Thông tin chung

Tác giả: Mily Balakirev.
Thời gian sáng tác: Từ 21/8/1869-25/9/1869. Balakirev đã sửa chữa lại tác phẩm vào năm 1902.
Công diễn lần đầu: Nikolai Rubinstein biểu diễn tại Saint Petersburg vào ngày 12/12/1869.
Độ dài: Khoảng 9 phút.

Hoàn cảnh sáng tác

Vào cuối thế kỷ 19, khi nước Nga bắt đầu tìm thấy tiếng nói âm nhạc của riêng mình, những nhà soạn nhạc tại đây đã tận dụng sự rộng lớn và văn hóa đa dạng của đất nước để giới thiệu một số khu vực xa xôi, còn ít được biết đến với thế giới thông qua âm nhạc. Chúng ta không hề gặp bất cứ khăn nào trong việc tìm ra một số ví dụ minh hoạ. Có thể kể đến Ruslan và Lyudmila (Glinka); các vở ballet Hồ thiên ngaKẹp hạt dẻ (Tchaikovsky) hay Scheherazade của Rimsky-Korsakov là những tác phẩm tiêu biểu mà trong đó dấu ấn của âm nhạc phương Đông được thể hiện rõ nét.
Balakirev, thủ lĩnh của nhóm Hùng mạnh là người luôn đau đáu trong mình một khát vọng xây dựng một nền âm nhạc Nga độc đáo và bộc lộ được cảm xúc của dân tộc. Từng được gặp gỡ với Glinka, Balakirev có chung quan điểm với ông, nền âm nhạc dân gian Nga phong phú là nguồn cảm hứng vô tận để xây dựng nên những gì là tinh tuý, là chắt lọc nhất của nền âm nhạc cổ điển Nga. Để có thể có thêm được nhiều chất liệu cho việc sáng tác, năm 1860, Balakirev đã có một chuyến hành trình đi dọc sông Volga, tới tận vùng Caucasus để ghi chép lại những giai điệu âm nhạc dân gian mà sau này ông đã sử dụng rất nhiều trong các tác phẩm của mình. Khu vực gồ ghề và hoang sơ này nằm ở giữa châu Âu và châu Á, giữa biển Đen và biển Caspi. Được biết đến với sự đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa đặc biệt, đây là nơi sinh sống của hơn 50 nhóm dân tộc và sở hữu ít nhất 3 ngôn ngữ đặc trưng chỉ có tại đây. Chính tại dãy núi Caucasus hùng vĩ, sự kết hợp giữa vẻ đẹp thiên nhiên và âm nhạc nơi đây đã giúp Balakirev sáng tác nên tác phẩm có lẽ là nổi tiếng nhất của mình: Islamey, hay bản Fantasie phương Đông.
Trong bức thư gửi cho người bạn Eduard Reiss, Balakirev miêu tả khung cảnh khiến ông sáng tác nên tác phẩm này: “Vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đầy màu sắc và cuộc sống hoà hợp của cư dân nơi đây, tất cả những điều này đã cùng nhau tạo nên ấn tượng sâu sắc trong tôi. Vì thích thú với những bài hát ở đây, tôi đã làm quen với một hoàng tử của xứ Circassia, người thường xuyên đến thăm và chơi cho tôi nghe những giai điệu dân gian trên nhạc cụ của anh ấy, trông giống như một cây violin. Một trong số chúng, được gọi là Islamey, là một điệu nhảy, khiến tôi hài lòng một cách lạ thường và với sự hài lòng trong tâm trí của mình và Tamara, tôi bắt đầu sắp xếp nó cho piano độc tấu. Chủ đề thứ hai đến với tôi ở Moscow từ một ca sĩ Armenia, người đến từ Crimea và anh ta chắc chắn với tôi rằng nó rất nổi tiếng trong cộng đồng người Tatar ở Crimea”.
Trái với thói quen mất nhiều năm để hoàn thành một tác phẩm, Balakirev đã hoàn thành Islamey trong khoảng thời gian từ ngày 21/8 đến 25/9/1869. Điều bất thường này xảy ra vì ông phải có một tác phẩm để Nikolai Rubinstein biểu diễn vào ngày 12/12/1869 tại Trường Âm nhạc Tự do, Saint Petersburg do chính Balakirev sáng lập. Islamey không phải là một tác phẩm dài và nó có cấu trúc tương đối đơn giản gồm 3 phần riêng biệt, được kết nối liền mạch với nhau:
Phần mở đầu – Allegro agitato bao gồm phần trình bày và phát triển chủ đề chính, được lấy từ giai điệu khiêu vũ Islamey mà Balakirev đã nghe được từ hoàng tử của xứ Circassia. Phần trung tâm – Tranquillo – Andantino espressivo là giai điệu mà Balakirev nghe được từ baritone người Armenia Konstantin de Lazari tại nhà của Tchaikovsky vào mùa hè năm 1869. Phần thứ ba – Allegro vivo – Presto furioso là sự tái hiện đa dạng các chủ đề trong phần mở đầu, kết thúc tác phẩm bằng một coda rực rỡ.

