người dành cho bà, bởi bà là người sở hữu một kỹ thuật hát truyền thống, thuần chất Ý và được trau dồi trực tiếp với tác giả của những vở opera tuyệt tác. Được coi là không có khả năng thanh nhạc, bà từng được khuyên tìm kiếm một công việc khác khi tham dự một buổi thử giọng và ngay cả khi ở đỉnh cao của sự nghiệp, Olivero vẫn nhận được không ít lời gièm pha giọng hát của mình, bị chê bai là xấu xí nhưng cá tính sân khấu đặc biệt của bà, với sự đắm chìm trong từng vai diễn đã tạo nên Olivero không hề nhầm lẫn với bất cứ ai khác. Với Francesco Cilea, Adriana Lecouvreur của Olivero là không gì sánh nổi vì bà là ca sĩ duy nhất có thể vượt lên trên những gì ông đã sáng tác. Trên thực tế, bà không phải một cái tên nổi trội, chưa bao giờ là trung tâm của thế giới opera. Olivero cũng rất hiếm những bản ghi âm trong phòng thu, dẫn đến việc hạn chế đi sự nổi tiếng của bà. Nhưng những màn biểu diễn xuất thần trên sân khấu, thật may mắn là được thu âm lại rất nhiều, là những bằng chứng sống động cho một Olivero hát như thể đó là vai diễn của cuộc đời mình và cuộc sống của mình phụ thuộc vào chúng. Với một tuổi thọ kéo dài, Olivero đã trở thành huyền thoại sống, tượng đài lịch sử còn sót lại. Bà hoàn toàn xứng đáng là một trong những giọng hát quan trọng và vĩ đại nhất của thế kỷ 20.

Maria Maddalena Olivero sinh ngày 25/3/1910 tại Saluzzo, phía tây bắc của nước Ý, gần Turin. Trái ngược với nhiều danh ca thời đó, thường có xuất thân nông dân, cô bé Maria sống trong một gia đình trung lưu với người cha là thẩm phán. Maria được hưởng một nền giáo dục đầy đủ. Cô bắt đầu học piano từ khi lên 6 tuổi. Cô cũng học múa, điều này giúp cho những bước di chuyển của cô trên sân khấu trở nên rất duyên dáng. Sau này, trong vai chính Cleopatra của vở opera Cleopatra (Armando La Rosa Parodi), bà đã tự mình diễn trong cảnh múa ballet thay vì phải nhờ diễn viên đóng thế. Maria học thêm về hoà âm, sáng tác và tốt nghiệp chuyên ngành piano tại nhạc viện Giuseppe Verdi, Turin. Tuy nhiên, cô lại muốn trở thành ca sĩ nhưng không thành công trong các buổi thử giọng tại nhạc viện. Maria tìm đến EIAR (tiền thân của RAI – Công ty phát thanh truyền hình Ý). Sau khi nghe Sì, mi chiamano Mimì (La Bohème, Giacomo Puccini) nhạc trưởng Ugo Tansini, người góp phần tạo nên huyền thoại Olivero đã thẳng thừng nhận xét: “Cô gái này không sở hữu giọng hát, âm nhạc lẫn tính cách! Không. Hoàn toàn không có gì! Cô ấy nên tìm một nghề khác”. Cô vẫn kiên trì thử giọng lại lần thứ hai, và may mắn, Luigi Gerussi, một giảng viên nổi tiếng hà khắc đã đồng ý nhận cô. Những người khác đã chia buồn với Gerussi: “Nếu anh muốn lãng phí thời gian, hãy làm vậy đi”. Olivero nhớ lại người thầy của mình từng quát lên với hay bàn tay nắm chặt: “Đây là lần cuối cùng em nói “Em không thể”. Những từ đó không được phép tồn tại. Nếu cần, tôi sẽ cho em chết để đạt được những gì tôi muốn! Hãy chết sau đó nếu em muốn, nhưng trước tiên em phải làm những gì tôi muốn”. Cho đến khi Gerussi qua đời, 8 năm sau khi Olivero bắt đầu sự nghiệp, cô vẫn gắn bó với ông, chắc chắn là người đã đặt nền móng quan trọng cho làn hơi vững chắc và một sự nghiệp kéo dài bất thường của cô.

Trên thực tế, Olivero từng nghi ngờ chính bản thân mình. Nhưng cuối cùng, sau sự dìu dắt của Gerussi, Olivero cũng đã có được vai diễn opera đầu tiên của mình với Lauretta trong Gianni Schicchi (Puccini) tại Teatro Vittorio Emanuele, Turin vào ngày 31/10/1933. Chỉ hai tháng sau, ngày 26/12, cô đã xuất hiện trên La Scala trong Anna (Nabucco, Verdi). Như Olivero kể lại, mezzo-soprano đàn chị Ebe Stignani, người cũng đóng trong Nabucco đã nói với cô: “Nếu cô muốn tồn tại trong môi trường này, cô tốt hơn hãy là một con điếm”. Một lời khuyên mà cô đã không thèm để tâm mà theo như Olivero, bản thân Stignani cũng không như vậy. Tullio Serafin đã khuyên Olivero hát những vai màu sắc thiên về bel canto như Adina (L’elisir d’amore), Lucia (Lucia di Lammermoor) của Gaetano Donizetti và Gilda (Rigoletto, Verdi) nhưng khí chất và sự mạnh mẽ của cô đã đưa cô đến với verismo của Mimì, Madama Butterfly (Madama Butterfly), Liù (Turandot) của Puccini hay Adriana Lecouvreur, vai diễn đã đưa cô trở thành huyền thoại mà Olivero lần đầu hát vào năm 1939. Năm 1938, Olivero có được bản thu âm opera hoàn chỉnh đầu tiên của mình trong phòng thu với Liù (cả cuộc đời Olivero chỉ có 2 bản thu âm như vậy). Cô đã có cơ hội làm việc trực tiếp với nhiều nhà soạn nhạc như Cilea, Pietro Mascagni, Franco Alfano hay Umberto Giordano và nhận được chỉ dẫn quý báu cũng như lòng ngưỡng mộ của họ. Đó là di sản của Olivero mà hầu hết những ngôi sao opera thời kỳ hậu chiến đều không thể nào có được. Trong tổng số 44 nhà soạn nhạc có vở opera được Olivero hát, 31 trong số đó vẫn còn sống khi cô bắt đầu khởi nghiệp).

Sau khi hát Adriana Lecouvreur tại Ravenna vào ngày 29/5/1941, Olivero đột ngột giã từ sự nghiệp và chỉ xuất hiện trong một vài chương trình hoà nhạc mang mục đích từ thiện. Bà kết hôn với nhà công nghiệp Aldo Busch. Olivero luôn khẳng định lý do chia tay ca hát không phát sinh từ nguyên nhân lập gia đình mà từ một việc ít lãng mạn hơn nhiều: bà đột nhiên cảm thấy ghét không khí ngột ngạt của nhà hát. Tuy nhiên, thực tế là sức khoẻ của Olivero thời kỳ này cũng rất không tốt, bà đã bị sảy thai hai lần. Mười năm sau, chính Cilea là người đã thuyết phục được Olivero trở lại sân khấu opera. Nhà soạn nhạc viết thư cho bà, trong đó khẳng định đó là “nghĩa vụ của Olivero đối với công chúng và nghệ thuật”. Cilea dành cho bà sự tôn trọng và ngưỡng mộ lớn lao nhất: “Cô là thông dịch viên lý tưởng của Adriana. Cô đã vượt xa những nốt nhạc. Cô đã hiểu những gì tôi cảm thấy khi sáng tác vở opera và đã hoà nhập vào tinh thần của Adriana như tôi đã cảm nhận nó”. Olivero xuất hiện trở lại trong Mimì vào ngày 20/1/1951 tại Teatro dell’Opera, Rome. Và bà đã hát Adriana Lecouvreur tại Brescia vào ngày 3/2/1951 trong buổi biểu diễn được lên kế hoạch từ trước để cố gắng thoả mãn ước muốn của Cilea được nghe Olivero hoá thân vào vở opera xuất sắc nhất của mình lần cuối trước khi ông qua đời. Tuy nhiên, thật đáng tiếc, Cilea đã mất vào tháng 11/1950, nhưng ông chính là chất xúc tác cho giai đoạn thứ hai đáng kinh ngạc trong sự nghiệp của Olivero, kéo dài thêm bốn thập kỷ. Mặc dù vẫn hát những vai như Manon (Manon, Jules Massenet) hay Violetta (La traviata, Verdi) nhưng từ lúc này cho đến khi thực sự chia tay ca hát, Olivero chủ yếu tập trung vào các vở opera verismo cũng như những tác phẩm hiện đại. Lúc này bà đã trở nên rất nổi tiếng và đi biểu diễn tại khắp những nhà hát tại Ý và châu Âu.

Trong suốt hai sự nghiệp của mình, Olivero hát trong khoảng 1.200 buổi biểu diễn với hơn 80 vai khác nhau, trong đó có 20 vở opera lần đầu tiên được ra mắt, một số lượng rất đáng kể. Tuy nhiên, Olivero luôn lẩn khuất ở phía sau những ánh hào quang rực rỡ nhất. Bà chỉ như một ca sĩ hạng hai. Không thu hút sự chú ý của giới truyền thông, không có những hợp đồng thu âm béo bở. Olivero cũng không xuất hiện nhiều tại những nhà hát hàng đầu. Bà chỉ có khoảng hơn 20 buổi biểu diễn tại La Scala, một lần duy nhất tại Vienna State Opera vào ngày 10/2/1965 trong Tosca (Tosca, Puccini) bên cạnh Nicolai Gedda và chưa một lần xuất hiện tại Covent Garden. Olivero cũng chỉ hát tại Metropolitan Opera trong 10 buổi, đều là với Tosca và lần đầu tiên khi đã 65 tuổi. Tất cả những điều này dường như xuất phát từ tính tình của bà hơn là năng lực. Olivero không quá hứng thú với những sự hào nhoáng. Bà dè dặt và tránh xa những nơi đông người sau khi tấm màn nhung buông xuống. Còn về mặt nghệ thuật, Olivero luôn nhận được những lời tán dương từ đồng nghiệp. Phong cách của bà gây ra sự hứng thú cao độ. Olivero hát với sự khoa trương và dữ dội nhất có thể nhưng luôn được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ. Bà có thói quen giữ những nốt nhạc nhẹ nhàng nhất trong một khoảng thời gian lâu nhất và sau đó bùng nổ với một đoạn crescendo nhanh. Giọng hát của Olivero có màu âm tối, làm tăng thêm sự tương phản khi sử dụng các nốt pianissimo và âm điệu đầy đặn của phần thấp nhất trong thang âm tạo nên một sự mẫu mực trong các vai verismo. Rất nhiều câu hỏi và giả thiết đã được đưa ra để thắc mắc về sự thiếu toả sáng của bà và khi được hỏi, Olivero chỉ đơn giản trả lời: “Tất cả đều hợp lý và tất cả đều ảnh hưởng đến cuộc sống nghề nghiệp của tôi, nhưng chủ yếu vai trò của tôi là hát bất kể ở đâu, bất kể cho ai. Trong những khoảnh khắc quyết định của cuộc đời, tôi luôn lắng nghe một giọng nói nhỏ bên trong nói với tôi rằng “bạn phải hát, bạn phải hát” và tôi luôn tuân theo với và sự khiêm tốn”. Với bà chỉ được hát và nhận được sự cổ vũ của khán giả đã là niềm hạnh phúc.

Olivero có màn ra mắt thành công ở Mỹ khi hát tại Dallas Opera vào năm 1967 trong Medea (Medea, Luigi Cherubini), một vở opera thế kỷ 18 khá xa lạ với danh mục thông thường của bà. Năm 1969, cùng Mario del Monaco và Tito Gobbi, bà thực hiện bản thu âm opera thứ hai và cũng là cuối cùng của mình trong Fedora (Giordano) cho Decca. Năm 1970, bà vào vai chính trong Manon Lescaut (Puccini) bên cạnh Plácido Domingo tại Verona, Ý. Cảnh sát đã phải vào cuộc để ngăn những người ái mộ bà tràn lên sân khấu. Dường như khán giả yêu thích Olivero hơn là những nhà phê bình. Công chúng thường có thói quen để cảm xúc dẫn dắt và Olivero, người thường xuyên cháy hết mình, mang tới những màn biểu diễn thăng hoa trên sân khấu dễ dàng chiếm được cảm tình của họ. Còn những nhà phê bình luôn có những nhận định mang tính lý trí và học thuật hơn. Họ thường đặt giọng hát dưới kính hiển vi để xem xét và ở đó, những khuyết điểm trong giọng hát của Olivero được phơi bày. Peter G. Davis đã nhận xét trên The Times: “Giọng hát của bà không hề đẹp theo tiêu chuẩn thông thường. Giọng rung quá chặt, âm ngực bị rỗng và đôi khi tạo ra những tiếng the thé ở âm khu cao. Đó là những phẩm chất mà bà phải điều chỉnh”. Và trong số các nhà phê bình, những người ở Mỹ dường như tỏ ra khắt khe hơn, họ nhận định những màn trình diễn của Olivero mang tính khoa trương và có gu thẩm mỹ tệ hại. Họ chế nhạo và so sánh bà với Florence Foster Jenkins “ca sĩ opera tệ nhất thế giới”. Bản thân Olivero cũng nhận ra những thiếu sót trong giọng hát của mình, bà đã tập luyện không ngừng nghỉ để sở hữu một kỹ thuật điêu luyện, khiến cho những lời ca được hát lên với một vẻ tự nhiên nhất và thêm vào đó là khả năng diễn xuất tuyệt vời để mỗi vai diễn là sự hoá thân hoàn hảo. Bà đã tự nhận xét: “Tôi chưa giờ có giọng hát. Những gì tôi có là biểu cảm, khuôn mặt, cơ thể, sự thật. Nếu ai đó thích điều ngược lại, đó là quyền của họ”.

Tháng 4/1975, khi Birgit Nilsson rút lui khỏi Tosca khiến Metropolitan Opera phải tìm người thay thế. Và dưới sự hối thúc của Marilyn Horne, ban giám đốc đã quyết định mời Olivero, người lúc này đã 65 tuổi. Horne là một người rất ngưỡng mộ Olivero: “Chị ấy thực tế đã dạy các bài học về ca hát và diễn xuất khi ở trên sân khấu. Thành thật mà nói, bạn có thể tìm hiểu thêm từ việc xem một buổi biểu diễn của Olivero hơn là đọc hầu hết các cuốn sách về chính những chủ đề đó”. Schuyler Chapin, tổng giám đốc của Metropolitan Opera đã viết trong hồi ký của mình rằng, trong các buổi tập luyện, Olivero đã khiến cho nhiều thành viên cấp cao của nhà hát “choáng váng trước nghệ thuật của bà”. Trong đêm diễn đầu tiên, ngày 3/4, khán giả đã la hét và cổ vũ cuồng nhiệt ngay khi bà xuất hiện trên sân khấu khiến nhạc trưởng Jan Behr phải tạm dừng chơi nhạc và chờ sự phấn khích lắng xuống. Sau đó, họ đã choáng ngợp trước màn trình diễn của Olivero. “Vissi d’arte” đã bị xen ngang với vô vàn những tiếng bravo. Khán giả đã gào lên gần như điên cuồng và dành tặng cho Olivero màn tung hô dài hơn 20 phút khi kết thúc đêm diễn, một sự kiện đã lâu chưa được xuất hiện tại nhà hát. Harold C. Schonberg dành cho Olivero những lời khen ngợi: “Người đã đưa ra một minh chứng cảm động về cách các ca sĩ vĩ đại trong quá khứ đã sử dụng để miêu tả Tosca… Đêm qua đã đi vào lịch sử khi giọng soprano, bất chấp tuổi tác, đã mang đến cho chúng ta một Tosca nữ tính, bốc lửa, hoàn toàn thuyết phục… Tất cả cá tính cần có của buổi biểu diễn đêm qua đã xuất hiện trên sân khấu trong con người Magda Olivero”. Nhưng Schonberg cũng không quên phê phán những khiếm khuyết trong giọng hát của bà: “Tất nhiên, có các lỗ hổng trong giọng hát và đôi khi cả những rắc rối về cao độ”. Và trong lần biểu diễn cuối cùng trong tổng số 3 buổi, vào ngày 18/4, khán giả tiến tới sát sân khấu để vỗ tay tán thưởng và tạm biệt bà. Để đáp lại, Olivero tiến tới và di chuyển trên gờ ngăn cách hàng ghế khán giả với hố nhạc để có thể chạm tay vào khán giả, bất chấp việc có thể rơi xuống hố nhạc bất cứ lúc nào. Với hành động này, Olivero đã cho thấy điều làm nên sự độc đáo của bà: hát và làm hài lòng khán giả. Bà còn xuất hiện tại Metropolitan Opera một lần nữa vào tháng 4/1979 và vẫn là trong Tosca.

Năm 1981, Olivero hát trong La voix humaine (Francis Poulenc) tại Verona và đó là lần xuất hiện cuối cùng của bà trên sân khấu opera. Bà vẫn tiếp tục xuất hiện trong những chương trình hoà nhạc, dù với tần suất ít hơn trước. Ngày 4/11/1991, bà hát tại Milan trong một chương trình có khán giả là Renata Tebaldi, người đã thốt lên “một bài học tuyệt vời về ca hát”. Không có bất kỳ một tuyên bố nào của Olivero về việc ngừng biểu diễn hoặc nghỉ hưu. Bà cũng tham gia việc giảng dạy cũng như xuất hiện với tư cách ban giám khảo tại các cuộc thi thanh nhạc. Năm 1993, bà thu âm một số trích đoạn trong Adriana Lecouvreur. Tháng 4/1999, ở tuổi 99, Olivero hát trích đoạn Paolo, datemi pace (Francesca da Rimini, Riccardo Zandonai) tại Palazzo Cusani, Milan khiến khán giả sửng sốt. Ngày 8/9/2014, Olivero qua đời ở Milan ở tuổi 104, khép lại cuộc đời của một soprano huyền thoại, một trong những ngôi sao opera có sự nghiệp dài nhất trong lịch sử. Trong tang lễ, nhiều người rơi nước mắt khi nghe lại giọng hát của bà trong Io son l’umile ancella (Adriana Lecouvreur) với những lời ca: “Tôi là người hầu khiêm tốn của tinh thần sáng tạo; Nó mang lại cho tôi những lời nói, mà tôi truyền đạt đến những trái tim khác”, đúng như những gì mà Olivero đã làm trong suốt cuộc đời mình. Bà được chôn cất tại Cimitero Monumentale di Milano, gần với Arturo Toscanini, Vladimir Horowitz và Franco Corelli.

Trong sự nghiệp ca hát, Olivero chia sẻ sân khấu với ba thế hệ các tenor: Beniamino Gigli và Tito Schipa trong thập niên 30, 40; del Monaco, Corelli, Giuseppe di Stefano, Carlo Bergonzi trong thập niên 50, 60 và Luciano Pavarotti, Domingo trong những năm 70. Bà là một nhân chứng lịch sử cho một thời đại vàng son của opera. Năm 1984, tạp chí và đài phát thanh Opera Fanatic, có trụ sở tại New York tổ chức hai cuộc bình chọn: soprano được yêu thích của nhất của thế kỷ và soprano được yêu thích nhất hiện tại. Olivero giành hạng 3 ở cuộc bình chọn đầu tiên, sau Maria Callas và Rosa Ponselle, giành hạng 2 ở cuộc bình chọn thứ hai sau Montserrat Caballé và là người duy nhất xếp hạng cao ở cả hai bảng, bất chấp việc bà không biểu diễn nhiều tại đây. Dưới góc độ nào đó, dù không sở hữu một giọng hát đẹp, khán giả vẫn rất say mê Olivero. Bởi vì như chính Olivero đã đánh giá: “Bản thân giọng hát chỉ chiếm 40% của một buổi biểu diễn. 60% còn lại bao gồm hàng nghìn chi tiết nhỏ”. Và Olivero là người khiến cho 60% còn lại trở nên hoàn hảo. Nghệ thuật ca hát của bà có thể vẫn còn gây ra nhiều tranh cãi nhưng chắc chắn, nó không thể khiến chúng ta thờ ơ.

Ngọc Tú tổng hợp