“Pierre Boulez đã khiến cho âm nhạc Pháp tỏa sáng trên toàn thế giới. Là một nhà soạn nhạc và nhạc trưởng, ông luôn muốn phản ánh các thời đại… Ông không bao giờ ngừng suy nghĩ về các chủ đề liên quan đến nhau; ông đã làm cho hội họa, thi ca, kiến trúc, điện ảnh và âm nhạc giao tiếp với nhau, luôn phục vụ một xã hội nhân văn hơn.” – François Hollande

Nhà soạn nhạc, nhạc trưởng người Pháp Pierre Boulez là một trong những nhân vật nổi tiếng nhất của nền âm nhạc cổ điển thế kỷ 20. Sự ủng hộ nhiệt thành của ông đối với âm nhạc đương đại đã khiến ông thu hút được một lượng lớn khán giả hâm mộ – và cả những lời gièm pha. Ông luôn coi tất cả công việc của mình là một chuỗi liên tục: “Âm nhạc luôn phát triển và không có gì cố định tuyệt đối và được xác định một cách cứng nhắc. Bạn có một sự tiến hoá không ngừng và bạn phải tham gia vào thời đại của mình”. Được coi là người khổng lồ cấp tiến của âm nhạc đương đại, Boulez luôn dấn thân vào các cuộc thập tự chinh để thúc đẩy những người yêu âm nhạc từ bỏ quá khứ và đón nhận những âm thanh, cấu trúc và kết cấu mới, như ông từng nói: “Lịch sử nên được tiếp thu và từ chối. Nếu bạn đắm mình trong thư viện, bạn sẽ không bao giờ có được cá tính riêng của mình”. Trong hơn 50 năm, Boulez đã sáng lập, điều hành và chỉ đạo các tổ chức âm nhạc hàng đầu thế giới ở cả châu Âu và Mỹ. Từng gây ra rất nhiều tranh cãi, nhưng bằng tài năng của mình, Boulez đã tạo dựng cho mình một vị thế được tôn trọng và đầy uy quyền tại các phòng hoà nhạc trên khắp thế giới.

Pierre Boulez sinh ngày 26/3/1925 tại thị trấn nhỏ Montbrison thuộc vùng Loire, phía đông của Pháp trong một gia đình Công giáo hoàn toàn không hoạt động nghệ thuật. Cha cậu bé, ông Léon, là một giám đốc kỹ thuật của một nhà máy thép. Khi lên bảy tuổi, Pierre được gia đình cho theo học tại Institut Victor de Laprade, một chủng viện Công giáo, nơi việc học tập và cầu nguyện kéo dài tới 13 giờ một ngày. Tuy nhiên, khi trưởng thành, Pierre đã chối bỏ Công giáo và trở thành một người bất khả tri vì cho rằng “thái độ máy móc hoàn toàn không liên quan gì đến niềm tin sâu sắc”. Hoàn cảnh gia đình khá giả, cậu bé đã được theo học piano, hát trong dàn hợp xướng của trường học và chơi hoà tấu thính phòng với các nghệ sĩ địa phương. Thể hiện năng khiếu về toán học, Pierre đã tốt nghiệp trung học sớm một năm và tham gia các lớp học về toán cao cấp tại Cours Sogno, Lyon từ năm 1941 với mong ước được nhận vào École Polytechnique, Paris. Ông Léon hy vọng điều này sẽ mang đến một tương lai tươi sáng cho con trai mình trong ngành kỹ thuật.

Tại Lyon, chàng trai trẻ Boulez lần đầu tiên được tiếp xúc với âm nhạc cổ điển một cách nghiêm túc, được xem dàn nhạc giao hưởng biểu diễn và tiếp xúc với những vở opera như Boris Godunov (Modest Mussorgsky) và Die meistersinger von Nürnberg (Richard Wagner). Boulez cũng có cơ hội gặp gỡ giọng nữ cao nổi tiếng Ninon Vallin và biểu diễn cho bà nghe. Ấn tượng với tài năng của anh, Vallin đã thuyết phục ông Léon để Boulez thi tuyển vào Nhạc viện Lyon. Mặc dù bị từ chối nhưng anh đã quyết tâm theo đuổi âm nhạc. Năm sau, bất chấp sự phản đối của cha mẹ, với sự ủng hộ của chị gái, Boulez đã theo học piano và hoà thanh với Lionel de Pachmann. Như Boulez sau này nhớ lại: “Cha mẹ rất mạnh mẽ, nhưng chúng tôi mạnh mẽ hơn”. Mùa thu năm 1943, anh chuyển đến Paris với hi vọng được vào học tại Nhạc viện Paris. Ông Léon đã đi cùng và chu cấp cho Boulez đến khi anh có thể tự kiếm sống.

Tháng 10/1943, Boulez thi trượt vào khoa piano của nhạc viện nhưng bù lại anh được nhận vào lớp hoà thanh dự bị của Georges Dandelot. Đến tháng 5/1944, Dandelot đã coi Boulez là người giỏi nhất trong lớp học. Từ tháng 4/1944 đến tháng 5/1946, Boulez học những bài học tư về đối âm với Andrée Vaurabourg, vợ của Arthur Honegger, người nhận xét về cậu học trò của mình “không bao giờ bỏ lỡ một bài học nào và không bao giờ đến muộn”. Và tháng 6/1944, Boulez lần đầu được gặp gỡ với Olivier Messiaen, một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất đến sự nghiệp của anh sau này. Trong nhật ký của mình, Messiaen đã viết về ấn tượng đầu tiên với chàng trai trẻ: “Thích âm nhạc hiện đại. Muốn học ngay hoà thanh với tôi”. Boulez đã được nhận vào lớp học của Messiaen từ tháng 1/1945. Ngay sau đó, Boulez được tham dự một buổi biểu diễn mang tính chất riêng tư bản ngũ tấu cho bộ hơi của Arnold Schoenberg, một trong những tác phẩm đầu tiên sử dụng hình thức 12 âm. Người chỉ huy hôm đó là René Leibowitz, một tín đồ của Schoenberg. Với Boulez, hình thức 12 âm khi đó là sự thiêng liêng và anh đã đứng ra tổ chức một lớp học và mời Leibowitz giảng dạy. Boulez cho biết: “Tôi đã phải tìm hiểu về thứ âm nhạc đó, để biết nó được tạo ra như thế nào. Đó là một sự mặc khải – một thứ âm nhạc cho thời đại chúng ta, một ngôn ngữ có khả năng không giới hạn. Không có ngôn ngữ nào khác là có thể. Đó là cuộc cách mạng triệt để nhất kể từ Monteverdi. Đột nhiên, tất cả những quan niệm quen thuộc của chúng tôi bị xóa bỏ. Âm nhạc đã chuyển ra khỏi thế giới của Newton và sang thế giới của Einstein”. Cũng tại đây, anh bắt đầu khám phá âm nhạc của Anton Webern. Tuy nhiên, Boulez sau đó thấy rằng Leibowitz quá giáo điều và họ chia tay nhau trong giận dữ vào năm 1946 khi Leibowitz chỉ trích một trong những tác phẩm đầu tay của Boulez.

Ngày 12/2/1946, lần đầu tiên các sáng tác của Boulez được giới thiệu khi nghệ sĩ piano Yvette Grimaud đã trình diễn Douze notations và Trois psalmodies tại Concerts du Triptyque. Để có thể theo đuổi âm nhạc, Boulez kiếm sống bằng cách dạy toán cho con chủ nhà, chơi nhạc cho các bộ phim và biểu diễn cùng các nhóm nhạc tại Paris. Cuối năm 1946, anh được mời làm giám đốc âm nhạc của Compagnie Renaud-Barrault, dàn nhạc được hai vợ chồng diễn viên Jean-Louis Barrault và Madeleine Renaud thành lập. Boulez đã nắm giữ vị trí này trong 9 năm. Tại đây, anh được yêu cầu chỉ huy những tác phẩm mà hầu như anh không thích, ví dụ như của Peter Ilyich Tchaikovsky và Darius Milhaud. Tuy nhiên, Boulez có cơ hội làm việc với những nhạc công chuyên nghiệp và đủ thời gian để dành cho việc sáng tác. Tầm nhìn của Boulez cũng được mở mang hơn khi cùng với dàn nhạc, anh đã thực hiện nhiều chuyến lưu diễn tại châu Âu và châu Mỹ. Boulez vẫn đều đặn sáng tác. Trong bản piano sonata số 2 được sáng tác vào năm 1948, anh đã tích hợp những con đường phát triển riêng biệt trong âm nhạc cho riêng mình: chủ nghĩa 12 âm của Schoenberg, những đổi mới về nhịp điệu của Igor Stravinsky và khái niệm mở rộng của Messiaen về âm điệu. Tháng 10/1951, một trong những tác phẩm quan trọng của anh, Polyphonie X dành cho 18 nhạc cụ, đã được trình diễn ở Lễ hội Donaueschingen nhưng vấp phải sự chê bai của khán giả, họ làm gián đoạn chương trình bằng cách liên tục huýt sáo và la ó. Cũng trong giai đoạn này, Boulez đã kết bạn với những nhà soạn nhạc đương đại có tầm ảnh hưởng lớn là John Cage và Karlheinz Stockhausen. Cuối năm 1951, trong chuyến lưu diễn tới New York, Boulez đã có cơ hội gặp gỡ với Stravinsky và Edgard Varèse.

Năm 1954, với sự hỗ trợ tài chính của Barrault và Renaud, Boulez bắt đầu một loạt các buổi hòa nhạc tại nhà hát Petit Marigny, được gọi là Domaine musical, tập trung vào các tác phẩm đầu thế kỷ 20 ít được biểu diễn ở Paris và âm nhạc đương đại. Boulez đã chứng tỏ mình là một nhà quản lý năng động và tài ba. Các buổi hoà nhạc đã thành công ngay lập tức. Chúng thu hút được sự chú ý lớn từ xã hội thượng lưu. Boulez cũng đặt hàng các sáng tác từ những nhà soạn nhạc danh tiếng. Oiseaux exotiques của Messiaen là một tác phẩm như vậy. Ngày 18/6/1955, Le Marteau sans maître, một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Boulez được Hans Rosbaud giới thiệu tại Liên hoan ISCM, Baden-Baden. Đây là một tập gồm 9 bài hát dành cho giọng contralto và nhóm nhạc cụ dựa trên thơ của René Char. William Glock, người phụ trách mảng âm nhạc của BBC đã miêu tả: “Ngay từ lần nghe đầu tiên, mặc dù khó tiếp thu, nhưng nó hoàn toàn mới về âm thanh, kết cấu và cảm giác, dường như nó sở hữu một phẩm chất thần thoại giống như Pierrot lunaire của Schoenberg”. Và khi Boulez giới thiệu tác phẩm tại Los Angeles vào đầu năm 1957, Stravinsky đã miêu tả đây là “một trong số ít những công trình quan trọng của thời kỳ khám phá sau chiến tranh”.

Năm 1959, Boulez tới Baden-Baden để trở thành nhà soạn nhạc cho South-West German Radio và thực hiện một số buổi hoà nhạc nhỏ. Ông tỏ ra rất yêu thích thành phố này và đã định cư tại đây. Bước đột phá trong sự nghiệp nhạc trưởng của Boulez xảy ra trong năm này khi ông thay thế Rosbaud tại các Liên hoan âm nhạc tại Aix-en-Provence và Donaueschingen trong các tác phẩm âm nhạc của thế kỷ 20. Điều này tiếp tục dẫn đến các màn ra mắt của ông tại Concertgebouw Orchestra, Bavarian Radio Symphony Orchestra và Berlin Philharmonic. Năm 1963, cùng Orchestre National de France, Boulez đã chỉ huy Lễ bái xuân (Stravinsky) nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ra đời tác phẩm tại Théâtre des Champs-Élysées, Paris. Cũng trong năm này, ông đã có buổi chỉ huy opera đầu tiên trong sự nghiệp với Wozzeck (Alban Berg) tại Opéra National de Paris và nhận được sự tán thưởng nhiệt liệt. Năm 1965, tại liên hoan Edinburgh, lần đầu tiên một chương trình quy mô lớn tôn vinh tài năng của Boulez ở cả cương vị nhà soạn nhạc và nhạc trưởng đã được diễn ra. Ggiám đốc của liên hoan Bayreuth, Wieland Wagner đã mời ông chỉ huy Parsifal (Wagner) vào năm 1966 và những năm sau đó. Năm 1967, Boulez cùng BBC Symphony Orchestra có chuyến lưu diễn đến Liên Xô. Ngày 1/12/1969, với Pelléas et Mélisande (Claude Debussy), Boulez đã có màn ra mắt tuyệt vời tại Covent Garden với sự kết hợp hoàn hảo giữa “sự tinh tế và lộng lẫy”.

Tháng 2/1969, Boulez trở thành nhạc trưởng khách mời chính của Cleveland Orchstra. Và sau khi George Szell qua đời vào ngày 30/7/1970, ông trở thành cố vấn âm nhạc cho dàn nhạc. Năm 1971, lần đầu tiên Boulez trở thành giám đốc âm nhạc của không chỉ một mà hai dàn nhạc danh tiếng: New York Philharmonic và BBC Symphony Orchestra. Bất chấp việc Glock khuyên ông rằng quản lý cả 2 dàn nhạc sẽ dẫn đến việc làm suy giảm chất lượng biểu diễn và thiếu hụt thời gian sáng tác nhưng Boulez không thể cưỡng lại việc “cải thiện khả năng sáng tạo âm nhạc tại hai thành phố lớn trên thế giới”. Nhiệm kỳ của ông tại New York không hoàn toàn là một thành công. Mặc dù tài năng âm nhạc của Boulez được các nhạc công ngưỡng mộ và trình độ biểu diễn của dàn nhạc được nâng cao nhưng việc lựa chọn các tác phẩm ít được biết đến cũng như chú trọng vào âm nhạc đương đại đã không thể thu hút được lượng lớn khán giả. Quan điểm nghệ thuật của Boulez, như ông từng nói: “Bạn không thực sự nghĩ đến việc tiếp cận khán giả. Bạn phải nghĩ trước tiên để thể hiện bản thân”. Ông cũng thiếu đi nhiệt huyết và sự thân thiện nếu như so sánh với Leonard Bernstein, người tiền nhiệm của Boulez. Sau khi chia tay New York Philharmonic vào năm 1977, ông chỉ quay trở lại cộng tác với dàn nhạc ba lần nữa. Mối quan hệ của Boulez với BBC Symphony Orchestra diễn ra vui vẻ hơn. Với sự hậu thuẫn của BBC, Boulez có thể thoải mái trong việc lựa chọn tác phẩm. Dù có đôi lần ghé qua âm nhạc thế kỷ 19 như Ludwig van Beethoven hay Johannes Brahms nhưng sự tập trung chủ yếu của Boulez vẫn là các sáng tác của thế kỷ 20. Ông hướng sự chú ý của người nghe vào những nhà soạn nhạc Anh ít nổi tiếng như Harrison Birtwistle và Peter Maxwell Davies trong khi lại bỏ qua Benjamin Britten và Michael Tippett. Mặc dù giã từ cương vị của mình với dàn nhạc vào năm 1975 nhưng ông vẫn thường xuyên quay trở lại cộng tác trên cương vị khách mời.

Boulez luôn được khen ngợi về những diễn giải đáng tin cậy của mình với sự chính xác cao độ đối với âm nhạc của trường phái Vienna thứ hai. Cùng với đó là các tác phẩm của Wagner, Debussy, Stravinsky, Bela Bartók, Maurice Ravel hay Gustav Mahler. Ông không thường xuyên biểu diễn âm nhạc quen thuộc của thời kỳ Baroque, Cổ điển hay Lãng mạn, nếu có chủ yếu chỉ là do những đòi hỏi từ phía ban giám đốc dàn nhạc. Điều này đã làm dấy lên nhiều tranh cãi, đặc biệt trong việc thu hút một lượng khán giả lớn đến với các buổi hoà nhạc. Sự lựa chọn của Boulez đã vấp phải một số phản đối từ khán giả, các nhà phê bình và thậm chí cả các nhạc công. Harold C. Schonberg đã viết trên New York Times, gọi Boulez là “một kỹ thuật viên trí óc của dàn nhạc, người có cách tiếp cận khoa học nhưng thiếu trái tim. Sở hữu một đôi tai đặc biệt thính nhạy, nhà phê bình Paul Griffiths từng cho biết: “Boulez có thể dễ dàng nhận ra tiếng oboe thứ ba lạc giọng trong một kết cấu dàn nhạc phức tạp”. Boulez cũng nổi tiếng với việc không sử dụng đũa chỉ huy. Với ông đôi bàn tay giúp cho việc giao tiếp với nhạc công cũng như tạo hình các tác phẩm trở nên dễ dàng hơn. Ông là người tổ chức các buổi “hoà nhạc thảm” cùng New York Philharmonic. Boulez cho dỡ hết tất cả các ghế ngồi trong khán phòng, thay thế bằng những tấm thảm và đệm. Trang trí mới được thiết kế để khuyến khích người xem dựa lưng hoặc nằm xuống và nghe nhạc trong một khung cảnh thoải mái. Boulez giải thích: “Có quá nhiều hình thức liên quan đến việc trình diễn âm nhạc của chúng tôi khiến khán giả khó có thể có được cảm xúc”. Dàn nhạc không ở trên sân khấu và có thể quan sát nhạc trưởng từ phía trước mặt. Boulez luôn muốn biến dàn nhạc trở thành một tổ chức linh hoạt và hiện đại hơn. Ông cũng thường xuyên tổ chức các “buổi tối thân mật” để nói chuyện, diễn tập và biểu diễn âm nhạc của thế kỷ 20. Rất nhiều bản thu âm của Boulez với những sáng tác này đã được thực hiện.

Từ năm 1970, tổng thống Pháp Georges Pompidou đã đề nghị Boulez thành lập một viện nghiên cứu âm nhạc. Năm 1977, Institute for Research and Coordina in Acoustics/Music (Viện nghiên cứu và điều phối âm học/ âm nhạc) – IRCAM được thành lập và do Boulez trực tiếp quản lý. IRCAM chịu trách nhiệm cung cấp các lớp đào tạo cho các nhà soạn nhạc về công nghệ âm nhạc và là một trung tâm văn hóa cho âm nhạc đương đại. Ensemble intercontemporain, một dàn nhạc gồm 31 nhạc công chuyên biểu diễn và quảng bá âm nhạc thính phòng đương đại được Boulez thành lập từ năm 1976 với sự hỗ trợ từ bộ Văn hoá Pháp và chính quyền Paris luôn phối hợp chặt chẽ với IRCAM trong việc biểu diễn và giáo dục âm nhạc: hoà nhạc cho trẻ em, hội thảo sáng tạo cho học sinh, chương trình đào tạo cho các nghệ sĩ biểu diễn trong tương lai, nhạc trưởng, nhà soạn nhạc. Trong những năm này, số lượng các sáng tác của Boulez gia tăng một cách đáng kể. Ông cũng sử dụng một số nhạc cụ điện tử và áp dụng công nghệ âm nhạc trong đó. Ở IRCAM, ông có thể tập trung vào việc khám phá và thử nghiệm mối quan hệ giữa các nhạc cụ và công nghệ. Điều mà Boulez muốn tạo ra không chỉ là bản sắc sáng tạo của riêng mình: Ông muốn giải phóng hoàn toàn âm thanh của âm nhạc thế giới.

Năm 1976, Boulez là nhạc trưởng trong các buổi biểu diễn tại liên hoan Bayreuth nhân dịp kỷ niệm 100 năm sự ra đời của Der ring des Nibelungen. Boulez vẫn tiếp tục công việc nhạc trưởng của mình với tư cách khách mời tại các dàn nhạc ở Mỹ và châu Âu. Ở cương vị này, ông được tự do lựa chọn các tác phẩm biểu diễn hơn. Boulez quan tâm nhiều hơn đến những bản giao hưởng của Mahler đồng thời thỉnh thoảng ghé thăm những lãnh thổ mà ông chưa từng đặt chân đến trước đó như Richard Strauss, Anton Bruckner hay Alexander Scriabin. Năm 1992, ông từ bỏ công việc quản lý tại IRCAM và tích cực hơn trong công việc nhạc trưởng, gắn bó chặt chẽ với Cleveland Orchestra và Chicaco Symphony Orchestra. Năm 1995, nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của mình, Boulez cùng London Symphony Orchestra đã thực hiện một chuyến lưu diễn kéo dài 6 tháng tại Paris, Vienna, New York, Tokyo, Amsterdam, Brussels và Chicago, trong đó có nhiều tác phẩm của chính ông. Boulez vẫn gắn bó với sân khấu opera với các vở Pelléas et MélisandeMoses und Aron (Schoenberg).

Năm 2004, Boulez cùng với Michael Haefliger sáng lập Lucerne Festival Academy, một học viện âm nhạc dành cho các nhạc công trẻ, chuyên biểu diễn âm nhạc của thế kỷ 20 và 21. Trong mười năm tiếp theo, ông luôn dành ba tuần cuối cùng của mùa hè để làm việc với các nhà soạn nhạc trẻ và chỉ huy các buổi hoà nhạc với dàn nhạc của Học viện. Năm 2006, Boulez sáng tác tác phẩm cuối cùng của mình Dérive 2 nhưng vẫn hoạt động với tư cách nhạc trưởng trong những năm tiếp theo. Từ năm 2010, ông xuất hiện trên sân khấu ít hơn sau một ca phẫu thuật mắt khiến thị lực suy giảm nghiêm trọng. Cùng với đó là chấn thương vai sau một cú ngã. Buổi biểu diễn cuối cùng của Boulez với tư cách nhạc trưởng diễn ra vào ngày 28/1/2012 cùng Vienna Philharmonic và Mitsuko Uchida tại Salzburg với các tác phẩm Begleitmusik zu einer Lichtspielszene và Piano concerto (Schoenberg), Piano concerto số 19 (Wolfgang Amadeus Mozart) và Pulcinella Suite (Stravinsky). Sau đó, Boulez huỷ bỏ toàn bộ các chương trình. Sức khoẻ đã ngăn cản Boulez tham gia nhiều lễ kỉ niệm nhân dịp sinh nhật lần thứ 90 của ông vào năm 2015. Boulez qua đời tại nhà riêng ở Baden-Baden vào ngày 5/1/2016 ở tuổi 90, để lại nhiều tác phẩm còn dang dở. Ông được chôn cất tại nghĩa trang chính của thành phố. Nhận được tin, Daniel Barenboim, người quen biết với Boulez từ năm 1964 và vẫn là một người ngưỡng mộ ông kể từ đó đã thốt lên: “Hôm nay, thế giới âm nhạc đã mất đi một trong những nhà soạn nhạc và nhạc trưởng quan trọng nhất. Cá nhân tôi đã mất một người đồng nghiệp tuyệt vời, một trí tuệ sáng tạo được ngưỡng mộ sâu sắc và một người bạn thân thiết”.

Với tư cách là nhà soạn nhạc, Boulez thuộc thế hệ những con người tài năng sinh ra giữa hai cuộc chiến tranh thế giới và nổi lên sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Với cương vị nhạc trưởng, Boulez là bậc thầy hiếm có đối thủ trong việc dàn dựng những tác phẩm đỉnh cao của thế kỷ 20. Trong cả cuộc đời của mình, Boulez không ngừng đấu tranh cho một thế giới âm nhạc đương đại và mới mẻ, luôn luôn tìm tòi khám phá và không bao giờ giới hạn bản thân, như ông từng thú nhận: “Bạn luôn phải nỗ lực. Nếu bạn là người rụt rè và không thích mạo hiểm, thì dù ý tưởng của bạn có hay đến đâu cũng không có gì xảy ra. Tôi ư, tôi không phải là một người nhút nhát”. Là một người có cá tính mạnh mẽ, ông luôn luôn đối đầu, thậm chí là gay gắt với những gì mà Boulez cho rằng không phù hợp. Vô cùng kín tiếng về cuộc sống riêng tư nhưng Boulez là một trong những nhạc trưởng dễ tính và vui vẻ nhất trong việc trả lời phỏng vấn của báo chí về những vấn đề liên quan đến âm nhạc đương đại, không ngần ngại bộc lộ quan điểm của mình, dù đó là những lời chỉ trích nặng nề đối với đồng nghiệp. Luôn sở hữu một phong thái đĩnh đạc và tự tin, Boulez là người đi trước thời đại.

Ngọc Tú tổng hợp