Độ khó của Islamey

Islamey nổi tiếng là một trong những bản nhạc khó biểu diễn nhất. Rubinstein, được coi là nghệ sĩ piano tài năng nhất nước Nga lúc bấy giờ thú nhận rằng ông đã phải vật lộn với tác phẩm và nghĩ rằng nó khó tới mức “ít ai có thể làm chủ được”. Scriabin đã khiến bàn tay phải của mình bị bị tổn thương nghiêm trọng khi điên cuồng luyện tập sáng tác này và Maurice Ravel nhận xét rằng mục tiêu của ông khi sáng tác Gaspard de la nuit là để tạo ra một tác phẩm “khó hơn Islamey”. Islamey có một ý nghĩa quan trọng trong lịch sử âm nhạc Nga vì đây là tác phẩm đầu tiên của một nhà soạn nhạc Nga được thường xuyên biểu diễn tại những phòng hoà nhạc ở châu Âu khi Liszt tỏ ra rất yêu thích nó và luôn đưa Islamey vào các chương trình của mình.
Nhận thấy sự khó khăn về mặt kỹ thuật có thể là rào cản cho việc Islamey không được thường xuyên biểu diễn, năm 1902, Balakirev đã sửa chữa lại tác phẩm, đưa vào đó một số đoạn ossia (thuật ngữ âm nhạc để chỉ một đoạn thay thế có thể được chơi thay cho đoạn gốc) để đơn giản hoá bản nhạc. Bỏ qua sự xuất sắc về kỹ thuật, Islamey trước hết là nỗ lực cho việc tạo ra phong cách âm nhạc đặc trưng của một quốc gia. Balakirev cho biết: “Tôi không có chương trình trong đầu khi tôi sáng tác tác phẩm … Nó hẳn là sự độc đáo của chủ đề đầu tiên và ấn tượng sâu sắc của tôi về Caucasus được phản ánh trong đó, điều đó làm cho sáng tác của tôi có hương vị đặc biệt và đã thu hút sự chú ý của Liszt vĩ đại. Điều này có lẽ giải thích tại sao, như tôi nghe nói, nó rất phổ biến ở nước ngoài, trong khi người ta không bao giờ có cơ hội nghe nó ở đây, ở nước Nga”. Tuy nhiên, dường như Balakirev đã nhầm lẫn. Những chất liệu từ Islamey đã được Borodin đưa vào trong Prince Igor còn Rimsky-Korsakov cũng làm điều tương tự đối với Scheherazade. Bỏ qua những thách thức kỹ thuật to lớn của tác phẩm, Balakirev đã tạo ra một tác phẩm âm nhạc có thể đồng hành lâu dài với nhận thức và sự thức tỉnh đang phát triển về âm nhạc của nước Nga. Islamey không đơn giản thuần tuý là một thách thức về mặt kỹ thuật. Nó nằm trong số những đỉnh cao của các tác phẩm thời kỳ Lãng mạn dành cho piano độc tấu và được coi là một đóng góp đáng kể vào chủ nghĩa dân tộc âm nhạc thế kỷ 19 ở Nga. Những bản chuyển soạn Islamey cho dàn nhạc của Alfredo Casella và đặc biệt là Sergei Lyapunov cũng góp phần mở rộng phạm vi tiếp cận của tác phẩm tới đông đảo công chúng hơn.
Ngọc Tú (Tổng hợp)
Nguồn: